PHÒNG GD&ĐT PHÙ CỪ
TRUNG TÂM GDTX PHÙ CỪ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN NĂM HỌC 2014 – 2015
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Thị Thảo
Sinh ngày: 28/10/1984
Tổ chuyên môn: Nghề - Chuyên đề
Năm vào ngành giáo dục: 2009
Nhiệm vụ được giao trong năm học: Dạy nghề nông nghiệp, tổ phó tổ dạy nghề
chuyên đề, ban chấp hành công đoàn.
PHẦN I: CÁC CĂN CỨ HOÀN THÀNH BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG
THƯỜNG XUYÊN
- Căn cứ thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 07 năm 2012 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên
giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và giáo dục thường xuyên
- Căn cứ kế hoạch của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi về việc Bồi
dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và giáo dục
thường xuyên năm học 2014 - 2015.
- Căn cứ kế hoạch của Phòng Giáo dục và Đào tạo Sơn Tịnh về việc bồi dưỡng
thường xuyên giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và giáo dục thường
xuyên năm học 2014 - 2015.
- Căn cứ kế hoạch của Trung tâm GDTX Phù Cừ về việc bồi dưỡng thường
xuyên giáo viên năm học 2014 - 2015.
- Căn cứ kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của bản thân năm học 2014-2015,
tôi xin báo cáo kết quả bồi dưỡng thường xuyên như sau:
PHẦN II: KẾT QUẢ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN:
MODULE GDTX 3 : ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC THƯỜNG
XUYÊN
Qua thời gian tự học tôi đã nắm được những vấn đề sau:
học tập còn là thanh thiếu niên nhập cư, không có hộ khẩu nên phải học tại các
trung tâm giáo dục thường xuyên.
- Những người đã và đang công tác muốn học thêm đề hoàn thiện kiến thức, chuẩn
hóa, và nâng cao năng lực đề làm tốt hơn công việc hoặc học nghề đề tìm kiếm việc
làm có thu nhập cao hơn.
Từ 2000 đến nay, số học viên theo học các chuơng trình giáo dục thường xuyên khác
nhau tăng lên một cách đáng kể, đặc biệt khi mạng lưới các trung tâm học tập cộng đồng
xã/phường/thị trấn phát triển rộng khắp trong cả nước.
Đặc biệt từ 2000 đến nay, hằng năm giáo dục thường xuyên đã mở nhiều lớp bổ
túc THCS cho khoảng 150.000- 200.000 học viên và đã góp phần tích cực trong việc
phổ cập giáo dục THCS. Học viên bổ túc THCS tăng từ năm 2000 đến năm 2005, sau
đó bất đầu có xu thế giảm. Ngược lai, học viên bổ túc THPT có xu thế tăng trong
những năm cuối và sẽ tăng mạnh hơn sau 2010 để góp phần phổ cập giáo dục bậc
THPT.
Cùng với sụ phát triển nhanh chóng và rộng khắp mô hình trung tâm học tập
cộng đồng cấp xã/phường/thị trấn, giáo dục thường xuyên đã tạo cơ hội cho đông đảo
người lao động được tiếp tục học tập, đào tạo lại, được bồi dưỡng ngắn hạn, định kì và
thường xuyên theo các chương trình giáo dục, các chương trình kĩ năng nghề nghiệp
phù hợp với nhu cầu nâng cao năng suất lao động, nâng thu nhập và chuyển đổi
nghề nghiệp, sổ lượt người đuợc học các chuyên đề ờ các trung tâm học lập cộng
đồng tăng đột biến, tù 200.000 lượt người (năm học 2000- 2001) lên tới 12.780.540
lượt người (năm học 2003 - 2000), tăng hơn 60 lần.
Ngoài ra, hằng năm, giáo dục thường xuyên đã tổ chức cho hàng triệu lượt học
viên theo học các lớp ngoại ngữ, tin học ứng dụng và số luợng học viên năm học
2007- 2003 tăng hơn 4 lần so với năm học 2000- 2001.
Với sổ liệu thống kê kể trên, cho thấy xu hướng chung là quy mô giáo dục
thường xuyên ở các tỉnh ngày càng phát triển. Giáo dục thường xuyên đã tạo cơ hội
cho nhiều người dân được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, bằng nhiều hình
thức phong phú, đa dạng, theo các nội dung khác nhau để nâng cao dân trí, góp phần
đào tạo đội ngũ cán bộ và lực lượng lao động có văn hoá, có chuyên môn, tham gia
chương trình lấy văn bằng chứng chỉ cũng có nhiều khó khăn nhất là vừa làm vừa học.
3.2. Phân tích năng lực nhận thức của các nhóm đối tượng học giáo dục thường
xuyên.
Mục đích học tập của hai loại đối tượng ở các trung tâm giáo dục thường xuyên có
khác nhau:
- Đối với những thanh niên/thiếu niên, hầu hết đều có mục đích tìm kiếm cơ hội để tiếp
tục học lên bậc cao hơn (mặc dù các điều kiện học tập không mấy thuận lợi), để xin đi
học nghề kiếm việc làm, đề đi làm hoặc tham gia lao động sản xuất.
- Đổi với những người lao động lớn tuổi, mục đích học tập chủ yếu là để làm tổt hơn
công việc đang làm, để chuyển đổi công việc có thu nhâp cao hơn, đề đáp ứng yêu cầu
chuẩn hoá đội ngũ cán bộ và một sổ người có mục đích tạo cơ hội để tiếp tục học lên
bậc học cao hơn bằng phuơng thức không chính quy (tại chức hoặc tự học, học từ
xa ).
Khảo sát về động cơ, nhu cầu học tập của các loại đổi tượng giáo dục thường
xuyên, có 80,5% sổ cán bộ quản lí giáo dục và giáo viên cho rằng động cơ, nhu cầu
của học viên khi đến giáo dục thường xuyên là có thay đổi trong tương lai. Đối với đối
tượng là những thanh niên/thiếu niên, hầu hết đều có mục đích tìm kiếm cơ hội để tiếp
tục học lên bậc cao hơn hoặc đề lấy bằng cấp, vì vậy tỉ lệ loại đối tượng này chiếm ưu
thế hơn (70%) nhưng từ sau 2010 đến 2020, khi mà đối tượng chủ yếu của giáo dục
thường xuyên là những người lao động lớn tuổi mục đích học tập chủ yếu của họ là để
làm tổt hơn công việc đang làm, để chuyển đổi công việc có thu nhập cao hơn hoặc để
bổ sung, hoàn thiện kiến thức chiếm đến 60%.
Khi được hỏi các loại chương trình của giáo dục thường xuyên cần được cấp văn bằng,
chứng chỉ của hệ thống giáo dục chính quy hay hệ thống giáo dục thường xuyên thì
hầu hết đều trả lời dùng bằng của giáo dục thường xuyén. Chương trình giáo dục tiểu
học lấy chứng chỉ, chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS, cấp THPT lấy bằng
tốt nghiệp giáo dục thường xuyên. Chỉ riêng có chương trình giáo dục đại học vừa làm
vừa học thì yêu cầu lấy bằng tốt nghiệp chính quy. Đây là một thực tế đòi hỏi khi phải
đi xin việc làm của người học và các cơ quan tuyển dụng lao động đòi phải có bằng tổt
nghiệp đại học hệ chính quy. Nếu có thể thay đổi chính sách tuyển dụng lao động là
+Tổ chức dạy và thực hành kĩ thuật nghề nghiệp, các hoạt động khác phục vụ học tập.
* Các chương trình giáo dục trong TT GDTX được chia thành các nhóm như sau:
+ Nhóm chương trình giáo dục để cấp văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc
dân:vd chương trình GDTX cấp THCS, cấp THPT.
+ Nhóm chương trình học tập không dẫn tới cấp bằng, chứng chỉ: Xóa mù chữ, các
chương trình chuyển giao khoa học kĩ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
…
* Tính đặc thù của chương trình giáo dục: Các chương trình đều được thực hiện trên
phương châm nâng cao tính thực hành trên cơ sở khai thác kinh nghiệm thực tiễn của
người học.Vì vậy công tác khai thác thông tin trên internet phục vụ bài giảng là một
trong các nội dung công tác của giáo viên tt gdtx nhằm quản lí, cố vấn, giúp đỡ các lớp
học tổ chức các hoạt động học tập, rèn luyên.
* Các hình thức học tập tại trung tâm gdtx gồm: Vừa học vừa làm, học từ xa, tự học có
hướng dẫn.Vì vậy việc khai thác xử lí thông tin phục vụ bài giảng ở trung tâm gdtx là
rất quan trọng và cần thiết.
Nội dung 2: Một số nội dung cơ bản , cần thiết trong công tác khai thác, xử lí thông tin
phục vụ bài giảng đối với trung tâm GDTX.
- Trong quá trình dạy học bao gồm nhiều nội dung ta có thể khai thác, xử lí thông tin
theo từng nội dung cụ thể ví dụ như:
Trong một bài giảng giới thiêu về nghề làm vườn chúng ta có thể khai thác thông tin
qua các nội dung sau:
+ Mục tiêu bài giảng
+ Phương pháp dạy
+ Phương tiện dạy học
+ Các hoạt động diễn ra trong bài giảng
+ Kiểm tra đánh giá.
+ Ngoài ra chúng ta còn có thế khai thác các ví dụ các mô hình vượn trên thực tế, các
hình ảnh sinh động phục vụ bài giảng
Lưu ý: Với mỗi bài giảng phần nội dung khai thác là rất phong phú và đa dạng tuy
nhiên chúng ta phải tìm được nguồn thông tin đáng tin cậy.Kết hợp với trình độ hiểu
quả vừa chăn gà, vịt… mô hình vườn cây ăn quả ở miền nam, mô hình vườn chè ở đồi
núi….
Từ các mô hình trên giáo viên cho học viên thảo luận để tìm hiếu về các sản phẩm tạo
ra tự vườn từ đó học viên có thể nói lên vai trò của vườn và hạch toán được nguồn thu
từ nghề làm vườn…
Bên cạnh đó giáo viên khai thác các số liệu về giá trị kinh tế của vườn tạp và vượn đã
được cải tạo để học viên tiện so sánh và đánh giá vai trò của nghề làm vườn…
Cung cấp cho học viên thông tin về các địa phương có nghề làm vườn phổ biến hiện
nay…
Từ các thông tin được giáo viên khai thác, qua xử lí có thể trở thành phương tiện dạy
học tích cực giúp học viên tiếp thu bài giảng dễ dàng và khả năng ghi nhớ lâu hơn.
4. Nội dung 4: Phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học có ứng dụng khai thác, xử
lí thông tin phục vụ bài giảng phù hợp với từng đối tượng, điều kiện học tập trong
trung tâm GDTX.
- Đối với trung tâm GDTX giáo viên cần nắm chắc khả năng nhận thức của học sinh
.Từ đó xây dựng chương trình và nội dung học cho phù hợp.
- Với đối tượng học sinh GDTX học sinh nhận thức chậm. vì vậy khi xây dựng các bài
giảng cho đối tượng này giáo viên cần chọn lọc nội dung kiến thức đơn giản, cơ bản để
học sinh nắm được nội dung bài.Tránh tham kiến thức để học sinh rối.
- Khi thiết kế các bài giảng điện tử giáo viên không nên đưa các nội dung phức tạp, bên
cạnh nội dung của bài giáo viên kết hợp các kiến thức thực tế mà giáo viên khai thác
được trên mạng internet giúp học sinh dễ hiểu bài và hiểu bài dễ hơn.
5. Nội dung 5: Phương pháp đánh giá và sử dụng kết quả của công tác khai thác xử lí
thông tin phục vụ bài giảng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đối với
học viên trung tâm GDTX.
- Qua các bài giảng có khai thác lí thông tin phục vụ bài giảng giáo viên cần có phương
pháp kiểm tra đánh giá các nội dung đã học từ đó đánh giá được khả năng nhận thức
của học viên từ đó điều chỉnh các nội dung kiến thức mà giáo viên cần cung cấp cho
học viên trong các nội dung tiếp theo.
MODUL 28: Nội dung và kỹ năng tư vấn cho trung tâm học tập
qua thư.
- Tư vấn qua hội thảo, thảo luận: là hình thức người tư vấn trao đổi với nhiều đối tượng
cần tư vấn qua việc tổ chức hội thảo hay các buổi thảo luận về một vấn đề gì đó.
- Tư vấn qua mạng: người tư vấn trao đổi với đối tượng cần tư vấn thông qua thư điện
tử, chat…
II. Nội dung 2: Đối tượng và nội dung cần tư vấn ở trung tâm học tập cộng đồng.
1. Đối tượng cần tư vấn ở trung tâm học tập cộng đồng.
- Nhóm đối tượng là các lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương các cấp: Là đối tượng
lãnh đạo của các trung tâm học tập cộng đồng. Họ có quyền quyết định chủ trương
chính sách đối với trung tâm học tập cộng đồng, họ quyết định sự phối hợp của các tổ
chức đoàn thể và định hướng sự hoạt động cũng như vai trò của các tổ chức này với
trung tâm học tập cộng đồng.
- Nhóm đối tượng là các cán bộ ở các ban nghành, đoàn thể: Là các đại diện của các tổ
chức quần chúng, các chương trình, dự án. Đây là lực lượng quan trọng trong việc
tham gia, hỗ trợ sự hoạt động của TTHTCĐ.
2. Nội dung cần tư vấn cho trung tâm học tập cộng đồng.
2.1. Xác định một số nội dung cần tư vấn cho trung tâm học tập cộng đồng.
- Những vấn đề cơ bản về gdtx, về trung tâm học tập cộng đồng.
- Quản lí và chỉ đạo trung tâm htcđ, liên kết đào tạo, huy động nguồn lực cho trung tâm
học tập cộng đồng.
- Đặc điểm của học viên người lớn, phương pháp, kĩ thuật dạy đối tượng học viên
người lớn về kĩ năng, khả năng thực hành khi được trang bị đầy đủ kiến thức phần lí
thuyết.
2.1. Lựa chọn nội dung tư vấn phù hợp với đối tượng cần tư vấn tại trung tâm htcđ.
Cần chia rõ các nhóm đối tượng để lựa chọn nôi dung cụ thể phù hợp với từng
đối tượng.
- Nhóm đối tượng là các lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương các cấp.
- Nhóm đối tượng là các cán bộ quản lí, lãnh đạo trung tâm htcđ.
III .Nội dung 3: Những kĩ năng và công việc cần thiết để tổ chức tư vấn có hiệu
quả trung tâm học tập cộng đồng.