Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trước xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu đã và đang diễn ra rất
mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành
viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới( WTO). Điều này đã đặt các doanh
nghiệp Việt Nam trước một thử thách to lớn, với những cạnh tranh ngày càng khốc
liệt hơn trong nền kinh tế thị trường.Sự cạnh tranh này không chỉ diễn ra giữa các
doanh nghiệp trong nước mà áp lực lớn hơn từ phía các tập đoàn kinh tế, các doanh
nghiệp nước ngoài. Vì vậy, để đứng vững trên thương trường, nhu cầu thông tin cho
quản lý đối với các doanh nghiệp là vô cùng quan trọng và được quan tâm đặc biệt.
Kế toán, với tư cách là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ
quản lý kinh tế - tài chính, là một kênh thông tin hữu ích, có vai trò không thể thiếu
trong quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh doanh. Thông tin mà kế
toán cung cấp không chỉ cần thiết cho bản thân các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp hay gián tiếp
đến lợi ích của doanh nghiệp.
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển
Trường Sơn cùng với sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn : PGS.TS
Nguyễn Minh Phương và các anh chị trong phòng kế toán của công ty cổ phần đầu
tư xây dựng và phát triển Trường Sơn em đã nắm bắt được phần nào tình hình thực
tế công tác kế toán và cách thức tổ chức bộ máy quản lý của công Ty.
Nội dung của phần báo cáo tổng hợp này ngoài phần mở đầu và kết luận còn
có những nội dung sau:
Phần I: Tổng quan về hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây
dựng và phát triển Trường sơn
Phần II: Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của công ty cổ phần đầu tư xây
dựng và phát triển Trường sơn
Phần III: Đánh giá về kinh doanh và tổ chức công tác kế toán của công ty cổ
phần đầu tư xây dựng và phát triển Trường sơn
Mặc dù em đã cố gắng rất nhiều, nhưng do thời gian có hạn và khả năng vận
dụng ý luận cũng như thực tiễn của bản thân còn hạn chế nên bản báo cáo tổng hợp
AND CỎNSTRUCTION INVESTMENT JONT STOCK COMPANY
Trụ sở giao dịch: Số 82 Mai Hắc Đế - Hai Bà Trưng- Hà Nội
Điện thoại:043.7633.400
Sau gần 10 năm hoạt động, Công ty Đầu tư XD & PT Trường Sơn ngày một
trưởng thành và phát triển gắn liền với sự phát triển, đổi mới của đất nước trong
lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng. Từ khi thành lập, Công ty vừa làm thầu phụ cho
các Công ty khác đồng thời trực tiếp tham gia đấu thầu thi công các công trình. Vốn
điều lệ của công ty là 9.500.000.000 đồng
Chức năng, nhiệm vụ của Công Ty
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển Trường Sơn có tổ chức bộ máy hoạt
động riêng, hạch toán quyết toán độc lập tự liên hệ đấu thầu xây dựng riêng.
Công ty có đủ tư cách pháp nhân đăng ký kinh doanh để thi công các công trình
giao thông, thủy lợi, các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng. Công ty được tập hợp bởi một
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
3
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân, cán bộ quản lý lâu năm trong nghề, giàu kinh nghiệm
để quản lý chỉ đạo thi công, kiểm tra kỹ thuật đạt chất lượng và hiệu quả cao. Công ty có
trang thiết bị hiện đại đáp ứng yêu cầu chất lượng cao, tiến độ nhanh.Với các chức năng,
nhiệm vụ chính là:
- Xây dựng các công trình giao thông thủy lợi, đường xá, trường học, khu
công nghiệp, cầu cống…
- Lập hồ sơ mời thầu, tư vấn đấu thầu, lập dự toán đầu tư và các dự toán
cho các dự án xây dựng.
- Kinh doanh xây dựng, phát triển nhà,
- Đại lý mua bán ký gửi hàng hóa.
- Khai thác sản xuất vật liệu kinh doanh.
1.2. Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư
xây dựng và phát triển Trường Sơn
Những ngày đầu thành lập, công ty gặp rất nhiều khó khăn do năng lự cũng
phẩm của ngành. Vì vậy, Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây
lắp có những đặc điểm cơ bản sau:
2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng
và phát triển Trường Sơn
2.1.Đặc điểm tổ chức sản xuất.
Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ Phần Đầu tư XD & PT
Trường Sơn ngoài những đặc điểm chung của nghành xây dựng còn mang một đặc
điểm riêng như sau :
Việc tổ chức sản xuất tại Công ty thực hiện theo phương thức khoán gọn các
công trình hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc cho đơn vị trực thuộc
(đội). Trong giá khoán gọn bao gồm tiền lương, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ thi
công, chi phí chung của toàn bộ phận khoán gọn
Các đội trực thuộc được Công ty cho phép thành lập bộ phận quản lý, được dùng
lực lượng sản xuất của đơn vị hoặc có thể thuê ngoài nhưng phải đảm bảo tiến độ thi công,
an toàn, chất lượng. Phải thực hiện nghĩa vụ nộp các khoản chi phí cấp trên, thuế các loại,
làm tròn nghĩa vụ từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình sản xuất thi công. Công ty quy
định mức trích nộp đối với các đội thi công tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng đội đặc
điểm của công trình, hạng mục công trình mà đội đó thi công.
Các đội đều không có tư cách pháp nhân mà chỉ Công ty có tư cách pháp
nhân. Công ty đảm nhiệm mọi quan hệ đối ngoại với các ban nghành và cơ quan
cấp trên. Giữa các đội có quan hệ mật thiết với nhau, phụ trợ và bổ sung giúp đỡ lẫn
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
5
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
nhau trong quá trình hoạt động. Để hoạt động các đội được Công ty giao một số vốn
nhất định gắn với trách nhiệm phải bảo toàn và phát triển vốn.
2.2.Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:
Do hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nên sản phẩm của Công ty là các công
trình, hạng mục công trình mang tính đơn chiếc, quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian
thi công kéo dài, diễn ra liên tục qua nhiều giai đoạn khác nhau. Tuỳ vào đặc điểm riêng
+ Duyệt quyết toán công trình hoàn thành : Công ty tiến hành quyết toán
công trình từ đó có báo cáo cụ thể về chất lượng ,doanh thu và một số yếu tố khác.
+ Thanh lý hợp đồng giao nhận công trình : Công ty và bên giao thầu sẽ tiến
hành thanh lý hợp đồng .
Chính vì tính đơn chiếc cho nên có những công trình nhìn bề ngoài có hình
khối kiến trúc tương tự giống nhau nhưng về mặt thiết kế kỹ thuật, kết cấu công
trình, tổ chức và biện pháp thi công, chi phí đầu tư và xây dựng lại hoàn toàn khác
nhau vì vậy không thể đồng nhất như các loại sản phẩm công nghiệp khác . Mỗi sản
phẩm là công trình hoặc hạng mục công trình có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời
gian thi công dài, vì vậy việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp nhất
thiết phải lập dự toán và trong suốt quá trình thi công xây lắp phải so sánh với dự
toán, lấy dự toán làm thước đo.
Sản phẩm xây lắp không thuộc đối tượng lưu thông, sản phẩm được đặt tại
một địa điểm cố định, nơi sản xuất đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm. Hơn nữa
phần lớn công việc xây dựng được tiến hành ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp
của điều kiện môi trường tự nhiên tại nơi thi công, đặc điểm này đòi hỏi việc tổ
chức bảo quản vật tư, máy móc thiết bị phải phù hợp với từng điều kiện và địa điểm
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
7
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
xây dựng công trình sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế dự
toán ban đầu.
Tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ ràng, nói cách
khác tác động của yếu tố thị trường bị hạn chế vì giá trị công trình, hạng mục công
trình được xác định theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu
thầu) ; trong khi đó chi phí sản xuất lại rất phong phú và đa dạng, bao gồm chi phí
cho nhiều chủng loại nguyên vật liệu, sử dụng nhiều loại máy móc thiết bị thi công,
sử dụng nhiều loại thợ theo những ngành nghề và trình độ tay nghề khác nhau. Vì
vậy muốn tổ chức tốt công tác kế toán, đặc biệt là công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm thì những người có liên quan đến công tác kế toán cần
đốc trong quá trình sản xuất
- Xây dựng kế hoạch sản xuất và kinh doanh trong từng thời kì cụ thể
- Triển khai thực hiện kế hoạch
- Ký kết hợp đồng lao động với cán bộ công nhân viên của công ty
- Ký kết các hợp đồng kinh tế trong và ngoài nước
• phó giám đốc làm nhiệm vụ chỉ đạo một số bộ phận theo sự uỷ quyền của
giám đốc.
• Phòng kế toán tài chính có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh số hiện có và tình
hình luân chuyển, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, kiểm tra quá trình sản xuất kinh
doanh, quá trình sử dụng kinh phí cũng như kế hoạch kinh doanh, kế hoạch thu chi
tài chính của công ty và các đơn vị trực thuộc.
• Phòng kế hoạch đầu tư giúp lãnh đạo công ty quản lý xây dựng, theo dõi
tiến độ thi công các công trình, lên kế hoạch chuẩn bị và tổ chức thực hiện các dự
án.
• Các đội có nhiệm vụ tư vấn xây dựng và thi công các công trình của công
ty và các công trình khác khi công ty trúng thầu . Các đội trực tiếp sản xuất ,thi
công các công trình dưới sự chỉ đạo của ban giám đốc và các phòng ban liên quan .
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
9
Phßng Tµi
chÝnh kÕ to¸n
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
Mỗi một tổ đội có một tổ trưởng có chức năng đôn đốc và phụ trách về công việc
của tổ đội ,và một phó phụ trách về kỹ thuật của tổ đội .Các tổ đội thi công từ 1 đến
5 trực tiếp sản xuất thi công dưới sự chỉ đạo của ban giám đốc và phòng ban liên
quan .
Năm 2010 và 2011 là năm Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của khủng
hoảng tài chính toàn cầu,nền kinh tế thế giới bị suy thoái đang trên đà phục hồi
chậm, bên cạnh diễn biến phức tạp của giá cả trong nước đã ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nói chung và ngành xây dựng nói
Nợ phải trả 179.678.514.747 190.834.590.612 +11.156.075.900 14,9
Vốn chủ sở hữu 12.585.400.273 14.239.531.642 +1.654.131.370 11,04
Vốn đầu tư ban
đầu của chủ
sở hữu
9.500.000.000 9.500.000.000 0 0
Nhìn vào bảng trên ta thấy, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trong hai năm
tăng cao.Cụ thể năm 2010 tăng 3.085.400.273 VNĐ, tương ứng tăng13,2 %; năm
2011 tăng 4.739.531.642 VNĐ, tương ứng tăng 14,9%. Tổng nguồn vốn năm 2011
so với năm 2010 cũng tăng khá mạnh 19.869.957.470 VNĐ tương ứng tăng
11,04%. Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng trưởng tổng nguồn vốn ta còn phải xem xét
mối quan hệ giữa tổng nguồn vốn với các khoản nợ phải trả. Tình hình tài chính của
doanh nghiệp có ổn định hay không phụ thuộc rất nhiều vào hệ số nợ và khả năng
thanh toán của doanh nghiệp đó. Thông qua bảng trên ta thấy nợ phải trả của Công
ty trong hai năm vừa qua đều tăng (tốc độ tăng lần lượt là 4,12% và 6,21%) và
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp (94% vào năm
2010; 89,96% vào năm 2011). Điều này cho thấy tình hình tài chính của Công ty
không ổn định, phụ thuộc nhiều vào bên ngoài. Yêu cầu đặt ra cho Công ty là phải
quản lý và sử dụng tốt vốn vay, tránh thất thoát lãng phí.
Vậy qua số liệu phân tích trên ta có thể thấy được doanh nghiệp có đủ và
thừa khả năng thanh toán, khi đó tình hình của doanh nghiệp khả quan, tác động
tích cực đến hoạt động kinh doanh.
Bảng 1-4 : Sự tăng trưởng của Công ty qua 2 năm gần đây
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 So sánh
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
11
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
(VNĐ) (VNĐ)
Chênh lệnh
2011 > năm 2010 là 320.197.514 đồng, tương ứng tốc độ tăng là 19,87 %. Chứng
tỏ, công ty đã có tốc độ tăng trưởng nhanh và hiệu quả kinh doanh cao.
Để thấy rõ hơn nữa tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, ta xét đến
các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty qua 2 năm như sau :
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế và lãi vay
+)Tỷ suất sinh lời = X100
Của vốn(ROI) Tổng vốn bình quân
1.765.985.834
ROI(2010)= X 100 = 0,98
179.678.514.747
2.083.863.284
ROI(2011)= X 100 = 1,03
202.703.893.755
Qua sự phân tích chỉ tiêu ROI của doanh nghiệp ta thấy : ROI(2011) >
ROI(2010) là 1,03 – 0,98 = 0,05. Như vậy có thể thấy doanh nghiệp đã sử dụng vốn
qua từng năm một cách có hiệu quả và đó cũng chính là nhân tố hấp dẫn doanh
nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh. Bởi thông qua chỉ tiêu này thể hiện rõ bản
chất và hiệu quả thực sự của 1 đồng vốn sử dụng trong kinh doanh.
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
13
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
+) Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ( ROE)
Lợi nhuận sau thuế
ROE = X 100
Vốn chủ sở hữu bình quân
1.931.659.588
ROE (2011) = X 100 = 14,4
13.412.465.960
Qua chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp. Đó là nhân
năm 2010
(Chênh lệch)
1. Số vòng quay của tài sản( vòng) 5,3 6,9 +1,6
2. Tỷ suất sinh lời của tài sản(%) 23,45 26,12 +2,67
3. Suất hao phí của tài sản so với DTT 1,97 1,71 -0,26
4. Suất hao phí của tài sản so vớiLNST 11,6 10,4 -1,2
Qua số liệu trên ta thấy tình hình tài chính của Công ty Cổ phần đầu tư xây
dựng và phát triển Trường Sơn tương đối tốt. Cụ thể: Số vòng quay của tái sản năm
2011 cao hơn năm 2010 là 1,6 vòng, chứng tỏ các tài sản vận động nhanh đó là
nhân tố góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lời
của tài sản năm 2011 cao hơn năm 2010 là 2,67 %, chứng tỏ hiệu quả sử dụng các
tài sản tăng. Mặt khác chỉ tiêu này cả 2 năm đều tương đối cao và cao hơn nhiều so
với lãi suất tiền vay ngân hàng hiện nay, như vậy chứng tỏ công ty có thể vay thêm
tiền để đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhằm góp phần tăng trưởng cho công ty.
Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần năm 2011 thấp hơn năm 2010 là
0,26, điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tốt. Suất hao phí của tài sản so với
lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 thấp hơn so với năm 2010 là
1,2, điều đó chứng tỏ khi công ty muốn một mức lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh
nghiệp năm nay bằng năm trước thì cần đầu tư tài sản ít hơn thì lợi nhuận sau thuế
thu nhập doanh nghiệp năm nay lại cao hơn năm trước.
Tổng quan lại qua các chỉ tiêu phân tích trên thì nguyên nhân dẫn đến sự
chênh lệch tăng này là do tổng tài sản bình quân của công ty năm 2011 tăng so với
năm 2010 là lợi nhuận trước thuế và lãi vay năm 2011 cao hơn năm 2010, điều này
cho thấy tình hình tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp ngày càng có tiến
triển tốt và hiệu quả trong việc sử dụng vốn, tài sản, vốn chủ sở hữu, và hiệu quả sử
dụng chi phí.
Mặt khác, ngoài nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự tăng trưởng và nhịp độ
phát triển tăng ổn định của doanh nghiệp trong năm 2011 so với năm 2010 còn do
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
15
một hướng đi riêng, phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp là chìa khoá để
mở ra cánh cửa của sự phát triển lâu dài và bền vững. Trong những năm gần đây,
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
16
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
Công ty thường xuyên trúng thầu các công trình lớn, luôn hoàn thành vượt mức
nhiệm vụ. Nhìn lại chặng đường vừa qua với những thành tựu không nhỏ mà Công
ty đạt được đã khẳng định phần nào sự đúng đắn trong cách thức quản lý cũng như
mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty.
Như đã biết, trong hoạt động xây dựng, thời gian thi công của các công trình
thường là kéo dài, việc nghiệm thu bàn giao được thực hiện từng phần và tại Việt
Nam hiện nay việc giải ngân vốn thường chậm, quá trình hoàn tất hồ sơn thi công
cũng như thống nhất phê duyệt quyết toán giữa chủ đầu tư và nhà thầu thường mất
nhiều thời gian. Bên cạnh đó hầu hết các dự án lớn sử dụng vốn ngân sách nhà nước
đều yêu cầu tiến độ thi công rất gấp trong khi hồ sơ khảo sát, hồ sơ thiết kế, dự án
chưa được thẩm định, phê duyệt chậm công tác, thi công quyết toán gây khó khăn
cho nhà thầu trong việc thu hồi vốn cũng như vay vốn ngân hàng. Mặt khác, các
yếu tố Nguyên vật liệu( sắt, thép, xi măng ) chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành.
Những biến động về giá nguyên vật liệu sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, khả
năng sinh lời của công ty, đó cũng chính là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
hoạt động kinh doanh của công ty.
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới, đòi hỏi công ty phải nhạy
bén trong việc nắm bắt các công nghệ mới, tiếp thu có chọn lọc để phù hợp với xu
thế của thị trường. Bên cạnh đó, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành
nghề ngày càng gia tăng, đối thủ cạnh tranh với công ty ngày càng nhiều.
Với tình hình khả quan và dấu hiệu tích cực trong việc kinh doanh và hiệu
ứng tốt trong việc xây dựng thương hiệu, ta có thể khái quát xu hướng hoạt động
kinh doanh trong những năm tới của C«ng Ty Cæ PhÇn §Çu t XD & PT Trêng S¬n
qua tiêu chí sau :
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
dựng thương hiệu qua chất lượng các công trình, đảm bảo tiến độ thi công các công
trình, tạo bước chuyển mình mới trong việc quản lý, cũng như đào tạo nguồn nhân
lực cả về chiều sâu lẫn chuyên môn. Mở rộng vùng hoạt động kinh doanh, lan rộng
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
18
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
ra các đơn vị, tỉnh thành khác, mạnh dạn triển khai tham gia công tác đấu thầu trực
tiếp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thu hút
nguồn vốn tiềm năng, phấn đấu thực hiện khối lượng công việc với quy mô lớn,
nâng cao hiệu quả công tác quản lý và xây dựng hình ảnh đội ngũ cán bộ công nhân
viên trong công ty, đưa công ty đi vào hoạt động một cách chuyên nghiệp hơn. Từ
đó tạo dựng vị thế trên thị trường, nâng cao hiệu quả cũng như lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
19
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG SƠN
Do doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nên bộ máy kế toán của công ty là
tập trung . Hình thức này có ưu điểm là đảm bảo sự thống nhất tập trung thống nhất
đối với công tác kế toán trong doanh nghiệp, cung cấp thông tin kịp thời, thuận lợi
cho việc phân công, chuyên môn hóa cán bộ kế toán, cơ giới hóa công tác kế toán.
Bên cạnh đó nó cũng tồn tại nhược điểm là hạn chế việc kiểm tra, kiểm soát các
hoạt động sản xuất kinh doanh ở đơn vị phụ thuộc, luân chuyển chứng từ và ghi sổ
kế toán thường bị chậm. Vì vậy, để cụ thể hơn ta xét một số đặc điểm chủ yếu sau :
2.1 : Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và
phát triển Trường Sơn
Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty là địa bàn
hoạt động không tập chung, tuy nhiên để đảm bảo tập chung thống nhất, hiệu quả
công viêc cũng như sự điều hành của Kế toán trưởng mà Công ty áp dụng hình thức
thực hiện các hợp đồng kinh tế để cấp phát và thu hồi vốn kịp thời; chịu trách nhiệm
chính trong việc lập báo cáo tài chính, báo cáo quản trị, công khai tài chính theo chế
độ hiện hành.
• Kế toán tiền mặt và tài sản cố định: Có nhiệm vụ kiểm tra và làm thủ
tục thanh toán đúng chế độ tài chính, kiểm kê quỹ theo định kỳ, theo dõi tiền mặt,
tiền gửi tại Ngân hàng và các khoản tiền vay, giao dịch với các Ngân hàng, lưu giữ
và quản lý chứng từ gốc, theo dõi tài sản cố định đang sử dụng ở các bộ phận trong
Công ty; lập thẻ tài sản cố định theo dõi từng nhóm danh mục tài sản cố định của
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
21
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
Công ty; trích khấu hao tài sản cố định; đánh giá lại tài sản cố định theo kỳ và yêu
cầu đột xuất của cấp trên. .
• Kế toán công nợ và hàng tồn kho: Theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn
kho vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hoá, theo dõi tình hình thanh toán của công ty
với khách hàng và các nhà cung cấp từ đó xác định được số nợ còn phải thu cũng
như số nợ còn phải trả của từng đối tượng.
• Kế toán quỹ và bảo hiểm xã hội: hàng ngày thực hiện kế toán thu chi
tiền mặt tại quỹ; kế toán các khoản phải thu của người lao động trong Công ty như
BHXH, BHYT, KPCĐ, lập quyết toán BHXH, BHYT với cơ quan bảo hiểm; lưu
giữ hồ sơ, quản lý hồ sơ chứng từ kế toán đang lưu giữ tại phòng Tài chính – Kế
toán.
• Kế toán ngân hàng và thuế: Có nhiệm vụ tiến hành các nghiệp vụ giao
dịch với ngân hàng và thực hiện kê khai thuế đầu vào, đầu ra; theo dõi thuế hàng
tháng và các khoản thuế phải nộp Ngân sách Nhà nước.
• Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm: Có nhiệm vụ tổng
hợp, theo dõi chi phí sản xuất, xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm. Cuối kỳ, tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm, lập bảng và
báo cáo giá thành.
• Kế toán đội: Có nhiệm vụ thu thập, phân loại và tổng hợp chứng từ, cập
+) Công ty sử dụng đơn vị tiền tệ là VNĐ để ghi chép và không sử dụng đơn
vị ngoại tệ trong ghi chép kế toán
+) Niên độ kế toán quy định từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 hàng
năm
+) Phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên.
+) Phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
+) Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%
+) Hệ thống kế toán công ty sử dụng để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm chủ yếu là các tài khoản : 621; 622; 623; 627; 154 Các tài khoản
này được mở chi tiết cho từng công trình. Ngoài ra công ty còn sử dụng một số tài
khoản khác như: 632; 641; 331;
Hệ thống tài khoản là xương sống của toàn bộ hệ thống kế toán. Hầu hết mọi
thông tin kế toán đều phản ánh trên các tài khoản. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống tài
khoản sẽ quyết định đến toàn bộ khả năng sử lý và khai thác thông tin tiếp theo. Điều này
càng đúng trong việc sử lý số liệu kế toán trên máy.
Hệ thống tài khoản của doanh nghiệp được xây dựng trên hệ thống tài khoản
ban hành theo quyết định số 48/2006 QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng Bộ
SVTH: Nguyễn Thị Bưởi Lớp : KT2 – K11
23
Báo cáo tổng hợp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
tài chính. Tuy nhiên, để phản ánh được toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình Công ty đã mở thêm các tiểu khoản trên cơ sở hệ thống tài khoản sườn sẵn có.
Tổ chức hệ thống tiểu khoản phụ thuộc vào hai yếu tố:
-Thứ nhất, phụ thuộc vào các yêu cầu quản lý do doanh nghiệp đặt ra.
-Thứ hai, phụ thuộc vào phương án tổ chức và khai thác thông tin phần mềm
kế toán được sử dụng.
Hệ thống sổ sách kế toán sử dụng : Với hình thức kế toán nhật ký chung, hệ
thông sổ sách của công ty sử dụng gồm có : sổ NKC, sổ cái, thẻ kế toán chi tiết, các
báo cáo tài chính và các báo cáo quản trị quy định .Hàng ngày căn cứ vào các chứng