Lời m ở đ ầ u
Học sinh là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
XHCN đây là lực lợng luôn luôn nhận đợc sự quan tâm không chỉ của gia đình, nhà
trờng mà còn là của Đảng và Nhà nớc. Chính bởi lẽ đó cho nên việc tìm chọn và bồi
dỡng học sinh nhằm đào tạo thành những chuyên gia giỏi, những kỹ s tài ba đó là
điều không chỉ của riêng môn học nào, bậc học nào trong nền giáo dục nớc nhà.
Vậy làm thế nào để chuyên gia , những kỹ s kia không chỉ giỏi về chuyên môn
nghiệp vụ mà còn phải sống có ớc mơ, hoài bão, lý tởng CNXH?Đó là vấn đề đặt ra
mang tầm chiến lợc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với môn học GDCD.
Trong phạm vi bài viết này tôi chỉ hy vọng sẽ đem đến một vài suy nghĩ nhỏ từ
việc tìm chọn và bồi dỡng học sinh giỏi môn GDCD qua Bài 1 tiết 2 lớp 10.Với thời
gian và năng lực có hạn, chắc chắn bài viết sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót,
do vậy tôi rất mong sẽ nhận đợc sự góp ý của các Thầy Cô và các đồng nghiệp để
bài viết của tôi đợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân trọng cảm ơn.
Vĩnh Lộc, ngày 18 tháng 5 năm 2006
Tác giả
Lê Thị Hờng
Mục lục
A- Đặt vấn đề
I. Lời nói đầu.
II. Thực trạng của vấn đề tìm chọn và bồi dỡng học sinh giỏi môn GDCD qua bài 1 Bài
1 tiết 2 mục II SGK lớp 10
1. Thực trạng.
2. Kết quả.
B. Giải quyết vấn đề.
I. Giải pháp tìm chọn và bồi dỡng đối với học sinh giỏi qua tiết 2 Bài 1 môn
GDCD lớp 10
1. Đối tợng tìm chọn và bồi dỡng học sinh giỏi môn GDCD.
2. Giải pháp thực hiện tìm chọn và bồi dỡng đối với giáo viên.
quan đến hàng loạt vấn đề nhậy cảm của đời sống xã hội. Nhất là trong tình hình
hiện nay, trớc những biến động sâu sắc trên thế giới, đặc biệt là sau sự kiện Liên Xô
và các nớc Đông Âu sụp đổ, khi CNXH lâm vào tình trạng thoái trào, phong trào
cách mạng trên thế giới gặp nhiều khó khăn thì trong thanh niên học sinh đã xuất
hiện một bộ phận hoang mang dao động, thậm chí bị khủng hoảng về lý tởng sống
mất phơng hớng, sống buông thả, hết lời ca ngợi CNTB họ chỉ trích phê phán
CNXH. Nhiều ngời thờ ơ với hoạt động chính trị, họ lao vào kiếm tiền để phục vụ
cho lối sống thực dụng, bởi vậy họ đề cao các giá trị vật chất và các công cụ phục vụ
cho việc tạo ra các giá trị vật chất. Nh lao vào học các môn phục vụ cho thi vào các
trờng đại học, xem thờng các môn học khác đặc biệt là môn GDCD vì theo họ đó là
môn mà ai cũng biết rồi nói mãi. Đối với bộ phận này các giá trị văn hoá tinh
thần chỉ là thứ xem cho vui tai- hay mắt, họ có cái nhìn lệch lạc với các giá trị
truyền thống. Theo số liệu điều tra ở trờng PTTH Vĩnh Lộc thì số học sinh theo học
các môn khoa học tự nhiên chiếm tới 84%, số còn lại 16% theo học các môn xã hội,
và do vậy môn học GDCD dù quan trọng song học sinh cũng chỉ học nhằm mục đích
đối phó là chủ yếu. Do vậy để học sinh hứng thú học môn GDCD đã là khó cha nói
đến việc tìm ra đợc những học sinh giỏi .
Trớc tình trạng trên đã đặt ra cho tôi vấn đề là phải làm thế nào để bồi dỡng đợc
học sinh giỏi môn GDCD ở trờng trung học phổ thông?
Phạm vi của vấn đề rất rộng do đó tôi chỉ giới hạn trong quá trình dạy môn
GDCD lớp 10- Bài 1: tính vật chất của thế giới tiết 2 mục II: ý thức là
sự phản ánh của vật chất vào bộ óc con ngời.
II. Thực trạng của vấn đề tìm chọn và bồi d ỡng học sinh giỏi môn GDCD qua
tiết 2 bài 1.
1. Thực trạng:
Trong suốt những năm qua, đợc sự quan tâm của Đảng đối với nghành giáo dục,
nhiều thanh niên học sinh đã phát huy tính chủ động tích cực trên mọi lĩnh vực, đã
3
không ít những học sinh đạt các thứ bậc cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quôc gia
và quốc tế đem lại niềm vinh dự t hào cho đất nớc.
đó nếu phải lựa chọn giữa môn GDCD và các môn khác để thi các em sẵn sàng bỏ
qua môn GDCD, nếu có thi thì cũng thái độ miễn cỡng nên sự đầu t không lớn vì vậy
mà chất lợng giải thấp.
- Thứ hai: Xuất phát từ giáo viên: Để có học sinh giỏi đơng nhiên phải có thầy
dạy giỏi, thầy dạy giỏi môn GDCD không chỉ nắm vững kiến thức xã hội, những kiến
thức tự nhiên mà còn là những ngời theo dõi kịp thời những biến động thời sự để
phân tích và đặc biệt phải là ngời biết quan sát cuộc sống nhạy cảm một cách tinh tế
trên cơ sở đó ngời dạymôn GDCD truyền đạt cho học sinh không những hiểu những
đơn vị kiến thức cơ bản mà còn từ đó biết phân tích để rút ra những bài học cho bản
thân. Muốn vậy, cũng nh các môn học khác đòi hỏi giáo viên môn GDCD
4
phải thực sự tâm huyết với nghề , tích cực học hỏi , đầu t để nâng trình độ tay nghề.
Song thực tế trong cơ chế thị tròng hiện nay bất kỳ trờng học nào cũng đều có sự
phân hoá rõ rệt trong cán bộ giáo viên, một bộ phận có trình độ tay nghề cao dạy ở
các môn thi đại học nhờ dạy thêm mà họ thu nhập ngoài lơng khá cao để đảm bảo
các nhu cầu vật chất tiện nghi , sinh hoạt khá đầy đủ, trong khi đó một bộ phận giáo
viên khác do đặc điểm bộ môn không thuộc khối thi nào nh kỹ thuật, GDCD thì khá
chật vật với đồng lơng trong khi giá cả leo thang Do đó mà dù có tâm huyết với
nghề bao nhiêu đi chăng nữa thì tâm lý ngại học, ngại thi của học sinh phần nào
khiến họ thất vọng cộng thêm sự chật vât trong cuộc sống khiến một bộ phận không
nhỏ phải tìm thêm nghề tay trái .
Thực trạng giáo viên đến lớp với tình trạng mệt mỏi , giáo án sơ sài để đối phó
với một số nơi, một số buổi đã diễn ra . Nh vậy để có học sinh giỏi giáo viên phải có
phơng pháp dạy tốt , phù với từng đối tợng , từng chơng, từng bài. Trong khi đó giáo
viên lại thiếu sự quan tâm đầu t cho nên học sinh giỏi vốn đã ít lại càng khó đạt số l-
ợng và chất lợng cao.
- Thứ ba: Xuất phát từ cán bộ quản lý giáo dục: Bộ môn GDCD với đặc trng
hình thành thế giới quan và phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác
2. Kết quả :
Từ những thực trạng chung của vấn đề bồi dỡng học sinh giỏi nói trên cũng nh từ
thực tế bài giảng ở Tiết 2- Bài 1- ý thức là phản ánh vật chất vào đầu óc con ngời, tôi
nhận thấy, sau bài giảng nhìn chung đa số học sinh đều có thể phần nào học đợc bài
từ những nội dung vừa học. Song, thực chất để bồi dỡng học sinh giỏi qua bài này
cha thể thực hiện đợc. Do đó để quá trình bồi dỡng học sinh giỏi qua một tiết học cụ
thể đợc hiệu quả hơn tôi mạnh dạn cải tiến nội dung và phong pháp dạy.
B. giải quyết vấn đề
I. Các giải pháp thực hiện tìm chọn bồi d ỡng học sinh giỏi quaTiết 2 Bài 1
môn GDCD lớp 10
1. Đối t ợng tìm chọn bồi d ỡng học sinh giỏi môn GDCD : Đây là vấn đề tơng
đối khó bởi lẽ trong phân phối chơng trình môn GDCD lớp 10 chỉ có 1 tuần 1 tiết
học nên dung lợng thời gian để giáo viên tiếp xúc với học sinh cha nhiều, khối lợng
kiến thức cha lớn, vả lại học sinh học sinh mới chuyển cấp từ các trờng THCS lên
nhiều em còn rụt dè cha dám bộc lộ hết khả năng của mình cho nên để lựa chọn đợc
đối tợng bồi dỡng không phải là dễ. Ngoài việc tìm hiểu quá trình học tập của các
em ở THCS thì điều quan trọng hơn cả là giáo viên môn GDCD phải biết phát hiện
các em qua việc đa ra những câu hỏi khó trong quá trình giảng bài cũng nh khi ra đề
kiểm tra.
Cũng nh phần lớn các học sinh giỏi ở các môn . Môn GDCD cũng đòi hỏi đối t-
ợng là các em chăm chỉ, cần cù trong học bài cũ , biết tập trung suy nghĩ, biết phân
tích và tổng hợp dợc vấn đề. Nhìn chung các em này thờng có t duy mạch lạc, lập
luận chặt chẽ, mạnh dạn, tự tin, hứng thú chủ động với các câu hỏi có vấn đề của
giáo viên.
2. Giải pháp thực hiện đối với giáo viên :
Sau khi đã lựa chọn đợc đối tợng để bồi dỡng điều quan trọng hơn cả là giáo
viên phải có phơng pháp bồi dỡng sao cho phù hợp tránh chỉ bồi dỡng học sinh giỏi
bỏ qua các đối tợng khác. Do vậy giải pháp đầu tiên là giáo viên phải nghiên cứu kỹ
Bài 1 ở tất cả các nội dung . Đây là bài hình thành thế giới quan và phơng pháp luận
duy vật biện chứng cho học sinh về thế giới do vậy kiến thức cơ bản còn liên quan
Thông thờng phần này giáo viên thờng đi từ kiểm tra bài cũ và trên cơ sở đó mà
đặt vấn đề cho bài giảng một cách linh hoạt sao cho vừa củng cố kiến thức cũ vừa gợi
mở những vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Sau đây là một số cách đặt vấn đề cho phần
này.
- Cách 1: Nh chúng ta đã biết , thế giới vật chất bao la và vô cùng vô tận, có
những thứ vô cùng lớn nhng có những thứ vô cùng bé , có những thứ mà chúng ta có
thể cảm nhận đợc bằng các giác quan mà triết gọi đó là vật chất, song có những thứ
chỉ tồn tại trong ý nghĩ triết học gọi những thứ chỉ tồn tại trong ý nghĩ là gì? ( cho
học sinh pháp biểu) giáo viên tóm tắt và khẳng định đó là ý thức. Vậy ý thức là
gì?
Nội dung và điều kiện hình thành ý thức ra sao? Mối quan giữa vật chất và ý thức
nh thế nào?
- Cách 2: Nh chúng ta đã biết vấn đề cơ bản của triết học gồm có hai mặt. Triết
học duy vật biện chứng đã giải quyết vấn đề vật chất là gì? Các thuộc tính của vật
chất . Để tiếp tục làm rõ vấn đề cơ bản của triết học, hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục
tìm hiểu phạm trù thứ hai của thế giới đó là ý thức. Vậy ý thức là gì? Bản chất nội
dung hình thành của ý thức ra sao? Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nh thế nào?
2. Nội dung bài giảng :
Mục 1: Nội dung và điều kiện hình thành ý thức.
Nếu sử dụng tài liệu hớng dẫn giảng dạy cho giáo viên ở mục này sẽ có một số
bất cập đối với giáo viên cha có kinh nghiệm. Sở dĩ nói nh vậy bởi vì :
- Thứ nhất : Nội dung dài đơn vị kiến thức không rõ ràng.
7
- Thứ hai : Nội dung này cha cần thiết cung cấp cho học sinh vì học sinh sẽ đợc
học về cảm giác, tri giác, biểu tợng ở tiết 23: Con đờng nhận thức cái tất yếu- Mục 1-
Phần a - Bài 28
Mục đích yêu cầu của bài này chỉ cần giáo viên giúp học sinh hiểu ý thức đợc hình
thành một cách đơn giản nhất.
ngời ta có thể đa ra những công trình kiến trúc tráng lệ song các kiến trúc s cũng vô
cùng thán phục trớc kết cấu của một tổ ong. Nh vậy có thể khẳng định con ong có ý
thức đợc không ?
Học sinh khẳng định: Đó là bản năng của loài ong đợc di truyền từ đời này qua
đời khác.Bằng kiến thức con ngời , các công trình kiến trúc sẽ ngày càng thay đổi
phù hợp với điều kiện kinh tế, thị hiếu, năng khiếu thẩm mỹ của mỗi ngời, song với
loài ong muôn triệu năm sau thì kết cấu tổ cũng không thay đổi.
* Trên cơ sở những vấn đề đầu tiên nh vậy giáo viên sẽ đi vào nội dung cơ bản
của mục 1: ý thức đợc hình thành nh thế nào?
8 * Đồ dùng trực quan : Một số quả chanh, một tờ giấy to chia làm 3 phần để học
sinh điền các thông tin.
Giáo viên hỏi : Những ai cha đợc ăn chanh? Sẽ có những học sinh giơ tay .
Giáo viên yêu cầu một học sinh lên cầm quả chanh giơ lên cho cả lớp xem và tìm
ra đặc điểm chung của những quả chanh trên , điền những thông tin đó lên giấy: màu
sắc, hình dáng
Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh bóc quả chanh ra, tơng tự nh phần 1 điền tiếp
những thông tin sau khi bóc: mùi vị, hình dáng.
Tiếp đến giáo viên yêu cầu học sinh nếm thử quả chanh và điền thông tin lên
giấy: hình dáng múi chanh, mùi vị khi ăn.
Sau khi học sinh đã trải qua những thao tác trực quan trên giáo viên cất tờ giấy và
đề nghị học sinh nhắc lại những thông tin mà học sinh vừa điền vào giấy.
9
Giáo viên đặt câu hỏi: giả sử thiếu điều kiện 1?Chẳng hạn không có Ma nhng
nhiều ngời vẫn cho rằng nhìn thấy Ma và rất sợ.
Nếu thiếu điều kiện 1 thì không có cơ sở do đó nếu có ý thức thì chẳng qua là do
trí tởng tợng của con ngời mà thôi vì vậy mà sẽ không thể có điều kiện 3 vậy ý thức
không thể hình thành.
Giả sử nếu có điều kiện 1 nhng thiếu điều kiện 2? Thực tế có nhiều ngời bị
khuyết tật: Ví dụ nh bị mù , bị điếc, bị câm ?
Có điều kiện 1 sẽ có điều kiện 3 song do thiếu điều kiện 2 ( hoặc bị khiếm
khuyết) nên điều kiện 3 sẽ không chính xác.
Giả sử có điều kiện 1 và điều kiện 2 nhng có vấn đề ở điều kiện 3, có nhiều tròng
hợp bị tâm thần nên ý thức cũng không thể phản ánh một cách chính xác bởi lẽ khi
thế giới tác động tới các cơ quan cảm giác của con ngời thì trong bộ óc con ngời sẽ
diễn hàng loạt các thao tác t duy từ thấp đến cao mới hình thành nên ý thức. Do vậy
nếu có vấn đề ở điều kiện 3 thì ý thức cũng sẽ không thể chính xác.
Nh vậy có thể khẳng định rằng đây là ba điều kiện cơ bản nhất để hình thành nên
ý thức.
* Sau khi làm rõ nội dung và điều kiện hình thành ý thức giáo viên hỏi học sinh:
Tại sao nội dung của ý thức lại mang tính khách quan?
-H/s sẽ trả lời dựa trên các thao tác t duy : Đó là do thế giới khách quan tác động
đến các cơ quan cảm giác của con ngời và đợc bộ óc của con ngời phản ánh thông
qua các thao tác t duy phân tích tổng hợp và rút ra những đặc điểm riêng về bản chất
của sự vật hiện tợng đã tác động - Đây không phải do con ngời áp đặt chủ quan .
Ví dụ: ý thức về vị của chanh là do bản thân vị chanh quyết định mà con ngời
không thể gán ghép cho nó một vị nào khác.
*Trong sách giáo khoa có viết: ý thức con ngời là sự phản ánh tự giác và sáng tạo
khác với các hình thức phản ánh khác G/v hỏi h/s :Hãy tìm một số sự vật hiện tợng
cũng có chức năng phản ánh ?
Học sinh giỏi: cái gơng, hồ nớc.
Giáo viên : Vậy sự phản ánh của cái gơng hay hồ nớc khác với sự phản ánh của
trong sách mà phải suy nghĩ tìm tòi. Qua câu hỏi này rèn luyện cho học sinh giỏi khả
năng lập luận, phân tích và tổng hợp:
H/s sẽ phải hiểu đợc những vấn đề chủ yếu nh sau:
-Nói ý thức là sản phẩm của tự nhiên: Bởi lẽ quá trình tiến hoá của loài vợn ngời
thành ngời là một quá trình lâu dài, quá trình đó con ngời cũng phải chịu sự chia
phối khắc nghiệt của qui luật tự nhiên. Để tồn tại con ngời buộc phải tìm tòi, khám
phá trao đổi với nhau ban đầu chỉ là những tín hiệu nh tiếng hú, vết bẻ cành cây
báo cho nhau biết về nơi có thức ăn, nơi có thú dữ, có nguồn nớc sau đó ngôn ngữ
xuất hiện một cách hoàn chỉnh đó là tiếng nói, chữ viết.
-Nói ý thức là sản phẩm của lịch sử xã hội : Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi
ngôn ngữ phải đợc nâng lên nh là một chuẩn mực. Có hẳn cả một bộ môn khoa học
nghiên cứu về ngôn ngữ, xã hội càng phát triển thì ngôn ngữ cũng ngày càng hoàn
thiện mà nhờ đó việc biểu lộ tình cảm của con ngời ngày càng dễ dàng có khi nâng
lên thành nghệ thuật.Nếu trớc kia con ngời phải dùng cả ngôn ngữ nói, ngôn ngữ
viết, cả hành động chỉ để biểu đạt một vấn đề thì ngày nay có khi chỉ dùng một từ
hoậc một cụm từ mà ý nghĩa về vấn đề cần nói vẫn không thay đổi.
Mục 2: Tác động của ý thức đối với vật chất
Phần này sách giáo khoa viết tơng đối rõ ràng và cụ thể tạo điều kiện cho giáo viên
đa ra những câu hỏi tái hiện đối với học sinh trung bình và những câu hỏi có vấn đề
đối với học sinh giỏi.
- Giáo viên hỏi: Có phải mọi sự phản ánh hình thành nên ý thức đều giống nh thế
giới khách quan tồn tại hay không?
Sở dĩ giáo viên hỏi nh vậy vì trên thực tế không phải cứ thế giới khách quan tác
động nh nhau ( tức là điều kiện 1 nh nhau ) sự cảm nhận của con ngời nh
nhau ( tức là điều kiện 2 nh nhau) thì bộ óc con ngời sẽ phản ánh nh nhau (tức là
điều kiện 3 nh nhau). Sở dĩ nh vậy vì sau khi thế giới tác động thì trong bộ
10
óc con ngời sẽ diễn ra các thao tác t duy tơng đối phức tạp mà do năng lực của từng
cá nhân cho nên vẫn có thể mắc sai lầm.
*Sau khi học sinh lí giải đợc vấn đề này giáo viên tiếp tục hỏi: Vậy nếu ý thức con
Và đặc biệt là câu:
Ví không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân
Nghĩ mình trong lúc gian truân
Tai ơng rèn luyện tinh thần thêm hăng.
Qua những bài thơ trên của Hồ Chủ Tịch toát lên ý nghĩa triết học sâu sắc đó là
động viên con ngời vợt qua những khó khăn gian khổ. Điều đó còn đợc chứng
minh qua rất nhiều tắm gơng cộng sản kiên trung, họ luôn động viên nhau vợt qua
11
C. Kết luận.
1- Kết quả của ph ơng pháp tìm chọn và bồi d ỡng học sinh giỏi môn GDCD
qua Bài 1-Tiết 2- Lớp 10.
Trong quá trình giảng dạy, sau khi quyết định áp dụng các phơng pháp kết hợp
trên tôi đã tiến hành một số bớc nh sau:
B ớc1 : Tiến hành dạy thử ở 2 lớp: Lớp 10A và lớp 10B
Với lớp 10A tôi tiến hành dạy theo phơng pháp mà sách giáo viên hớng dẫn .
Với lớp 10B tôi tiến hành theo phơng pháp trên.
Sau khi tiến hành bài giảng tôi cho kiểm tra 15 phút kết quả nh sau:
*Về nội dung bài học: Cả hai lớp đều nhận thức tốt những kiến thức cơ bản.
*Về không khí lớp học: Lớp10A không sôi nổi nh lớp 10B.
*Kết quả kiểm tra: Lớp 10A - Giỏi:0.
- Khá:15 bài - chiếm 33%.
- Trung bình: 28 bài chiếm 62,6%.
- Yếu:2 bài chiếm4,4%.
Lớp 10B:- Giỏi:11 bài - chiếm25,2%
- Khá:15 bài - chiếm33%.
- Trung bình: 15 bài- chiếm33%.
- Yếu: 4 bài chiếm 8,8%.
Nh vậy với phơng pháp đã vận dụng, theo kết quả sơ bộ cho thấy có sự phân hoá rõ
ràng, từ đó giúp cho việc tìm chọn và bồi dỡng học sinh giỏi nhanh chóng hơn so với
Thứ hai: Lãnh đạo ngành giáo dục cần quan tâm chỉ đạo các cấp quản lí cơ sở để họ
có cách nhìn khách quan, đúng đắn hơn đối với môn học GDCD từ đó tạo điều kiện
nâng cao chất lợng đội ngũ giảng dạy nói chung và việc bồi dỡng học sinh giỏi nói
riêng.
Vĩnh Lộc ngày 18 tháng 5 năm 2006
Ngời viết
Lê Thị Hờng
15
Tµi liÖu tham kh¶o
1- S¸ch gi¸o khoa m«n GDCD líp 10.
2-S¸ch híng dÉn gi¶ng d¹y m«n GDCD líp10.
3- Tµi liÖu båi dìng thêng xuyªn chu k× III n¨m 2005-2007.
4- Tæng quan t×nh h×nh thanh niªn c«ng t¸c ®oµn vµ phong trµo thanh
thiÕu niªn - Nhµ xuÊt b¶n thanh niªn n¨m 2002.
16
mọi khó khăn gian khổ, vợt qua mọi đòn roi tra tấn của kẻ thù.
Học sinh còn có thể chứng minh, trong cuộc sống hàng ngày chính nhờ sự động
viên của mọi ngời mà chúng ta có thể vợt qua mọi khó khăn tởng chừng không thể v-
ợt qua.
Ví dụ : Anh thơng binh ở Đồng bằng sông Cửu Long bị cụt hai chân nhng vẫn miệt
mài làm việc và đã chế tạo thành công xe lăn điện khiến cho bao ngời kính phục.
Hay: Một học sinh mù hai mắt nhng suốt 12 năm đều đạt danh hiệu học sinh
xuất sắc và vừa qua em đã vinh dự đợc trờng Đại học ngoại ngữ Hà Nội đặc cách
tuyển thẳng .
Tất cả những ví dụ trên đều nhằm mục đích chứng minh rằng: Nếu không nhờ có
nghị lực phi thờng thì làm sao những con ngời khuyết tật kia có thể làm đợc những
công việc phi thờng đến vậy.
&
sáng kiến
tìm chọn và bồi dỡng học sinh giỏi
môn giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông
Họ tên tác giả: Lê Thị Hờng
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trờng THPT Vĩnh Lộc
SKKN thuộc môn GDCD
sáng kiến
tìm chọn và bồi dỡng học sinh giỏi
môn giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông
Họ tên tác giả: Lê Thị Hờng
sáng kiến
tìm chọn và bồi dỡng học sinh giỏi
môn giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông
Họ tên tác giả: Lê Thị Hờng
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trờng THPT Vĩnh Lộc
SKKN thuộc môn GDCD