Một số kinh nghiệm trong việc ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi môn địa lí 9 dự thi cấp tỉnh, ở huyện thiệu hóa - Pdf 21

A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Thực tế nhiều năm qua, để có được học sinh ôn đội tuyển học sinh giỏi
môn địa lý quả thực không hề đơn giản. Đầu vào đã khó, thế nhưng trong quá
trình ôn luyện vẫn còn rất nhiều lận đận và nhiều trăn trở, bởi vì các lý do sau:
- Thứ nhất: Nguồn học sinh để tuyển chọn rất hạn chế. Do việc dạy học bộ môn
này phải nói rằng đôi lúc vẫn chưa hấp dẫn học sinh, chưa làm cho học sinh
thấy đây là một môn khoa học rất hấp dẫn, gắn bó thực tế với con người cả về
tự nhiên và kinh tế-xã hội. Mặt khác, việc học lệch cũng như sự định hướng
nghề nghiệp của gia đình và trào lưu xã hội từ trước đến nay; sẽ có nhiều ảnh
hưởng đến việc học lệch của các môn xã hội nói chung trong đó có môn địa lí
nói riêng. Nên việc lựa chọn học sinh vào đội tuyển địa lí lại phải đợi chọn ở
tốp sau khi mà tốp đầu là những học sinh học giỏi, khá đã lựa chọn và cũng
được các thầy, cô lựa chọn vào các môn theo theo tâm lí định hướng khối thi
sau này, như môn toán, vật lí, hóa học, sinh học, Anh văn Và nếu như việc ôn
luyện các môn thi học sinh giỏi nói chung, các môn xã hội nói riêng và môn địa
lí nói riêng nữa cứ mất nhiều thời gian(mỗi tuần 2-3 buổi, kéo dài 3-4 tháng)
như thế; mà không có cách dạy và học, cũng như ôn luyện một cách khoa học,
thì sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc học tập các môn khác của các em… Nên quá
trình học tập cũng như ôn thi học sinh giỏi của các em cũng bị ảnh hưởng chưa
tốt bởi yếu tố nói trên.
- Thứ hai: Môn địa lý vẫn chưa có vị trí đáng kể trong một số nhà trường, vẫn
coi như là một môn phụ, quan niệm chỉ cần học thuộc… là một thực tế không
thể chối bỏ; cho nên cả học sinh, gia đình lẫn xã hội ít quan tâm.
- Thứ ba: Các môn thi học sinh giỏi gắn với các môn thi định hướng nghề
nghiệp sau này mới tạo nên sự hấp dẫn, gắn bó với học sinh. Tuy vậy thì môn
địa lý thuộc khối C; mà khối thi này lâu nay có xu hướng giảm sút số lượng thí
sinh đăng ký do ngành thi hạn chế, cơ hội việc làm trong tương lai cũng có
phần khó khăn hơn các ngành khác (như ngành kĩ thuật, kinh tế, dịch vụ…).
Khó khăn nhiều là vậy; tuy nhiên, môn địa lí vẫn là một trong những
môn học và là môn thi học sinh giỏi ở các cấp huyện và tỉnh Với cách ra đề
có nhiều đổi mới như hiện nay; vừa cho học sinh thể hiện được những kiến

học qua tôi nhận thấy rằng vấn đề quan trọng là người giáo viên bồi dưỡng cần
có một quan niệm đúng về học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lý
nói riêng. Bên cạnh đó, cần trả lời cho câu hỏi: “Việc bồi dưỡng học sinh giỏi
nhằm mục tiêu gì?” để từ đó người giáo viên bồi dưỡng lựa chọn nội dung,
2
chương trình và phương pháp bồi dưỡng sao cho thích hợp và đạt hiệu quả cao
nhất.
Một số suy nghĩ cho rằng: Học sinh giỏi môn Địa lý chỉ cần học thuộc,
là chưa đủ, chưa chính xác. Vì: “Địa lý là môn khoa học có đối tượng nghiên
cứu phong phú, phức tạp. Các hiện tượng địa lý không chỉ phân bố trên bề mặt
đất mà cả trong không gian và trong lòng đất. Hơn nữa, các hiện tượng ấy ở
đâu và bao giờ cũng phát sinh, tồn tại và phát triển một cách độc lập nhưng lại
luôn có quan hệ hữu cơ với nhau. Chính vì vậy, người dạy và học Địa lý cần có
phương pháp tư duy, phân tích, xét đoán các hiện tượng địa lý theo quan điểm
hệ thống”.
Với quan niệm trên, chúng ta hiểu rằng học sinh giỏi môn Địa lý là những
học sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản của bộ môn và phải vận dụng
được những hiểu biết; những kỹ năng địa lý để giải quyết những nội dung cơ
bản theo yêu cầu của đề bài, của thực tiễn cuộc sống và học sinh giỏi môn Địa
lý là những học sinh có năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng tốt nhất những
kiến thức, kỹ năng chắc chắn về địa lý.
Về mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, mặc dù có nhiều mục tiêu khác
nhau tùy theo quan niệm của mỗi giáo viên, và tùy theo môn học nhưng dù
quan niệm như thế nào chung quy lại có những điểm tương đồng:
- Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lý nói riêng
nhằm phát triển tư duy ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của học
sinh.
- Bồi dưỡng sự lao động và hợp tác làm việc một cách sáng tạo.
- Phát triển các phương pháp, kỹ năng và thái độ tự học một cách nghiêm túc,
khoa học.

như từ các gia đình, nhà trường và bản thân các em. Thống kê trong 2 năm như
sau:
Bảng theo dõi học sinh ôn thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Địa lí từ năm học
2006-2007 đến năm học 2007-2008(huyện Thiệu Hóa).
Năm học Số học
sinh đội
dự tuyển
Số học sinh
đi học ôn
không đều.
Số học
sinh bỏ
học ôn.
Số học sinh
đội tuyển
chính thức
Loại giải và
số lượng đạt
được ở cấp
tỉnh
2006-2007 20 5 4 10 3 giải
khuyến khích
2007-2008 19 6 4 10 2 giải
khuyến khích

4
- Nguyên nhân:
+ Các em bị thiếu hụt về kiến thức và kĩ năng học tập, ôn luyện cũng
như sự cọ sát va chạm trong thi cử là nguyên nhân khách quan từ bên ngoài
cũng như thầy cô dạy học và ôn luyện từ các trường, và cũng là nguyên nhân

5
cùng với thời gian ôn luyện khoảng 7 tuần; các giáo viên được điều động bồi
dưỡng học sinh giỏi, phải xây dựng kế hoạch chi tiết cho việc giảng dạy của
mình. Vì vậy, bản thân cũng đã lên kế hoạch cụ thể về:
- Kế hoạch về thời gian ôn luyện đội tuyển: Theo kế hoạch của phòng giáo dục
Thiệu Hóa thường từ đầu tháng một đến khoảng tuần thứ 3 của tháng ba. Trừ
thời gian nghỉ tết nguyên đán 2 tuần, thì có khoảng gần 9 tuần ôn luyện. Thời
gian 5 tuần đầu ôn cho đội dự tuyển sẽ có 2 buổi/tuần, học sinh sẽ làm 2 đề do
giáo viên phụ trách ôn luyện ra theo đúng qui định, để lấy điểm làm cơ sở cho
việc tuyến chọn. Nghỉ tết nguyên đán song, các em sẽ làm đề số 3 do bộ phận
chuyên môn của phòng giáo dục ra đề và đáp án … Và đội tuyển chính thức 10
em được lấy theo điểm từ cao đến thấp. Khi đó sẽ ôn 3 buổi/ tuần đến khi thi
cấp tỉnh.
- Soạn nội dung dạy học theo chuyên đề, nghiên cứu kĩ kiến thức cơ bản ở sách
giáo khoa địa lí THCS hiện hành và tài liệu tham khảo khác. Tùy theo từng đối
tượng học sinh từng năm để soạn và ôn luyện(có thể phải củng cố lại kiến thức
quan trọng ở lớp 6, lớp 8; như hệ quả của các chuyển động của Trái Đất; khí áp
và sự hình thành các loại gió, nhất là gió mùa ở nước ta…).
- Giúp các em xây dựng kế hoạch học và ôn luyện ở nhà sao cho khoa học với
tinh thân thoải mái nhất. Thường thì với thời gian khoảng một tiếng rưỡi vào
buổi sáng sớm; với thời gian trên sẽ giúp các em học, nhớ và hiểu bài hiệu quả
nhất.
- Chủ động phối hợp và thống nhất về nội dung kiến thức – kĩ năng, những “lỗ
hổng” kiến thức của từng em với giáo viên phụ trách đội tuyển ở các trường cơ
sở, để tranh thủ sự giúp đỡ của các thầy cô đối với các em. Như vậy các em sẽ
tiến bộ nhanh và chất lượng đội dự tuyển được nâng lên rõ rệt, sẽ là nền tảng
quan trọng cho đội tuyển chính thức dự thi cấp tỉnh đạt kết quả cao.
- Động viên khuyến khích các em trong quá trình dạy học; và cùng các em xây
dựng chỉ tiêu chỉ tiêu phấn đấu đạt giải cho từng cá nhân, theo năng lực học tập
ngày càng tiến bộ của từng em một.

đó là việc đồng hành đối với học sinh trong việc hình thành lòng yêu thích này.
Điều này được thực hiện từ việc thẩm định kiến thức-kĩ năng ngay từ địa lí đại
cương có liên quan như khối lớp 6; Tự nhiên khu vực Châu Á(nhất là khu vực
Đông Nam Á), tự nhiên Việt Nam khối lớp 8; Địa lí dân cư, kinh tế chung Việt
Nam, địa lí các vùng kinh tế Việt Nam ở khối 9… Thực ra đó hoàn toàn là
những kiến thức các em đã được học và ôn luyện. Tuy nhiên, qua thời gian
dài(nhất là địa lí đại cương lớp 6) với cách học thuộc, học tủ để thi như nhiều
năm trước thì bản chất của môn khoa học địa lí sẽ không có dấu ấn trong tâm trí
của học sinh, chứ chưa nói đến việc học sinh ham thích bộ môn khoa học rất gắn
liền với thực tế cuộc sống cũng như đây là một phần hành trang quan trọng để
7
các em bước vào đời. Qua thực tế đã dạy nhiều năm ôn luyện đội tuyển dự thi
học sinh giỏi cấp tỉnh, ban đầu trao đổi với các em về kiến thức đã học cũng như
hiểu biết của các em, thì cơ bản là các em chỉ nhớ, thuộc nhưng thể hiện cũng
như giải thích còn mơ màng….
Vì vậy, đặt ra cho người thầy trong quá trình ôn luyện vừa phải giúp cho
học sinh nắm vững kiến thức kĩ năng cơ bản, vừa phải chuyên sâu nâng cao
kiến thức và kĩ năng làm bài, không có gì hơn là cùng với học sinh và tạo cho
học sinh có hứng thú say mê, yêu thích bộ môn. Bên cạnh đó, cần có sự phối
hợp, chia sẻ, động viên cùng với giáo viên dạy bộ môn địa lí của các em ở
trường cơ sở; chính các thầy cô đã giúp và làm nền tảng cho đội tuyển dự thi
cấp tỉnh. Bằng cách như vậy, có thể vừa đạt được hiệu quả trong khi ôn luyện,
hiệu quả trong việc hợp tác của các thầy cô, vừa mở ra chân trời tươi sáng cho
các em, là một trong những hành trang hiểu biết quan trọng cho tương lai các
em trưởng thành và hội nhập.
Đó là mục đích đề ra của bản thân chúng tôi khi nhận nhiệm vụ giảng
dạy và ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí khối 9 dự thi học sinh giỏi
cấp tỉnh trong nhiêu năm nay.
* Tuyển chọn học sinh thông qua khả năng học tập bộ môn:
- Khả năng tích tụ kiến thức cần thiết một cách tích cực, chủ động thông minh

- Cuối đợt tuyển chọn, dựa vào sự nổ lực cố gắng trong quá trình học tập của
các em, cùng với các con điểm đạt được qua các lần kiểm tra; giáo viên dễ
dàng lựa chọn được đội tuyển chính thức, một cách công bằng và hiệu quả
cao.
3. Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi:
3.1. Về kiến thức:
Với tình hình thực tế về chất lượng của đội dự tuyển ôn thi học sinh giỏi
cấp tỉnh môn địa lí hằng năm của huyện nhà. Giáo viên cần phải chuẩn bị các
nội dung về kiến thức ôn luyện như sau:
* Nội dung kiến thức chủ yếu bồi dưỡng đội tuyển bao gồm kiến thức đại
cương khối lớp 6; Tự nhiên khu vực Châu Á(nhất là khu vực Đông Nam Á), tự
nhiên Việt Nam khối lớp 8; Địa lí dân cư, kinh tế chung Việt Nam, địa lí các
vùng kinh tế Việt Nam…. Đối với học sinh giỏi, cần nắm kiến thức cả theo
chiều rộng lẫn chiều sâu để đến thời điểm thi học sinh giỏi cấp tỉnh là phải
hoàn thành xong chương trình.
* Trong quá trình bồi dưỡng, cần:
- Củng cố kiến thức cơ bản, nhấn mạnh kiến thức trọng tâm, kiến thức được
vận
dụng cho việc giải quyết các vấn đề mới, ngay cả những bài trong sách giáo
9
khoa với những vấn đề mà học sinh còn mơ hồ, chưa hiểu.
- Soạn các chuyên đề nâng cao như hệ quả các chuyển động của Trái đất, kinh
vĩ tuyến – tọa độ địa lí ở khối lớp 6; Địa lý khu vực Đông Nam Á, tự nhiên
Việt Nam ở khối lớp 8(phần địa hình, khí hậu, thủy năng sông suối, đất đai và
tài nguyên thiên nhiên); Địa lý dân cư, địa lí các ngành kinh tế chung và địa lí
các vùng kinh tế của nước ta; Cách nhận dạng biểu đồ để vẽ và phân tích…ở
khối lớp 9.
Mặc dù, những năm gần đây các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh ở tỉnh ta chỉ
tập trung vào nội dung của địa lí lớp 9. Tuy nhiên kiến thức cũng như kĩ năng

Nam thí sinh có thể tìm và khai thác nhanh được các thế mạnh theo từng nhóm
ngành hay từng ngành kinh tế thể hiện trên aslat bởi các đối tượng địa lí như
tên khoáng sản, loại cây công nghiệp và địa danh có các sản phẩm này…
- Kĩ năng phân tích bảng số liệu
+ Cần phân tích bảng số liệu theo hàng ngang, hàng dọc, không bỏ sót số
liệu
để rút ra được nhận xét thể hiện được bản chất của hiện tượng, đồng thời sự
biến động của đối tượng theo thời gian hoặc so sánh các đối tượng địa lý.
+ Cần cho học sinh làm nhiều bài tập với nhiều dạng khác nhau để tạo được
kĩ năng thành thạo.
- Kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ.
+ Học sinh qua ôn thi học sinh giỏi cấp huyện đã có kiến thức cơ bản về
biểu đồ; Giáo viên cũng phải cần kiểm tra lại và cung cấp kiến thức, cũng như
rèn kĩ năng cho học sinh phân biệt cách nhận dạng các biểu đồ mà đề cho, kĩ
năng lấy tỉ lệ, kẽ, vẽ cho chính xác, khoa học và nhanh chóng.
+ Phân biệt mỗi dạng biểu đồ đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng,
nên phải biết cách chọn thích hợp. Đồng thời, biết cách phân tích biểu đồ theo
yêu cầu của đề bài, qua số liệu đề bài đã cho, và dựa vào biểu đồ vừa được vẽ
chính xác nói trên.
- Kĩ năng tính toán.
+ Đây là kĩ năng cần thiết và phổ biến nên đối với đội tuyển học sinh giỏi
phải thành thạo kĩ năng này.
+ Để tính toán học sinh cần nắm vững các công thức, biến đổi các công
thức.
Tất nhiên, không phải câu hỏi chỉ đơn thuần là xử lý ngay mà cần phải biết biến
đổi.
+ Các nội dung thường gặp là tính mật độ dân số, bình quân lương thực trên
đầu người, tính bán kính đường tròn(thể hiện cơ cấu qui mô năm sau so với
năm trước), xử lý lại số liệu để vẽ biểu đồ, nhận xét bảng số liệu…
11

số điểm cho từng câu để phân phối thời gian làm bài cho phù hợp.
Thí dụ: Đề thi hàng năm thường có câu vẽ biểu đồ thích hợp nhất, câu này
thường là câu cuối cùng và chiếm khá nhiều điểm(từ 5-6 điểm trên số tổng là
20 điểm của đề cho). Vì thế, việc đầu tiên là đọc kĩ đề để xác định đúng loại
12
biểu đồ(thích hợp nhất); sau đó, xem xét để vẽ biểu đồ một cách khoa học,
chính xác và đẹp nhất, viết tên biểu đồ, chú thích cẩn thận…(nếu cần có thể vẽ
nháp để tránh việc “vạch” lấy số liệu ở các cột chưa được khoa học, không
đẹp…). Phần vẽ biểu đồ phải chiếm điểm tối đa(thường 2-3 điểm). Cũng như
thế, phần nhận xét biểu đồ cần nhận xét theo đúng yêu cầu của đề(qui mô hay
cơ cấu) và chú ý đến sự biến động qua số liệu đề cho và biểu đồ đã vẽ để nhận
xét cho hiệu quả để có điểm tuyệt đối. Và dĩ nhiên rằng, câu nào bản thân các
em nắm tốt được thì nên làm trước, và hãy cẩn thận để tránh sai sót… Như vậy,
kĩ năng đọc kỹ đề
thi trước khi làm bài, có ý nghĩa quan trọng với kết quả bài thi.
+ Rèn kĩ năng lập đề cương sơ lược về cách ôn tập từng bài học, đề thi và
thể hiện trước thầy và bạn: Học sinh phải biết cách “vạch ý” khi học bài cũng
như nghiên cứu trả lời các câu trong đề. Kĩ năng này vô cùng quan trọng; nó
giúp cho các em học hiểu hơn, không bỏ sót kiến thức. Đặc biệt là thực hiện tốt
kế hoạch học tập một cách chủ động, làm bài thi một cách nghiêm túc, khoa
học và chính xác. Trong quá trình ôn luyện, tôi thường mời từng em thể hiện kĩ
năng này. Có sự nhận xét, góp ý, đánh giá của thầy và bạn một cách rõ ràng,
nghiêm túc và thân thiện. Các em thấy mình được tôn trọng, và càng thể hiện
được sự tự tin cũng như dần dần vững vàng về kiến thức
- Chấm và sửa bài:
+ Đối với các em học sinh giỏi, khi chấm bài giáo viên phải chỉ ra được
điểm mạnh, yếu cơ bản của mỗi bài; theo dõi và động viên kịp thời mức độ tiến
bộ của mỗi học sinh trong từng bài viết. Như đã nói ở trên là giáo viên phải lập
nhật ký chấm bài với học sinh đội tuyển; nhận xét từng câu, từng phần làm việc
đối với từng em một(có sự phản hồi từ các em). Cách làm này sẽ làm cho các

học
sinh
đội
dự
tuyển
Số học
sinh đi
học ôn
không
đều.
Số học
sinh bỏ
học ôn.
Số học
sinh
đội
tuyển
chính
thức
Loại giải và số lượng đạt
được ở cấp tỉnh
2008-2009 21 1 1 10 02 giải Ba; 04 giải khuyến
khích
2009-2010 20 0 0 10 02 giải Nhì; 04 giải Ba; 03
giải khuyến khích
2010-2011 18 0 0 10 03 giải Nhì; 04 giải Ba; 02
giải khuyến khích
2011-2012 20 0 0 10 01 giải Nhất; 03 giải Nhì;
04 giải Ba; 02 giải khuyến
khích

nhưng số lượng học sinh đạt giải tuy khá nhiều; song số lượng học sinh đạt giải
cao thì chưa nhiều. Do vậy, trong những năm học tiếp theo bản thân sẽ không
ngừng tổng kết, rút kinh nghiệm, không ngừng học hỏi để công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi ngày càng ổn định, phát triển theo hướng bền vững.
II. Đề xuất:
15
Việc bồi dưỡng HSG là cả quá trình lâu dài, nếu đội tuyển thành lập càng
sớm thì việc bồi dưỡng càng thuận lợi vì học sinh có thời gian mà ngấm được
kiến thức. Vì vậy, ngay từ trường cơ sở, các thầy cô phụ trách bộ môn địa lí cần
có kế hoạch cụ thể: Từ việc phối hợp với chuyên môn nhà trường để lựa chọn
được nhân tố đầu vào phù hợp và cần thiết theo yêu cầu chính đáng của bộ
môn, cũng như nguyện vọng của bản thân các em mong muốn được tham gia
đội tuyển. Đến việc chuẩn bị nội dung và kế hoạch thời gian ôn luyện, sao cho
hài hòa với điều kiện học tập của các em.
Việc bồi dưỡng tập trung trong thời gian ngắn, học dồn ép sẽ hạn chế
hiệu quả. Như lớp 9 đầu năm học mới chọn được vào đội tuyển thì tháng 12 thi
học sinh giỏi cấp huyện. Sau đó, những em được lựa chọn vào đội tuyển sẽ học
ôn trong 25-28 buổi tập trung. Với khoảng nửa thời gian đầu học 2 buổi trên
tuần, nửa thời gian sau học 3-4 buổi trên tuần. Và đến khoảng gần cuối tháng 3,
thì thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Như vậy, sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc bồi
dưỡng do thời gian quá hạn hẹp; các em còn phải học các môn khác, như những
bạn của mình tại trường cơ sở. Chất lượng đội dự tuyển môn địa lí(như đã nói ở
trên) như thế, sẽ khó lựa chọn được đội tuyển chính thức một cách yên tâm, để
cho kết quả cao được.
Để có hiệu quả cao hơn, bản thân xin có một số đề nghị như sau:
* Đối với phòng GD&ĐT Thiệu Hóa:
- Có kế hoạch cho đội dự tuyển ôn thi học sinh giỏi cấp tỉnh ôn luyện sớm
hơn thường niên từ 2-3 tuần. Vừa “giản" được thời gian cho việc học tập của
các em, lại không gây sức ép trong quá trình ôn luyện, vừa ngấm được kiến
thức, rèn tốt được kĩ năng. Có như vậy, hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi dự thi

đóng góp chân thành của các đồng nghiệp, để tôi có thể tiếp tục làm tốt công
việc này trong những năm học tiếp theo.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 3 năm 2014
“Tôi xin cam đoan: Đây là sáng kiến kinh nghiệm
của tôi. Có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm”
Người thực hiện
17
ĐỖ XUÂN OÁNH
MỤC LỤC
Mục Nội dung Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ. 1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 2
I. Cơ sở lí luận. 2
II. Thực trạng của vấn dề. 3
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện. 5
1. Xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi:
5
2. Một số kinh nghiệm trong công tác tuyển chọn học sinh trong
đội dự tuyển để có đội tuyển chính thức:
6
3.
Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi:
8
3.1. Về kiến thức: 8
3.2. Về kĩ năng và thái độ: 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status