Bình luận tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa trong Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC - Pdf 27

Đề số 02: Bình luận tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa trong
Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC.
1
NỘI DUNG
1. KHÁI QUÁT VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG CỘNG ĐỒNG
KINH TẾ ASEAN (AEC)
1.1Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm và bản chất của tự do hóa thương mại hàng hóa.
Toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ không chỉ đem đến những bước tăng trưởng kinh tế vượt bậc
so với thời kỳ các quốc gia thực hiện chính sách “đóng cửa” trước đây mà còn mang lại luồng
sóng cạnh tranh khốc liệt. Để đứng vững trong cuộc cạnh tranh này, các quốc gia thường sử dụng
nhiều biện pháp để bảo hộ sản xuất trong nước và hạn chế dòng luân chuyển thương mại. Tuy
nhiên, đứng trước nhu cầu hợp tác sâu rộng nhằm thúc đẩy thương mại phát triển toàn diện trên cơ
sở nguyên tắc “lợi thế so sánh”, bảo hộ tự do hay tự do hóa thương mại dần trở thành một trong
các xu thế chủ đạo hiện nay trên thế giới.
Tự do hóa thương mại được hiểu là quá trình dỡ bỏ dần dần phân biệt đối xử, các rào cản
đối với thương mại, chủ yếu là thuế quan và phi thuế quan và thực hiện các hoạt động thuận lợi
hóa thương mại, trước hết nhằm đạt được sự đối xử công bằng giữa hàng hóa, dịch vụ sản xuất
trong nước với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài, giữa các nhà sản xuất trong nước với
những nhà sản xuất nước ngoài, và sau cùng là đạt được chế độ thương mại tự do. Tự do hóa
thương mại, do đó, đòi hỏi Nhà nước phải áp dụng một số biện pháp cần thiết để từng bước giảm
thiếu các trở ngại trong quan hệ mậu dịch quốc tế, tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại
được lưu chuyển tự do giữa các quốc gia, giữa các khối nước.
Thương mại hàng hóa (cùng với thương mại dịch vụ) là hoạt động chiếm tỷ trọng chủ yếu
trong thương mại quốc tế. Bản chất của tự do hóa thương mại hàng hóa là thông qua các biện
pháp nhất định, hàng hóa nước ngoài có điều kiện thuận lợi để xâm nhập vào thị trường nội địa,
đồng thời hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài cũng được tiến hành dễ dàng hơn trên cơ
sở đảm bảo cân đối cán cân xuất khẩu, nhập khẩu của quốc gia đó.
1.1.2 Các biện pháp thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa trong AEC
Trong khuôn khổ ASEAN, trên cơ sở các công cụ pháp lý được hình thành xuyên suốt tiến
trình tự do hóa thuơng mại hàng hóa ở khu vực (được đề cập chi tiết tại Mục 2), các biện pháp

xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định; giấy phép xuất nhập khẩu) hoặc các rào
cản kỹ thuật (ví dụ: các tiêu chuẩn kỹ thuật trong thương mại như quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn vệ
sinh…). Việc nới lỏng các rào cản phi thuế quan có thể được thực hiện theo hai cách phổ biến
3
.
Trong phạm vi Cộng đồng kinh tế ASEAN, Hiệp định CEPT và ATIGA đều quy định việc dỡ bỏ
chung đối với các hạn chế về số lượng. Các biện pháp phi thuế quan khác khi được xác định là rào
cản thương mại cũng được yêu cầu đưa vào chương trình xóa bỏ của quốc gia thành viên. Việc
xóa bỏ dần các rào cản phi thuế quan mặc dù rất phức tạp và khó khăn nhưng lại là điều kiện tiên
quyết cho sự thành công của tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa.
1.1.2.2 Các biện pháp thuận lợi hóa thương mại hàng hóa
Thuận lợi hóa thương mại hàng hóa bao gồm các biện pháp, chính sách và chương trình
nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, nhất quán và minh bạch và có thể dự doán được đối với
trao đổi thương mại hàng hóa giữa các quốc gia thành viên, bao gồm các biện pháp liên quan đến
thủ tục hải quan; các biện pháp hài hòa, nhất thể hóa hàng rào tiêu chuẩn và kỹ thuật trong thương
mại… Các biện pháp này tuy không tác động rõ nét, nhanh chóng tới tiến trình tự do hóa thương
mại hàng hóa như các biện pháp dỡ bỏ rào cản thương mại (1.1.2.1) nhưng thuận lợi hóa thương
mại hàng hóa vẫn là một trong các nội dung quan trọng tạo điều kiện cho luồng hàng hóa di
chuyển thuận lợi giữa các quốc gia ASEAN và hoàn thành AFTA, tức là xây dựng thành công thị
trường hàng hóa đơn nhất giữa các quốc gia ASEAN.
1.2 Tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN–Từ PTA đến AFTA và AEC
Ở thập kỷ 70, chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (giảm bớt các hàng rào bảo
hộ công nghiệp) mang lại những kết quả khả quan bước đầu, tăng tỷ lệ buôn bán nội bộ ngành
giữa các nước thành viên ASEAN góp phần tăng trưởng kinh tế đã thu hút sự quan tâm của các
1
Định nghĩa thuế quan trong phạm vi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được quy định chi tiết tại Điều 2, Khoản 1, Điểm
c Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (2009).
2
Điều 2, khoản 1, điểm k Hiệp định ATIGA.
3

các nước ASEAN–6 gần như đã hoàn thành AFTA. Trong khi đó, ASEAN-4 cũng đã xác định
được lộ trình giảm thuế trong khuôn khổ AFTA và đang từng bước được đưa vào thực hiện. Do
đó, AEC – cấp độ liên kết khu vực cao hơn chính là sự phát triển khách quan của hợp tác kinh tế
cũng như tự do hóa thương mại hàng hóa trong khu vực.
2. CÔNG CỤ PHÁP LÝ THỰC HIỆN TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA
TRONG AEC
2.1Các văn kiện pháp lý đa phương
Cộng đồng kinh tế ASEAN là liên kết kinh tế của ASEAN, hình thành trên cơ sở một hệ
thống thể chế và thiết chế pháp lý, nhằm xây dựng ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản
xuất thống nhất, có tính cạnh tranh cao, phát triển đồng đều giữa các nền kinh tế thành viên và hội
nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu. Tự do hóa thương mại hàng hóa là một trong năm yếu tố
cốt lõi đề hoàn thành mục tiêu nhất thể hóa thị trường và cơ sở sản xuất của các nền kinh tế thành
4
viên, do đó hoạt động tự do hóa TMHH giữa các quốc gia thành viên không thể tách rời các văn
kiện có ý nghĩa nền tảng cho việc xây dựng AEC. Đồng thời, các hoạt động đó cũng được triển
khai trên cơ sở các thiết chế pháp lý cơ bản của AEC có trách nhiệm quản lý, điều hành, tư vấn
trong lĩnh vực tự do hóa thương mại ở khu vực. Cụ thể, các văn kiện pháp lý đa phương có ý
nghĩa xây dựng hàng lang pháp lý cơ bản cho hoạt động tự do hóa TMHH trong khuôn khổ
ASEAN phải kể đến: Hiệp định về các thỏa thuận ưu đãi thương mại (PTA); Hiệp định khung về
tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN 1992; Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực
chung cho AFTA 1992 cùng 13 nghị định thư bổ sung và sửa đổi; Hiệp định khung về hội nhập
các ngành ưu tiên APIS 2004. Đáng quan tâm nhất hiện nay đó chính là Hiệp định về thương mại
hàng hóa ASEAN: ATIGA – văn kiện toàn diện nhất trong khu vực điều chỉnh các lĩnh vực hợp
tác về thương mại hàng hóa. Sự ra đời của các văn kiện kể trên tạo lên các ràng buộc pháp lý đối
với các quốc gia thành viên về phương thức thực hiện tự do hóa TMHH cũng như các cam kết về
lộ trình chung. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động của các thiết chế pháp lý cơ bản trong AEC như
Hội nghị cấp cao, Hội đồng điều phối, Hội đồng AEC cùng Hội đồng khu vực thương mại tự do
ASEAN (Hội đồng AFTA) các hoạt động bổ trợ cho việc đảm bảo thi hành, chấp hành nội dung
trong các văn kiện pháp lý đa phương về tự do hóa TMHH được tăng cường, qua đó tạo điều kiện
để các nội dung pháp lý có mục tiêu thúc đẩy tự do hàng hóa đạt được hiệu quả trên thực tiễn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status