Họ và tên nhóm trưởng: Cao Thanh Huyền.
Số điện thoại : 0947122888.
Email : [email protected]
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
A.BÌNH LUẬN MÔ HÌNH LIÊN KẾT CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ
ASEAN (AEC):
I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
(AEC):
1.Khái niệm Cộng đồng kinh tế ASEAN:
Cộng đồng kinh tế ASEAN(AEC) là liên kết kinh tế của ASEAN, hình
thành trên cơ sở một hệ thống thể chế và thiết chế pháp lý, nhằm xây dựng
ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, có tính cạnh
tranh cao, phát triển đồng đều giữa các nền kinh tế thành viên và hội nhập
hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu. Khái niệm pháp lý quốc tế này đã được
các nhà lãnh đạo ASEAN xác lập trong một số văn bản pháp lý như: Tuyên
bố về tầm nhìn ASEAN 2020, Tuyên bố hòa hợp ASEAN II, Hiến chương
ASEAN, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC.
2.Tiền đề hình thành:
a.Tiền đề kinh tế: Sự ra đời của AEC chính là sự phát triển khách quan
và là kết quả tất yếu của quá trình hợp tác kinh tế lâu dài gần 4 thập kỉ của
ASEAN. Các quan hệ hợp tác về kinh tế được tiến hành, điển hình như:
Thỏa thuận ưu đãi thương mại thế quan (PTA) 1977 cho cả khối; Khu vực
thương mại tự do ASEAN(AFTA) được thành lập; thiết lập khu vực đầu tư
ASEAN(AIA), thông qua cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3,… khẳng định
ASEAN không chỉ bó hẹp hoạt động trong khu vực Đông Nam Á mà muốn
2
trở thành hạt nhận của quá trình hợp tác Đông Á. Nhờ vậy, đến năm 2003,
ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu trong hợp tác kinh tế, đặc biệt là đã
xây dựng được một nền tảng thể chế tương đối vững chắc để thiết lập một
AEC.
chung chuyển tự do hơn đối với các nguồn vốn, kinh tế phát triển đồng đều,
nghèo đói, sự chênh lệch về xã hội và kinh tế được giảm bớt vào 2020.
II.BÌNH LUẬN MÔ HÌNH LIÊN KẾT CỦA AEC:
1 . Khái quát chung về m ô hình liên kết của AEC :
1.1.Cấu trúc nội dung: Theo các văn bản pháp lý của ASEAN, nội dung
của AEC bao gồm:
Thứ nhất, thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất : Dưới góc độ tiêu
dùng, AEC sẽ là một thị trường thống nhất, nơi người tiêu dùng được tự do
lựa chọn các loại hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong khu vực cũng như sản
4
xuất ở nước mình. Dưới góc độ sản xuất, AEC sẽ là một cơ sở sản xuất
thống nhất đối với các nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa và dịch vụ. Để làm
được điều đó, cần đảm bảo 5 yếu tố cốt lõi : tự do thương mại hàng hóa, tự
do thương mại dịch vụ , tự do đầu tư, tự do dòng vốn, tự do di chuyển lao
động lành nghề. Các yếu tố kể trên đều đã và đang được ASEAN đẩy
mạnh, tạo điều kiện và thực hiện thông qua các biện pháp, hành động cụ
thể.
Thứ hai, một khu vực kinh tế cạnh tranh cao : Có 6 yếu tố chủ yếu
trong khu vực kinh tế cạnh tranh của ASEAN : chính sách cạnh tranh, bảo
vệ người tiêu dung, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế,
thương mại điện tử. Mỗi yếu tố này cũng đều đang được triển khai, tiến
hành thông qua nhiều chương trình và biện pháp khác nhau.
Thứ ba, một khu vực phát triển kinh tế đồng đều : Phát triển khu vực
kinh tế đồng đều của AEC tập trung vào hai nội dung chính: phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các
quốc gia thành viên. Đối với phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ thì
ASEAN đã đưa ra bản kế hoạch tổng thể giai đoạn 2004-2014, với nội dung
nhằm hướng tới các mục tiêu mang tính định hướng rất cụ thể, rõ ràng. Đối
với việc thu hẹp khoảng cách phát triển, ASEAN cũng xác định được các
biện pháp cụ thể và trọng tâm được đề cập trong sáng kiến hội nhập
nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực của các nước thành viên. Về
truyền thông: khởi động một kế hoạch truyền thông toàn diện, xây dựng
một mạng lưới để chia sẻ thông tin, thảo luận và phản hồi cởi mở trong quá
trình thực hiện.
Thứ năm, tăng cường hợp tác với bên ngoài: ASEAN phải trở thành
“một mắt xích năng động và mạnh mẽ hơn trong dây chuyền cung ứng toàn
cầu” nhưng ASEAN và mỗi nước thành viên vẫn phải đảm bảo sự tự cuờng
để khỏi bị lệ thuộc vào những biến động bên ngoài. Chiến dịch hợp tác kinh
tế với bên ngoài của ASEAN dựa trên 3 trụ cột chính: tham gia tích cực vào
hệ thống thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO; tham gia tích cực
vào hợp tác kinh tế Đông Á và Châu Á-Thái Bình Dương (trong khuôn khổ
APEC); tham gia tích cực vào hợp tác với các bên đối ngoại thông qua các
FTA.
1.3. Thiết chế pháp lý của AEC được xác định bao gồm:
7
Hội nghị cấp cao ASEAN (quyền quyết định tối cao), Hội đồng điều
phối ASEAN (gồm các Bộ trưởng ngoại giao ASEAN), Hội đồng AEC
(bao gồm các bộ trưởng phụ trách lĩnh vực kinh tế của các nước thành viên
ASEAN), Ban thư ký ASEAN; Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng
(bao gồm 13 cơ quan là AFTA , AIA, AFMM, AMAF, AMEM, AMMin,
AMMST, TELMIN, ATM, M- ATM , AMBDC, ACE, Trung tâm ASEAN
- Nhật bản tại Tokyo.
1.4. Cấp độ liên kết: Theo lý thuyết, các liên kết kinh tế khu vực được
phân ra thành các cấp độ:
Thứ nhất, câu lạc bộ thương mại ưu đãi ( PTC): được thành lập bởi
hai hay nhiều nước khi họ thực hiện các biện pháp cắt giảm một số loại
thuế quan nhất định đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa từ các nước
thành viên. Tuy nhiên, các nước này vẫn giữ biểu thuế quan không đổi đối
với các nước khác không phải là thành viên. Theo đó, các nước trong khối
giảm mức thuế quan đối với mậu dịch qua lại giữa các nước này, trong khi
chuyển lao động lành nghề chứ chưa phải tự do di chuyển mọi hình thức
lao động. Hay nói cách khác, AEC chỉ là mô hình liên kết khu vực dựa trên
và nâng cao những liên kết kinh tế sẵn có của ASEAN (AFTA, AFAS,
AIA,…) và bổ sung thêm nội dung mới là tự do di chuyển lao động lành
nghề. Điều này được thể hiện cụ thể ở những điểm sau: (i)Khu vực mậu
dịch tự do ASEAN (AFTA) được thành lập vào năm 1992 với mục tiêu thúc
đẩy tự do hóa thương mại trong nội bộ ASEAN bằng cách loại bỏ tất cả các
hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan, tạo ra một thị trường thống
nhất nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường khu vực, thúc
đẩy phân công lao động trong nội bộ khối ASEAN và phát huy lợi thế của
từng nước. Thông qua cấu trúc nội dung của mô hình liên kết AEC có thể
thấy, nội dung của tự do hóa thương mại hàng hóa-một trong 5 yếu tố cốt
lõi để xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất của ASEAN
chính là dựa trên những mục tiêu của AFTA và tiến tới hoàn thành liên kết
kinh tế này. Thông qua AFTA, ASEAN đã và đang đạt được tiến bộ đáng
kể trong việc xóa bỏ thuế quan. Tuy nhiên, tự do di chuyển hàng hóa cũng
đòi hỏi không chỉ thuế suất bằng 0 mà còn phải xóa bỏ những hàng rào phi
thuế quan (như biện pháp hạn ngạch để hạn chế về số lượng hàng nước
ngoài nhập khẩu). Thêm vào đó, phải nâng cao những yếu tố quan trọng
khác nhằm tạo thuận lợi cho sự tự do dịch chuyển hàng hóa như hài hòa các
10
thủ tục hải quan, thành lập cửa sổ ASEAN duy nhất, chứng nhận xuất xứ,
công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn và phù hợp.v.v. (ii)Hiệp định khung
ASEAN về dịch vụ (AFAS) ra đời vào năm 1995 nhằm bổ sung thêm việc tự
do hóa thương mại dịch vụ cho Hiệp định AFTA. Mục tiêu hướng tới của
AFAS là hình thành một khu vực tự do về thương mại dịch vụ vào năm
2020 ( đã được rút ngắn vào năm 2015). Thông qua cấu trúc nội dung của
mô hình liên kết AEC có thể thấy, nội dung về tự do lưu chuyển thương
mại dịch vụ-một trong những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa cộng đồng
kinh tế AEC chính là nhằm mục đích hoàn thành AFAS. Mở rộng công
lựa chọn các loại hàng hóa và dịch vụ đuợc sản xuất trong khu vực cũng
như hàng hóa, dịch vụ đuợc sản xuất ngay tại đất nước mình. Duới góc độ
sản xuất, AEC sẽ là một mạng lưới sản xuất khu vực nơi các yếu tố sản
xuất (như vốn và lao động có tay nghề) được tự do di chuyển. Thị truờng
12
thống nhất và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN luôn gắn liền với nhau, có
thể được hình thành với đìều kiện quan trọng là phải có sự tự do hóa
thương mại hàng hóa và dịch vụ, cũng như tác động ngược lại làm thúc đẩy
sự tự do hóa thương mại trong khu vực cũng như với bên ngoài. Tuy nhiên,
với mục tiêu này thì AEC mới chỉ đáp ứng được hai yếu tố là tự do hóa
thương mại và tự do di chuyển yếu tố sản xuất. Xét trên lý thuyết, với
những nội dung trên, AEC không nằm trong một cấp độ liên kết nào mà
AEC chỉ có thể được gọi là một Thị trường chung trừ (CM-) hay là một khu
vực mậu dịch tự do cộng (FTA+)
(1)
. Cụ thể hơn, CM- tức là trừ đi hai nội
dung bao gồm thuế quan chung với các nước bên ngoài khu vực và hài hòa
hóa các chính sách kinh tế hoặc là FTA+ tức là FTA cộng thêm nội dung di
chuyển tự do các yếu tố sản xuất. Tuy nhiên các yếu tố sản xuất ở đây cũng
không được tự do di chuyển một cách hoàn toàn mà chỉ ở mức độ yếu là tự
do di chuyển hàng hóa và dịch vụ, tự do di chuyển vốn hơn và lao động có
tay nghề.
Thứ ba, AEC là các nền kinh tế “cộng” chứ không phải là một thực
thể kinh tế đơn nhất (đã được nhất thể hóa như Liên minh kinh tế - tiền tệ
Châu Âu). Xét trên thực tế, nội dung của Cộng đồng kinh tế ASEAN
(AEC) có nhiều điểm khác biệt với cộng đồng kinh tế Châu Âu ( EEC).
EEC đã xác định ngay từ đầu là một thị trường chung và từng bước hài hòa
chính sách kinh tế của các nước thành viên ( Điều 2 Hiệp ước Roma), vì
13
vậy điều kiện hội nhập còn thiếu chỉ là đồng tiền chung. Như vậy có thể chỉ
NAFTA là 43%. Thứ hai, năm 2009, ASEAN đã có những nỗ lực lớn trong
việc hoàn thiện cơ chế pháp lý cho AEC bằng việc ký kết 3 thỏa thuận quan
trọng bao gồm: Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA); Hiệp
định đầu tư toàn diện (ACIA); và gói cam kết thứ bảy về dịch vụ trong
khuôn khổ APTA. Hiệp định ATIGA đã có hiệu lực và trở thành công cụ
pháp lý toàn diện với hàng loạt các biện pháp hướng tới sự lưu chuyển hàng
hóa tự do hơn trong AEC, tương tự Hiệp định ACIA thay thế AIA đã tạo ra
một thể chế đầu tư tự do và mở cửa hơn, thể hiện quyết tâm hướng tới mục
tiêu cao nhất là hội nhập kinh tế. Thứ ba, khả năng hoàn thành AFTA,
AFAS, và AIA vào năm 2015 gần như chắc chắn. Các sáng kiến thu hẹp
khoảng cách phát triển của ASEAN đã đạt hiệu quả cao. Những đề xuất
15
mới để xây dựng AEC thành một khu vực có sức cạnh tranh cao, một nền
kinh tế bình đẳng và hội nhập vẫn tiếp tục được đưa ra.VD: trong thương
mại hàng hóa và dịch vụ, ASEAN đang hoàn thiện các tiêu chuẩn công
nhận lẫn nhau và hài hòa hóa hệ thống hải quan để đạt được sự đối xử bình
đẳng, tự do hóa với hàng hóa và dịch vụ lưu thông trong khu vực. Thứ tư,
ASEAN đã có sáng kiến về thực hiện Biểu đánh giá AEC-một biện pháp
nhằm tăng cường cơ chế giám sát, thực thi các thỏa thuận kinh tế của
ASEAN. Về cơ bản, biện pháp này đã phát huy hiệu quả thực chất, đến
tháng 12/2009, có 91/124 văn kiện pháp lý được ký kết liên quan tới AEC
đã có hiệu lực. Thứ năm, các biện pháp nâng cao nhận thức của Cộng đồng
về AEC thông qua Chương trình truyền thông AEC cũng được các thành
viên ASEAN áp dụng có sáng tạo và hiệu quả như: phổ biến thông tin, kiến
thức cập nhật về AEC, xây dựng Chương trình truyền thông AEC, Thứ
sáu, ASEAN cũng đang tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả
của hệ thống thể chế, góp phần thuận lợi hóa cho việc thực hiện các nội
dung của AEC. Cải tiến cơ chế giải quyết tranh chấp được xem là một trong
những trọng tâm của công tác củng cố thể chế hợp tác kinh tế ASEAN.
Việc triển khai đàm phán từ năm 2003 đến 2007, cơ chế giải quyết tranh
kế hoạch về một đồng tiền chung cho toàn ASEAN trong vòng 10-15 năm
tới. Thứ tư, những kết quả trong tự do hóa dịch vụ, đầu tư cũng khá khả
quan, tuy nhiên, các nước ASEAN vẫn chưa thực sự thực hiện cam kết tự
do hóa đầu tư. Ngoài ra, vẫn còn có một số lĩnh vực đầu tư bị Nhà nước
kiểm soát chặt chẽ. Đây được coi là một trong những yếu tố làm giảm năng
lực cạnh tranh của ASEAN. Thứ năm, sự cách biệt về trình độ phát triển
trong ASEAN có vẻ như chưa thể lấp đầy được đến năm 2020 và đó là một
trở ngại khác nữa đối với sự hội nhập khu vực. ASEAN cần có thêm nhiều
các Chương trình bổ sung cho Xúc tiến hội nhập ASEAN. Chính vì vậy mà
một sự hội nhập kinh tế sâu hơn là điều cấp bách cho dù sự hội nhập hài
hòa là điều vẫn chưa hòan thành trong ASEAN. Tất cả các cổ đông trong
khu vực cần giải quyết nhanh chóng và triệt để nhằm bước tiếp những bước
tiếp theo để hướng tới AEC.
2.Thách thức từ tiến độ hội nhập kinh tế khu vực chậm chạp: Một trong
những thách thức mà ASEAN phải đối mặt trong việc thực hiện hóa cộng
đồng kinh tế ASEAN là sự chậm trễ của các nước trong việc thực hiện các
cam kết hội nhập của khu vực “lộ trình tổng thể thực hiện mục tiêu AEC
18
vào năm 2015”. Tại hội nghị cấp cao ASEAN 17 diễn ra tại Hà Nội, đại
diện ASEAN đã đưa ra một số lý do cho sự chậm trễ này, như: vấn đề mâu
thuẫn giữa lợi ích của khu vực và lợi ích quốc gia; sự chuyển đổi các cam
kết khu vực để trở thành luật lệ, chính sách trong nước, quá trình hài hòa
chính sách, quy định, tiêu chuẩn trong nước giữa các thành viên diễn ra
không như mong đợi; và khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, các
quốc gia ASEAN vẫn còn chênh lệch rất lớn.
III.Triển vọng của Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015:
Thông qua việc tìm hiểu những thành tựu và thách thức của AEC, ta
có thể rút ra một số kết luận về triển vọng phát triển của Cộng đồng kinh tế
ASEAN vào năm 2015 như sau: Thứ nhất, AEC sẽ hội nhập như kế hoạch
đã định là trở thành một FTA+ vào năm 2015. AEC cũng có thể tiến hơn
-Thuế quan
chung
X X X
-Tự do hàng hóa;
-Tự do dịch vụ
X X X X X
Khu vực
thương
Liên minh
thuế quan
Thị trường
chung
Liên
minh
AEC
20
mại tự do
kinh tế
tiền tệ
_______________________________________
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1.Tập bài giảng Pháp luật cộng đồng ASEAN, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Khoa Pháp luật quốc tế, Trung tâm Luật Châu Á – Thái Bình Dương,
Hà Nội, 2011;
2.Tiến trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN và những đóng góp của
Việt nam, Khóa luận tốt nghiệp, Phạm Thị Bích, Hà Nội, 2010;
3.Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) – từ tầm nhìn tới hành động, Khóa luận
tốt nghiệp, Nguyễn Thu Trang, Hà Nội, 2011.
4.Websites:
http://www.aseansec.org/, tháng 12 / 2006