Luận Văn Bình luận mô hình liên kết của cộng đồng kinh tế asean (aec) - Pdf 26

MỤC LỤC
A. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC KHU KINH TẾ ĐẶC BIỆT VÀ
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU KINH TẾ ĐẶC BIỆT

I. Khái quát chung về các khu kinh tế đặc biệt:
1. Khái niệm “khu kinh tế đặc biệt”

Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế (gọi chung là các khu kinh tế đặc biệt)
là mô hình phát triển kinh tế quan trọng. Ở nước ta hiện nay, các khu, cụm công
nghiệp gồm hai loại: do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và hoạt động
theo quy chế pháp lý ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ hoặc quyết
định của Thủ tướng Chính phủ và các cụm công nghiệp do chính quyền địa
phương thành lập. Việc xây dựng và phát triển các khu kinh tế đặc biệt là đường
lối phát triển đúng đắn đối với nền công nghiệp nói riêng, nền kinh tế - xã hội
của đất nước nói chung. Đây chính là giải pháp thiết thực và đúng đắn nhất để
có thể vừa khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn vốn trong nước cũng như tạo cơ
hội để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, phục vụ cho sự nghiệp phát triển
toàn diện của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2. Phân loại các khu kinh tế đặc biệt & khái niệm (Khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế)

Theo quy định tại điều 3 Luật Đầu tư 2005 các thuật ngữ khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế được định nghĩa như sau: (i)
2
Khu công nghiệp (KCN) là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành
lập theo quy định của Chính phủ. (ii) Khu chế xuất (KCX) là khu công nghiệp
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy
định của Chính phủ. (iii) Khu công nghệ cao (KCNC) là khu chuyên nghiên cứu

quan để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc điều chỉnh bổ sung quy
hoạch hoặc quyết định mở cửa thị trường đầu tư"; " cơ quan cấp Giấy chứng
nhận đầu tư lấy ý kiến Bộ quản lý ngành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ
quan khác có liên quan, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu
tư" (trong trường hợp dự án đầu tư không nằm trong quy hoạch đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt, dự án không đáp ứng các
điều kiện mở cửa thị trường quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
4
viên hoặc dự án đầu tư thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch) (Khoản 4, 5, 6 Điều
37 Nghị định 108).
2. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư vào các khu kinh tế đặc biệt

Căn cứ vào quy mô dự án đầu tư, lĩnh vực đầu tư cũng như việc phân cấp
quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư
được quy định cụ thể như sau: Thứ nhất, dự án do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
cấp Giấy chứng nhận đầu tư: ”Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đối với những địa phương chưa
thành lập Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao”.
Như vậy, đối với những dự án mà địa phương nơi đó chưa có Ban quản lý thì
Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xem xét dự án và cấp Giấy chứng nhận
đầu tư theo luật định (Khoản 2 Điều 38 Nghị định 108/2006/NĐ-CP). Thứ hai,
dự án do Ban Quản lý KCN, KCX, KCNC, KKT cấp Giấy chứng nhận đầu tư:
theo Điều 39 Nghị định 108 thì Ban Quản lý các khu kinh tế đặc biệt thực hiện
việc đăng ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án đầu tư vào KCN,
KCX, KCNC, KKT, bao gồm cả các dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính
phủ chấp thuận chủ trương đầu tư quy định tại Điều 37 Nghị định 108. Điều này
có nghĩa là đối với những địa phương mà đã có Ban quản lý thì thẩm quyền
thuộc về Ban quản lý chứ không phải Ủy ban nhân dân cấp tỉnh địa phương đó
nữa.
5

Nghị định 108: “Nhà đầu tư trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này có
nhu cầu xác nhận ưu đãi đầu tư hoặc cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì thực hiện
thủ tục đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định tại Điều 43
Nghị định này”. Thứ hai, theo Khoản 2 Điều 45 Luật Đầu tư năm 2005 và
Khoản 1 Điều 43 Nghị định 108 thì: những dự án có quy mô vốn đầu tư từ 15 tỷ
đồng Việt nam đến dưới 300 tỷ đồng Việt nam và không thuộc danh mục lĩnh
vực đầu tư có điều kiện và không thuộc dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận chủ trường đầu tư theo Khoản 1 Điều 37 Nghị định 108 thì nhà đầu tư
phải làm thủ tục đăng ký đầu tư tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án đầu tư quy
định tại Điều 40 Nghị định 108 (Khoản 2 Điều 43). Đồng thời, “trường hợp nhà
đầu tư có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận đầu tư và yêu cầu xác nhận ưu đãi đầu
tư thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư căn cứ vào nội dung đăng ký đầu tư
7
để cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được bản đăng ký đầu tư” (Khoản 4 Điều 43 Nghị định 108/2006/NĐ-
CP).
b. Về nội dung đăng ký đầu tư: Theo Khoản 3 Điều 45 Luật Đầu tư thì nội dung
đăng ký đầu tư bao gồm: “a) Tư cách pháp lý của nhà đầu tư; b) Mục tiêu, quy
mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư; c) Vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án;
d) Nhu cầu sử dụng đất và cam kết về bảo vệ môi trường; đ) Kiến nghị ưu đãi
đầu tư (nếu có)”.
c. Quy trình thủ tục đăng ký đầu tư: Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định 108
không quy định cụ thể về quy trình thủ tục đăng ký đầu tư. Do đó, ban quản lý
các khu kinh tế đặc biệt tuy theo điều kiện cụ thể mà đưa ra quy trình thủ tục
đăng ký đầu tư cụ thể. Ví dụ: tại Khu kinh tế Vân Phong – Khánh Hòa, ban quản
lý khu kinh tế đã đưa ra quy trình thủ tục đăng ký đầu tư như sau: Nhà đầu tư
nộp 05 bộ hồ sơ đăng ký đầu tư tại Ban Quản lý Khu kinh tế và thời gian giải
quyết là 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
d. Nhà đầu tư đăng ký đầu tư trước khi thực hiện dự án đầu tư (Khoản 4 Điều 45
Luật Đầu tư năm 2005)

các Điều 54 và 55 Nghị định 108/2006/NĐ-CP).
2.2. Đối với các dự án đầu tư gắn với việc thành lập các tổ chức kinh tế

Bên cạnh các quy định giống như trên thì trong trường hợp dự án đầu tư
gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế chỉ khác ở thủ tục đăng ký đầu tư: ngoài
hồ sơ quy định như đối với các dự án đầu tư không gắn với việc thành lập các tổ
chức kinh tế, nhà đầu tư phải nộp kèm theo: a) Hồ sơ đăng ký kinh doanh tương
ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh
nghiệp và pháp luật có liên quan; b) Hợp đồng liên doanh đối với hình thức đầu
tư thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư
nước ngoài.
Mặc dù pháp luật quy định chung về thủ tục đầu tư đối với KCN, KCX,
KCNC, KKT nhưng trên thực tế thủ tục đầu tư vào KCN, KCX và thủ tục đầu
tư vào KCNC, KKT có sự khác nhau. KCNC, KKT thường có quy mô rất lớn,
có những đặc thù riêng, được tổ chức và hoạt động theo mô hình các khu chức
năng khác nhau. Hiện nay Thủ tướng Chính phủ chưa có quyết định phê duyệt
10
quy hoạch tổng thể quốc gia về phát triển khu kinh tế và quy hoạch tổng thể phát
triển khu công nghệ cao. Ngoài ra, việc đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật KCNC, KKT có liên quan tới nguồn vốn hỗ trợ đầu tư từ ngân
sách nhà nước và phương thức huy động các nguồn vốn khác theo quy định tại
Điều 36 của Nghị định 108. Do vậy, việc thành lập khu kinh tế và khu công
nghệ cao phải được Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư và quyết
định thành lập.
3.Thẩm tra dự án đầu tư (áp dụng đối với cả các dự án đầu tư trực tiếp
trong nước và dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài)
3.1. Thẩm tra đối với dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng Việt
Nam trở lên và không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện

Thứ nhất, hồ sơ thẩm tra đầu tư gồm: Hồ sơ thẩm tra đối với trường hợp

điều kiện được quy định tại Khoản 1 Điều 47 Nghị định 108. Thứ hai, nội dung
12
thẩm tra : Theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 Nghị định 108 thì nội dung thẩm
tra đối với các dự án có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng Việt nam trở lên và
thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện sẽ được thực hiện theo quy định tại Khoản 3
Điều 45 và Khoản 2 Điều 46 Nghị định 108.
Bên cạnh đó, Điều 48, Điều 49 Nghị định 108 còn quy định đối với những
dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ và những
dự án đầu tư thuộc diện thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư cũng phải được
thực hiện thẩm tra.
C. ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
THỦ TỤC ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU KINH TẾ ĐẶC BIỆT

Nhìn chung, hiện nay pháp luật nước ta đã tạo ra những thuận lợi về thủ
tục hành chính thông qua các quy định đơn giản, thông thoáng hơn so với luật cũ
trước đây theo nguyên tắc “một cửa, tại chỗ”. Cụ thể, theo Luật đầu tư 2005,
nhà đầu tư chỉ cần làm các thủ tục tại ban quản lí các khu công nghiệp cấp tỉnh
thay vì phải đến làm thủ tục nhiều cơ quan, tổ chức khác như trước đây. Trên cơ
sở được phân cấp, ủy quyền quản lý hoạt động đầu tư tại các khu công nghiệp,
ban quản lí các khu công nghiệp sẽ có trách nhiệm tiến hành thực hiện các thủ
tục đầu tư: thẩm định, cấp, thu hồi giấy chứng nhận đầu tư cũng như việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư…để cho các nhà đầu tư hoàn thành thủ tục
một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Bên cạnh đó, Nhà nước luôn đảm bảo
13
thủ tục đầu tư thông thoáng và đơn giản đối với hoạt động đầu tư tại các khu
công nghiệp, khu kinh tế đặc biệt và coi đó là một yếu tố thuận lợi nhằm thu hút
đầu tư. Trước khi Luật đầu tư 2005 và Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực,
pháp luật nước ta có sự phân chia thành hai loại thủ tục hành chính: một áp dụng
riêng cho nhà đầu tư trong nước và một áp dụng riêng cho nhà đầu tư nước
ngoài. Mặc dù các thủ tục đó đều đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư

8. Nghị định 99/2003/NĐ-Cp về Quy chế khu công nghệ cao.
9. Websites:
15
o http://www.vanphong.gov.vn/bqlvp/index.nsf/0/5554AACAD25
29A13472571CA00003796?
Open&category=5D68A6A0979F6DB04725721F000CEC7E&i
d=5D68A6A0979F6DB04725721F000CEC7E&Start=0
o http://www.khucongnghiep.com.vn/news_detail.asp?
ID=162&CID=172&IDN=1229
o www.chinhphu.vn
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status