Mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN - Pdf 36

Bình luận về mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN
1. Bình luận về mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.1. Khái quát về Cộng đồng kinh tế ASEAN và mô hình liên kết
của Cộng đồng kinh tế ASEAN.
a. Khái niệm Cộng đồng kinh tế ASEAN
Ý tưởng về việc thành lập một cộng đồng kinh tế của ASEAN lần
đầu tiên được thủ tướng Goh Chok Tong của Singapore chính thức
đưa ra tại Hội nghị cấp cao ASEAN 8 ở Phnom Pênh vào tháng 11/
2002 với đề nghị ASEAN xem xét thành lập Cộng đồng kinh tế
ASEAN. Sau đó, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9, trong Tuyên
bố Bali II, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí quyết định thực hiện
ý tưởng trên và coi đây là một trong ba trụ cột để xây dựng Cộng
đồng ASEAN.
Khái niệm về Cộng đồng kinh tế ASEAN được hiểu như sau: Cộng
đồng kinh tế ASEAN là liên kết kinh tế của ASEAN, hình thành trên
cơ sở một hệ thống thể chế và thiết chế pháp lý, nhằm xây dựng
ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, có
tính cạnh tranh cao, phát triển đồng đều giữa các nền kinh tế
thành viên và hội nhập hoàn toàn vào nên kinh tế toàn cầu. Như
vậy, khái niệm Cộng đồng kinh tế ASEAN không phải là một khái
niệm kinh tế quốc tế thuần túy mà thực chất là một khái niệm
pháp lý do các nhà lãnh đạo ASEAN xác lập và hoàn thiện trong
các văn bản pháp lý của ASEAN.
b. Mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN


Cấu trúc nội dung
Theo các văn bản pháp lý của ASEAN, nội dung của AEC bao gồm:
1. Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất: Một thị trường và cơ sở
sản
xuất thống nhất của ASEAN bao gồm năm yếu tố cốt lõi: Tự do hóa

- Hội nghị cấp cao ASEAN có quyền quyết tối cao đối với việc thi
hành AEC như là một phần của Cộng đồng ASEAN.
- Hội đồng điều phối ASEAN, gồm các bộ trưởng ngoại giao ASEAN,
có trách nhiệm điều phối việc thi hành ba cộng đồng.
- Hội đồng AEC bao gồm các bộ trưởng phụ trách lĩnh vực kinh tế
của các nước thành viên ASEAN có trách nhiệm đưa ra các định
hướng, chính sách, các biện pháp tăng cường hợp tác kinh tế của
ASEAN và phối hợp với các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng
về hợp tác kinh tế trong từng lĩnh vực cụ thể. Hội đồng AEC có hai
cơ quan giúp việc là nhóm đặc trách cao cấp về hội nhập kinh tế
ASEAN (HLTF) và hội nghị quan chức kinh tế cao cấp (SEOM).


- Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng, bao gồm: Hội nghị bộ
trưởng kinh tế ASEAN (AEM); hội đồng khu vực thương mại tự do
ASEAN (Hội đồng AFTA); Hội đồng khu vực đầu tư ASEAN (AIA); Hội
nghị bộ trưởng tài chính ASEAN (AFMM); Hội nghị bộ trưởng nông –
lâm nghiệp ASEAN (AMAF); Hội nghị bộ trưởng năng lượng ASEAN
(AMEM); Hội nghị cấp bộ trưởng về khoáng sản ASEAN (AMMin);
Hội nghị bộ trưởng khoa học và công nghệ ASEAN (AMMST); Hội
nghị bộ trưởng ASEAN về viễn thông và công nghệ thông tin
(TELMIN); Hội nghị bộ trưởng giao thông vận tải ASEAN (ATM); Hội
nghị bộ trưởng du lịch ASEAN (M -ATM); Cơ quan hợp tác phát triển
lưu vực sông Mekong của ASEAN (AMBDC); Trung tâm năng lượng
ASEAN (ACE); Trung tâm ASEAN – Nhật Bản tại Tokyo.
- Ban thư ký ASEAN
Cấp độ liên kết
Theo lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế, xét về mặt nội dung,
các liên kết khu vực được cấu thành từ một hoặc một số hoặc từ
tất cả các nội dung sau: Sự tự do thương mại về hàng hóa; sự tự

thức xây dựng và thực hiện AEC cần được cụ thể hoá theo từng
tiến trình, nấc thang, từ việc kế thừa những sáng kiến đã có đến
việc xây dựng sáng kiến mới và tiếp tục hoàn thiện cơ chế hơn nữa
sau đó mới tính đến những bước đi vững chắc và hội nhập kinh tế những nội dung này đều được Asean khẳng định rõ trong Tuyên
Bali II và Bản khuyến nghị của nhóm đặc trách cao cấp về hội nhạp
kinh tế Asean (HLTF.)


Mô hình liên kết của AEC phù hợp với ASEAN. Bởi lẽ về bản chất,
ASEAN bao gồm các quốc gia thành viên mà giữa họ có sự khác
biệt nhau rất lớn về thể chế chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội,
sự đa dạng trong văn hóa. Nếu như không có sự gắn kết đặc biệt
thì Cộng đồng kinh tế ASEAN khó có thể trở thành hiện thực. Đặc
biệt là sự khác biệt về khả năng kinh tế nên phương thức xây dựng
và thực hiện AEC cần có những bước đi thận trọng chứ không thể
nóng vội, cần có lộ trình phù hợp theo từng mức độ từ hoàn thành
các chương trình sáng kiến đến phát triển, hoàn thiện cơ chế và
đẩy mạnh hội nhập, tăng cường hợp tác với các quốc gia bên
ngoài, trên cơ sở sự thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia thành
viên.
Thêm vào đó, các cơ cấu thiết chế của AEC có thể được đánh giá
cao ở khả năng tương thích với mục tiêu và các yêu cầu cũng như
các thách thức kinh tế đặt ra cho Asean, như Hội đồng khu vực
thương mại tự do AFTA, Hội đồng khu vực đầu tư, Hội nghị Bộ
trưởng năng lượng, Hội nghị cấp Bộ trưởng về khoảng sản về khoa
học công nghệ… đến cơ quan về phát triển thế mạnh của Asean
như: Hội nghị Bộ trưởng nông – lâm nghiệp, và cơ quan giả quyết
vấn đề kinh tế chung của một số quốc gia trong Asean như: Cơ
quan hợp tác phát triển Sông Mê Kông. Điều đó cũng khẳng định
thiết chế pháp lý của AEC không chỉ được xây dựng để giải quyết

mại trong nội bộ ASEAN bằng cách loại bỏ tất cả các hàng rào thuế
quan và hàng rào phi thuế quan, tạo ra một thị trường thống nhất
nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường khu vực,
thúc đẩy phân công lao động trong nội bộ khối ASEAN và phát huy
lợi thế của từng nước. Thông qua AFTA, ASEAN đã và đang đạt
được tiến bộ đáng kể trong việc xóa bỏ thuế quan. (ii)Hiệp định
khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) ra đời vào năm 1995 nhằm bổ


sung thêm việc tự do hóa thương mại dịch vụ cho Hiệp định AFTA.
Mục tiêu hướng tới của AFAS là hình thành một khu vực tự do về
thương mại dịch vụ vào năm 2020 (đã được rút ngắn vào năm
2015). Thông qua cấu trúc nội dung của mô hình liên kết AEC có
thể thấy, nội dung về tự do lưu chuyển thương mại dịch vụ-một
trong những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa cộng đồng kinh tế
AEC chính là nhằm mục đích hoàn thành AFAS. Mở rộng công nhận
dịch vụ AFAS được tiến hành thông qua những vòng đàm phán chủ
yếu của Ủy ban phối hợp và dịch vụ. Ngoài ra, để hỗ trợ cho việc
thực hiện AFAS, một nội dung quan trọng đã được bổ sung để xây
dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất của ASEAN đó là
tự do di chuyển lao động có tay nghề. Nội dung này được thực hiện
thông qua việc tạo thuận lợi hơn trong cấp visa, giấy phép hành
nghề của lao động nước ngoài tại các quốc gia ASEAN hoặc xuất
khẩu lao động của các quốc gia ASEAN; tăng cường hợp tác trong
khuôn khổ mạng lưới các trường đại học ASEAN, xây dựng các kỹ
năng, tiêu chuẩn nghề nghiệp cơ bản, tăng cường năng lực nghiên
cứu của các nước, xây dựng mạng lưới thông tin về thị trường lao
động.v.v..(iii)Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) lần đầu tiên được quy
định trong Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN. Mục tiêu cơ
bản của AIA là tạo ra một thị trường đầu tư thông thoáng và minh

gắn liền với nhau, có thể được hình thành với đìều kiện quan trọng
là phải có sự tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, cũng như
tác động ngược lại làm thúc đẩy sự tự do hóa thương mại trong
khu vực cũng như với bên ngoài. Tuy nhiên, với mục tiêu này thì
AEC mới chỉ đáp ứng được hai yếu tố là tự do hóa thương mại và tự
do di chuyển yếu tố sản xuất. Xét trên lý thuyết, với những nội
dung trên, AEC không nằm trong một cấp độ liên kết nào mà AEC
chỉ có thể được gọi là một Thị trường chung trừ (CM-) hay là một
khu vực mậu dịch tự do cộng (FTA+).


Thứ tư, AEC là các nền kinh tế “cộng” chứ không phải là một thực
thể kinh tế đơn nhất (đã được nhất thể hóa như Liên minh kinh tế tiền tệ Châu Âu). So với Liên minh kinh tế tiền tệ của EU hiện nay,
thì mức độ liên kết kinh tế của Asean còn thấp hơn nhiều, bởi Liên
minh kinh tế tiền tệ (EMU) là cấp độ phát triển cao nhất của các
liên kết khu vực hiện nay. Và EU đã đạt đến mức độ này, với sự ra
đời của đồng tiền chung Châu Âu vào ngày 1/1/202. Trong khi đó,
AEC mới chỉ là một mô hình liên kết kinh tế dừng lại ở mức FTA+
và CM_, khoảng cách giữa AEC với liên minh kinh tế tiền tệ của EU
là khá xa về mức thuế quan chung về phối hiựp chính sách kinh tế
và chính sách tiền tệ chung với đồng tiền chung của khu vực.
Xét trên thực tế, nội dung của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
cũng không giống với cộng đồng kinh tế Châu Âu trước đây (EEC) –
tiền thân EU sau này. EEC bắt đàu từ một thị trường chung thống
nhất cho một vài sản phẩm (than, thép…) và từ năm 1968 EEC
chuyển từ Liên minh Hải quan thành một thị trường chung. Như
vậy, EEC đã xác định ngay từ đầu là một thị trường chung và từng
bước hài hòa, phối hợp chính sách kinh tế của các nước thành viên
(Điều 2 Hiệp ước Roma), vì vậy điều kiện hội nhập còn thiếu chỉ là
đồng tiền chung, và sau này Liên minh kinh tế tiền tệ EU đã làm

mà nguyên tắc thể hiện những hạn chế của nó trong lĩnh vực kinh
tế.
Để khắc phục những điểm yếu của nguyên tắc đồng thuận trong
lĩnh vực kinh tế, tăng tính linh hoạt, năng động và đẩy nhanh tiến
trình hội nhập kinh tế thì AEC áp dụng công thức – X trong quá
trình thực hiện vấn đề kinh tế. Khác với công thức 2+X trước đây
(cho phép các quốc gia thành viên có đủ điều kiện có thể thực hiện
trước các hoạt động hội nhập kinh tế) chỉ phản ánh quá trình hội


nhập đi từ số ít các quốc gia muốn “vượt trước”, công thức –X
(ASEAN –X hay 10-X) cho phép các quốc gia chưa đủ điều kiện có
thể thực hiện các cam kết kinh tế chậm hơn so với lộ trình chung
nhưng không được hưởng ưu đãi mở cửa từ các quốc gia thực hiện
theo lộ trình chung. Điều này phản ánh quá trình hội nhập đi từ số
nhiều và một khả năng là những nước chậm trễ có thể bị đặt ra
ngoài lề của quá trình đó.
2. Đánh giá triển vọng của Cộng đồng kinh tế vào năm 2015
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ bảy, tháng 1/2007 tại Xê-bu,
Phi-li-pin, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua xây dựng Kế
hoạch tổng thể và Lộ trình chiến lược thực hiện AEC với các biện
pháp chi tiết và một thể chế thực thi chặt chẽ, đồng thời quyết
định đẩy nhanh mục tiêu hoàn thành AEC vào năm 2015 mà theo
dự kiến ban đầu của các nhà lãnh đạo ASEAN là vào năm 2020.
Theo kế hoạch, từ năm 2015 AEC sẽ là một thị trường chung, một
không gian sản xuất thống nhất. Thị trường ấy sẽ phát huy lợi thế
chung của khu vực ASEAN để từng bước xây dựng một khu vực
năng động, có tính cạnh tranh cao trên thế giới, đem lại sự thịnh
vượng chung cho nhân dân và các quốc gia ASEAN. Điều mong đợi
hơn cả là việc AEC có thể tạo nên sự liên kết chuỗi giữa các doanh

dựng AEC. Tự do hóa thương mại, xu thế đàm phán và kí kết các
hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực tiếp tục được
đẩy mạnh. Toàn cầu hóa cũng mang lại cho các nước thành viên
ASEAN cơ hội tăng trưởng kinh tế cao, làm thay đổi cơ cấu kinh tế


theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao mức sống và
thu nhập của người dân…
Thứ ba, quá trình hợp tác liên kết ASEAN có cơ hội được thúc đẩy
mạnh hơn do sự phát triển của liên kết kinh tế Đông Á. Sự nỗ lực
hợp tác giữa các nước Đông Á có ảnh hưởng rất lớn đến triển vọng
hợp tác, liên kết ASEAN vì ASEAN không chỉ là một bộ phận hợp
thành quan trọng của Đông Á, mà ASEAN còn được coi là có vai trò
nòng cốt, khởi xướng nhiều sáng kiến cho hợp tác Đông Á và châu
Á, Thái Bình Dương trên lĩnh vực kinh tế và cả chính trị.
Thứ tư, thực tiễn triển khai xây dựng AEC đã có những thành tựu
đáng kể. Về thương mại hàng hóa, kể từ năm 2010, các nước
ASEAN-6 áp dụng thuế suất bằng 0% đối với hầu hết các mặt
hàng, 4 nước còn lại sẽ thực hiện vào năm 2015. Tiếp đó trên cơ sở
Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT/AFTA), hiệp
định ATIGA được xây dựng là chương trình giảm thuế thành công
nhất của ASEAN từ trước đến nay, đồng thời cập nhật nhiều thỏa
thuận mà ASEAN đã đạt được qua hơn 15 năm thực hiện
CEPT/AFTA. Về thương mại dịch vụ, đầu tư Hiệp định Đầu tư toàn
diện ASEAN (ACIA) đã được kí tại hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ
14 (02/2009) để thay thế các hiệp định AIA và IGA. Việc thu hiện
thu hẹp khoảng cách phát triển và hợp tác tiểu vùng đang được
tích cực triển khai. Đến nay Kế hoạch hành động IAI đã thực hiện
xong giai đoạn I gồm 134 dự án với số vốn huy động là hơn 48
triêu USD và đang tiến hành triển khai Kế hoạch hành động IAI giai

(Singapore xấp xỉ 50 nghìn USD) và nước thấp nhất (Việt Nam
2.900USD; Mianma 1.100USD) có sự chênh lệch đáng kể. Quy mô
thị trường và cấu trúc thương mại cũng có sự khác biệt: Trong khi
Tổng GDP của Inđônêxia đạt 546 tỷ USD, của Thái lan, Malaisia,


Singapore cũng đạt trên dưới 200 tỷ USD thì những nền kinh tế
như Lào, Mianma, Campuchia chỉ đạt từ 5 đến 18 tỷ USD, thấp hơn
80 - 90 lần so với các thành viên khác. Về thương mại, Singgapore
là nước có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất trong số 10
nước thành viên ASEAN với trị giá 516 tỷ USD - chiếm 33,5% tổng
trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của ASEAN. Tiếp đến là Thái-lan
chiếm 18,6%, Malaisia chiếm 18,3%. Trong khi đó, tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu của ba nước Lào, Mianma, Campuchia chỉ đạt
2,2%. Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và năng lượng: sự phát
triển của 2 nhóm nước cũng được thể hiện rõ. Từ năm 2007,
Singapore và Thái lan đã có hệ thống đường trải nhựa với tỷ lệ gần
như 100%, Malaisia 78%. Còn ở các nước Cam-pu-chia, Lào và Việt
Nam thì đến năm 2009 tỷ lệ vẫn chỉ trên 20%. Nhóm CLMV cũng
thiếu kết cấu hạ tầng "mềm" (công nghệ thông tin, viễn thông và
hệ thống ITC) - điều kiện tối cần thiết cho các giai đoạn phát triển
tiếp theo.
Hai là, thị trường ASEAN là một thị trường “cộng” chứ không hoàn
toàn “hòa nhập” của tất cả thị trường các nước thành viên, với
những chính sách kinh tế không công khai, phát triển ở nhiều cấp
độ, lại chủ yếu hướng ra bên ngoài chứ không phải vào thị trường
nội khối.
Ba là, ASEAN không có một nền kinh tế đầu tàu và một đồng tiền
mạnh để dẫn dắt khu vực. Trong khi đó, viễn cảnh một "Cộng đồng
kinh tế Đông Á" lại tỏ ra hấp dẫn hơn AEC do khu vực này có hai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status