LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ BẤT LỢI
CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC) ĐỐI VỚI VIỆT NAM
PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng 1
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là một cơ chế hợp tác khu vực vừa tạo ra lợi
ích kinh tế và gây ra những bất lợi đối với các nước thành viên. Việc phân tích và đánh
giá các loại lợi ích và bất lợi kinh tế của AEC là cần thiết để tiến tới hình thành cơ chế
hợp tác theo chiều sâu giữa các nước thành viên nhằm tối đa hóa các loại lợi ích và giảm
thiểu những bất lợi, hình thành lợi ích mang tính chiến lược của cả cộng đồng, tạo nền
tảng duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của cộng đồng về lâu dài. Bài viết chỉ ra
các loại lợi ích và bất lợi của nền kinh tế Việt Nam trong AEC từ đó đề xuất giải pháp để
Việt Nam gia tăng lợi ích và giảm thiểu bất lợi cũng như góp phần thúc đẩy sự hình thành
và phát triển AEC có hiệu quả.
Từ khóa: Lợi ích và bất lợi kinh tế, AEC, Việt Nam
Abstract
AEC is a regional cooperative mechanism that brings both economic benefits and
costs for each member. It is neccesary to analyze and evaluate economic benefits and
costs of AEC towards establishing a deep co-operation mechanism between members to
maximize economic benefits and minimize costs as well as to establish the strategic
benefit, stability and sustainable develepment for the community. The paper analyzes the
economic benefits and costs for Vietnam within AEC, and then suggests the solutions to
increase the benefits and to reduce the costs, which will partially contributes to AEC’s
effective establishment and development.
Key words: Economic benefits and costs, AEC, Vietnam
1. Giới thiệu
Tự do hóa thương mại là xu hướng mang tính khách quan và cơ bản trong chính
sách thương mại quốc tế đồng thời phản ánh sự vận động quy luật lợi thế so sánh trên
phạm vi toàn cầu. Nó vừa tạo ra lợi ích vừa dẫn đến những bất lợi đối với các bên tham
gia do tác động của sự gia tăng nhanh chóng thậm chí đột biến thương mại cũng như di
chuyển nguồn lực. Lợi ích và bất lợi gần như là những nội dung gắn với việc tham gia
hợp và so sánh dựa trên mô hình tạo lập và chuyển hướng mậu dịch cũng như mô hình di
chuyển vốn quốc tế để tính toán các lợi ích và bất lợi này đối với một số quốc gia lựa
chọn và cả AEC. Dữ liệu sử dụng trong bài được thu thập là cơ sở dữ liệu của Ban thư ký
ASEAN, Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và số liệu
thống kê của các nước thành viên.
2. Đặc trưng của AEC
Theo lý thuyết hội nhập kinh tế quốc tế của Balassa (1961)-một lý thuyết có ảnh
hưởng đáng kể và khá lâu dài đến phương pháp luận phân tích các quá trình hội nhập
quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế có các cấp độ khác nhau như thành lập khu vực mậu
dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh tiền tệ, liên minh kinh tế.
Hội nhập còn có thể xem xét từ khia cạnh hội nhập đơn phương, song phương hoặc đa
phương.
Tinberger phát triển và đưa ra khái niệm hội nhập thụ động và hội nhập chủ động.
Hội nhập thụ động là quá trình loại bỏ các loại rào cản đặc biệt là rào cản nhân tạo còn
hội nhập chủ động là quá trình sáng tạo ra các thể chế và cơ chế mới cũng như áp dụng
các loại công cụ và biện pháp mới hoặc điều chỉnh thể chế hiện có.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có những đặc điểm nổi bật, thể hiện:
- Lấy các lợi ích cơ bản và chiến lược làm nền tảng đánh giá, phân tích và xây
dựng các hình thức, chiến lược và chính sách hội nhập.
- Các hiệp định quốc tế về thương mại và các lĩnh vực có liên quan được đàm
phán, ký kết tạo khuôn khổ pháp lý ổn định, vững chắc.
- Dẫn đầu khu vực thường là một nhóm nước có trình độ phát triển cao, nhận thức
đầy đủ về xu hướng vận động tất yếu của hội nhập, đề xướng khuôn khổ phát triển cũng
như xây dựng thể chế vận hành cả hệ thống.
2
- Các nguyên tắc ứng xử lâu dài được coi trọng và đề cao, trở thành mối quan tâm
hàng đầu của các quốc gia trong quá trình đàm phán hội nhập cũng như là nền tảng giải
A.
B.
C.
D.
Hộp 1: Những nội dung của AEC
Một thị trường thống nhất và một cơ sở sản xuất
A1. Di chuyển hàng hóa tự do
A2. Di chuyển dịch vụ tự do
A3. Di chuyển đầu tư tự do
A4. Di chuyển vốn tự do
A5. Di chuyển lao động có kỹ năng tự do
A6. Các lĩnh vực hội nhập ưu tiên
A7. Thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp
Một khu vực kinh tế cạnh tranh
B1. Chính sách cạnh tranh
B2. Bảo vệ người tiêu dùng
B3. Quyền sở hữu trí tuệ
B4. Thuế khóa
B5. Thương mại điện tử
Phát triển kinh tế công bằng
C1. Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
C2. Sáng kiến hội nhập ASEAN
Hội nhập kinh tế toàn cầu
D1. Tăng cường phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại
khoảng 5%, thu nhập bình quân đầu người khoảng 4.000 USD, tổng kim ngạch xuất- nhập
khẩu hàng hóa khoảng 2.600 tỷ USD, lượng vốn FDI thu hút mỗi năm trung bình 120 tỷ
USD và lượng khách du lịch đến ASEAN khoảng 90 triệu lượt khách/năm. Điều này cho
thấy tiềm năng lớn của AEC có thể huy động để phát triển kinh tế trong thời gian tới bằng
thể chế hiệu quả và mức độ liên kết nội bộ cao. (Bảng 1)
Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của AEC
Chỉ tiêu
Tổng diện tích đất
Tổng dân số
GDP
hành)
(giá
hiện
Tăng trưởng GDP
GDP bình quân (giá
hiện hành)
Thương mại quốc tế
hàng hóa
Xuất khấu
Nhập khẩu
FDI di chuyển vào
Khách du lịch
Đơn vị
tính
km2
Nghìn
617.165
625.096
1.884.068
2.184.546
2.320.840
2.398.154
7,8
4,9
5,8
5,1
3.139
3.586
3.760
3.836
2.009.116
73.752,6
81.229,0
89.225
-
2010
2011
2012
*Nguồn: Thống kê ASEAN, Ban thư ký ASEAN
3. Các lợi ích và bất lợi của AEC đối với các nước thành viên và cộng đồng
Các lợi ích
Về lợi ích kinh tế đặc biệt về thương mại, phân tích từ mô hình do Viner (1950) và
Lipsey (1957) chỉ rõ tác động tạo lập mậu dịch và chuyển hướng mậu dịch. Tạo lập mậu
dịch mở ra khả năng phát triển mạnh các ngành có lợi thế so sánh còn chuyển hướng mậu
dịch tạo điều kiện phát triển các ngành kém hiệu quá trong quốc gia thành viên, hình
thành lợi ích cộng đồng hay nhóm lợi ích. Thuế nhập khẩu trên toàn thế giới, mặc dù đã
5
được đàm phán giảm xuống liên tục từ khi Hiệp định Thương mại và thuế quan (GATT)
ký kết năm 1947, nhưng để đạt con số 0% trên toàn thế giới hoặc xét riêng trong AEC,
cần phải có một khoảng thời gian ít nhất không dưới 10 năm vì chênh lệch về trình độ
phát triển còn rất lớn giữa các quốc gia, mức độ bảo hộ khá cao và bảo đảm nguồn tài
Quốc gia
Xuất khẩu nội bộ
ASEAN
Kim
ngạch
Brunei
Darussalam
Tỷ
trọng
Xuất khẩu ngoài
ASEAN
Kim
ngạch
Tổng kim
ngạch xuất
khẩu
Tỷ
trọng
Nhập khẩu nội bộ
ASEAN
Kim
ngạch
56.4
3.674,1
Cambodia
990,5
13.3
6.444,5
86.7
7.434.9
4.152,5
37.0
7.076,3
63.0
11.228,8
Indonesia
41.831,1
3.503,5
Malaysia
60.945,2
26.8
73.2
227.537,8
54.867,5
27.9
72.1
196.392,6
Myanmar
3.399,0
36.5
5.916,0
63.5
77.1
65.386,4
68.2
408.393,6
79.819,0
21.0
79.0
379.723,3
75.3
229.524,2
42.805,9
17.3
82.7
247.777,7
Singapore
97.065,1
84.8
114.510,7
20.874,6
18.4
92.408,0
81.6
113.282,5
ASEAN
323.855,0
25.8
930.725,7
74.2
1.254.580,7
278.193,2
Hình 4: Các mô hình di chuyển quốc tế vốn và lao động
(b) Lao động
(a) Vốn
F
N
C
O
A
M
P
K
A
M
MP
E KR
BG
B A
J
H
wA,
MP
M
BP
GFD
OO
L
AB
CB
L
1
F
G
O
B
Diện tích tam giác ABC biểu thị lợi
ích tăng lên của hai quốc gia khi có di
chuyển lao động giữa chúng
Nguồn: Kinh tế học quốc tế P. Krugman (2005)
Như vậy, các lợi ích kinh tế từ AEC là cụ thể và rõ ràng cả quốc gia và toàn khu
vực. AEC mỗi năm có thể có thu nhập tăng thêm khoảng 100 tỷ USD. Nếu xét riêng từng
quốc gia, những tác động theo chủ thể hoặc lĩnh vực, ngắn hạn và dài hạn. Chính phủ của
các quốc gia chịu tác động đến nguồn thu thuế và các loại phí, lệ phí. Cơ cấu kinh tế có
sự chuyển dịch theo hướng phát triển các ngành có lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh.
Thể chế luật pháp, chính sách, cơ chế được hoàn thiện và các loại thủ tục được đơn giản
hóa cao nhất. Các doanh nghiệp chịu cạnh tranh do hàng hóa từ các nước thành viên di
chuyển tự do. Cả nền kinh tế và doanh nghiệp có sự tái cơ cấu để thích nghi. Người tiêu
dùng được hưởng lợi do giá cả thấp cũng như thu nhập được cải thiện. Một thị trường với
+ Phải đầu tư nhiều vào điều chỉnh chính sách và tổ chức lại bộ máy quản lý phù
hợp với những quan hệ kinh tế mới và cách ứng xử mới được hình thành đặc biệt là chính
sách tiền tệ- tài khóa, chính sách thuế, đầu tư công.Điều này đòi hỏi chi phí đáng kể và
thời gian.
+ Hoàn chỉnh thể chế vận hành để phù hợp với bộ quy tắc ứng xử mới trong
AEC. Các quy định pháp luật và thủ tục hành chính được điều chỉnh, sửa đổi và xây dựng
mới nhằm phù hợp với tình hình.
+ Điều chỉnh những sự khác biệt trong nhận thức và khắc phục chênh lệch đáng
kể về trình độ phát triển.
- Đối với doanh nghiệp:
+ Cạnh tranh găy gắt dẫn đến tình trạng bị thôn tín, lũng đoạn hoặc buộc phải
sáp nhập, mua lại thậm chí bị phá sản. Tính tương đồng càng cao, khả năng cạnh tranh
càng lớn do phải giành giật thị trường.
+ Tình trạng thất nghiệp có nguy cơ gia tăng, áp lực về việc làm lớn và thị
trường lao động có sự thay đổi đáng kể theo hướng phát triển phân khúc lao động có tay
nghề cao.
+ Khả năng bị thua lỗ lớn do thu hẹp thị trường và những đòi hỏi cao của người
tiêu dùng về chất lượng khó đáp ứng đầy đủ.
+ Dễ rơi vào tình trạng theo đuổi lợi ích ngắn hạn vì AEC mới thành lập cho nên
có nhiều cơ chế ưu đãi trong thời gian đầu thành lập có ảnh hưởng lớn đến chiến lược
phát triển của doanh nghiệp. Đồng thời do xu hướng tự do hóa thương mại diễn ra nhanh
chóng, nhiều cơ chế hợp tác và đối tác mới có sức thu hút cao hơn. Điều này gây ra áp
lực buộc doanh nghiệp đầu tư thêm công sức và chi phí để chuyển hướng phù hợp hoặc
tận dụng cả hai loại cơ chế.
- Đối với người tiêu dùng:
+ Ảnh hưởng đến văn hóa tiêu dùng do tác động của văn hóa giao lưu giữa các
thành viên, làm mất bản sắc văn hóa tiêu dùng bản địa.
+ Thúc đẩy việc chạy theo hàng ngoại nhập khẩu do đó làm giảm thói quen tiêu
dùng hàng sản xuất trong nước. Điều này có thể dẫn đến khả năng vô hiệu hóa những
công cụ hay biện pháp bảo hộ cần thiết và được phép của các nước AEC.
thành lập nghị viện hoặc quốc hội, phát hành đồng tiền chung và sự phồi hợp chính sách
tài khóa- tiền tệ phù hợp.
4. Kinh nghiệm của một số nước trong tham gia AEC
Kinh nghiệm của Singapore
Singapore là quốc gia có năng lực cạnh tranh cao nhất AEC và là một trong 3 nền
kinh tế có năng lực cạnh tranh cao nhất thế giới trong nhiều năm. Các yếu tố cốt lõi của
AEC hầu như đã được Singapore đáp ứng đầy đủ. Singapore là quốc gia thực hiện giảm
thuể xuống 0% trong AFTA từ năm AFTA có hiệu lực (1993) do đó, chiến lược thích
nghi của Singapore với AEC vừa mang tính đón đầu vừa mang tính vượt trội. Để đón đầu
AEC, Singapore hoàn thiện thể chế theo kết quả đàm phán trong AEC. Thực tế Singapore
đi đầu trong hoàn thiện thể chế đặc biệt về luật pháp, chính sách và quy đinh. Singapore
thể hiện sự vượt trội về kinh tế đặc biệt trong việc phát hiện các thế mạnh đối với các
ngành có lợi nhuận cao và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế của khu vực và thế
giới. Mặc dù Singapore có thế mạnh trong các ngành đóng tàu và chế tạo nhưng từ năm
2012, sau khi hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành thành công sòng bạc lớn thứ hai
thế giới, vốn đầu tư vào song bạc này được thu hồi sau 1 năm vận hành, Singapore có
chiến lược phát triển quốc gia thành trung tâm tài chính hàng đầu châu Á thậm chí đứng
đầu thế giới. Điều này đang tạo nền tảng để Singapore trở thành quốc gia dẫn dắt AEC về
lĩnh vực tài chính và tận dụng lợi ích của việc di chuyển đầu tư tài chính với lợi ích thu
10
được lớn hơn so với lợi ích được tạo ra từ thương mại. Để tăng uy tín trong AEC,
Singapore còn tham gia tích cực vào các vấn đề về an ninh- chính trị như đưa ra tuyên bố
phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan nước sâu HD 981 trái phép trong vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Singapore coi trong mở rộng các hoạt động giao
lưu văn hóa, giáo dục với các quốc gia trong AEC. Những thế mạnh đáng kể của
Singapore đang tạo đà để quốc gia này chủ động, tích cực hơn trong phát triển các quan
hệ nội bộ AEC và ngoài AEC
Kinh nghiệm của Thái Lan
vực chế tạo và sản xuất linh kiện chất lượng cao về ô tô, xe máy, sản phẩm điện tử. Các
mặt hàng điện tử của Ma-lai-xia có độ tin cậy cao nhất trong AEC. Chiến lược chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của Ma-lai-xia đang tạo ảnh hưởng lớn đến toàn AEC đặc biệt là việc
hình thành mạng sản xuất công nghiệp nội bộ AEC với sự dẫn đầu của Ma-lai-xia. Thế
mạnh của Ma-lai-xia được phát huy bằng cơ chế mới của AEC. Hiện tại Ma-lai-xia đang
chuẩn bị thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình để hướng tới quốc gia có thu nhập cao với
11
thu nhập bình quân đầu người 11.000 USD (năm 2013). AEC chắc chắn sẽ là thể chế hỗ
trợ Ma-lai-xia trở thành nước công nghiệp.
Kinh nghiệm của In-đô-nê-xia
In- đô-nê-xia coi trọng việc phát triển mạnh lĩnh vực ngân hàng và thực tế cho
thấy lĩnh vực ngân hàng của In-đô-nê-xia có tỷ suất lợi nhuận cao nhất thế giới trong năm
2013. In-đô-nê xia có chiến lược phát triển lĩnh vực ngân hàng theo hướng nâng cao năng
lực cạnh tranh và thường xuyên đề cao hiệu quả kinh doanh. Các ngân hàng In-đô-nê-xia
có khả năng cạnh tranh hiệu quả với các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại In-đônê-xia. Với thành công trong phát triển lĩnh vực ngân hàng, In-đô-nê-xia sẽ coi trọng đầu
tư vào lĩnh vực ngân hàng ở nước ngoài trước hểt trong AEC và coi đó là hướng đầu tư ra
nước ngoài được cân nhắc trong dài hạn khi những lợi thế tự nhiên và có sẵn đang giảm
dần. Sự phát triển lĩnh vực ngân hàng cho thấy có sự thay đổi cơ bản trong chiến lược
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của In-đô-nê-xia. Việc hoàn thiện thể chế của AEC vừa là
điều kiện vừa là động lực để lĩnh vực ngân hàng In-đô-nê-xia phát triển cả về quy mô và
hiệu quả do những thế mạnh nổi trội của nó so với lĩnh vực này ở các quốc gia khác. Hơn
nữa, do AEC chỉ là khuôn khổ của các cam kết, thiếu những ràng buộc chặt chẽ về pháp
lý hay thể chế cho nên ngân hàng In-đô-nê-xia có thể triệt để phát huy lợi thế cạnh tranh
để mở rộng thị trường trong AEC.
Từ một số kinh nghiệm của các quốc gia trên đây có thể thấy AEC đang mở ra
điều kiện phát triển mới của các quốc gia. Mỗi quốc gia đều có chiến lược chuẩn bị hay
đón đầu bằng phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn hay những ngành có lợi thế so sánh
lớn và khả năng cạnh tranh cao. Do đó, cần có cách nhìn nhận mới dựa trên các nền tảng
Diện tích
Dân số
GDP (giá
hiện hành)
GDP
bình
quân
(giá
hiện
hành)
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng kim
ngạch xuấtnhập khẩu
FDI
vào
Km2
Nghìn
người
Đô la Mỹ
617.165,10
2.398.153,70
3.836,50
1.270.466,0
1.239.659,90
2.510.126,70
119,75
7,461
14,383
7,139
49,748
10.442
10,656
10,548
7,431
giá trị và bản sắc Việt Nam trong AEC, hofp phần giảm bớt sự khác biệt trong nhận thức
và trình độ phát triển.
Những bất lợi
- Cạnh tranh gia tăng do tính tường đồng khá cao trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
và mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài.
- Các chính sách kinh tế vĩ mô dễ bộc lộ hạn chế khi hình thành cơ cấu đầu tư, sản
xuất và thương mại khu vực với quy mô lớn.
- Đội ngũ lao động Việt Nam thiếu tay nghề cao, năng suất lao động không cao
(năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn ở Ma-lai-xia 7 lần và thấp hơn 15 lần so với
Sing-ga-po) và hạn chế về kỷ luật lao động so với đội ngũ này ở các nước ASEAN khác
như Sing-ga-po, Ma-lai-xia, Phi-lip-pin…có thể rơi vào tình trạng mất việc làm, khả năng
đáp ứng với thị trường lao động trong AEC thấp, tiền lương thấp thậm chí có thể bị thất
nghiệp.
Một số giải pháp gia tăng lợi ích và hạn chế bất lợi trong AEC của Việt Nam
Đối với nhà nước
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý, chinh sách và quy định để chủ
động, tích cực hội nhập theo chiều sâu trong AEC. Thể chế cần được hoàn thiện theo
hướng không chỉ phù hợp với những khuôn khổ được các quốc gia xác định mà còn cần
có tính đón đầu ở mức độ phù hợp, đặc biệt là xu hướng mở rộng và phát triển theo chiều
sâu liên kết kinh tế và hội nhập .
Thứ hai, phát triển các quan hệ phối hợp chính sách với từng đối tác thành viên
AEC để tạo khả năng thích nghi lẫn nhau song phương có hiệu quả. Trước mắt, cần coi
trọng phát triển quan hệ đối tác chiến lược song phương với các nước trong AEC nhằm
tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc và lòng tin lâu dài, toàn diện và bền vững giữa Việt
Nam với các nước trong AEC. Dựa trên các quan hệ đối tác chiến lược được xây dựng,
cần đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết các hiệp định song phương như các hiệp định
thương mại và đầu tư song phương, hiệp định hợp tác xuất- nhập khẩu sức lao động, hiệp
định về hợp tác ngân hàng- tài chính…
Thứ ba, cần khai thác tính khác biệt giữa các quy định trong AEC cũng như các
quy định trong các hiệp định thương mại, đầu tư, đối tác kinh tế được ký kết giữa các
hàng hóa, dịch vụ từ các nước AEC di chuyển vào Việt Nam với khối lượng lớn với giá
cả cạnh tranh, hàng Việt Nam có thể bị hàng ngoại lấn át. Chính vì thế cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng và dịch vụ Việt Nam” cần được coi trọng và đề cao.
Đối với các tổ chức chính trị-xã hội, hội, hiệp hội như hội như hội nông dân, tổ
chức công đoàn, hội bảo vệ người tiêu dùng cần chú trọng bảo vệ quyền lợi của nông
dân, công nhân, người tiêu dùng để giảm thiểu các lợi ích bị thua thiệt.
6. Kết luận
Việc thành lập AEC là một bước tiến quan trọng trong xu hướng liên kêt quốc tế
ngày càng phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế của từng quốc gia và cả
cộng đồng. Tuy nhiên, giữa lợi ích thu được và bất lợi của sự thành lập AEC, lợi ích thu
được vẫn lớn hơn và đó là động lực thúc đẩy từng quốc gia thành viên cũng như cả cộng
đồng tăng cường hợp tác cả về chiều rộng và chiều sâu.
Việt Nam là thành viên của AEC và việc tham gia AEC tạo ra lợi ích cũng như
dẫn đến những bất lợi nhất định. Vấn đề là cần nhận thức sâu sắc chúng để có giải pháp
tối ưu với tùng chủ thể.
15
Tài liệu tham khảo
1.
ASEAN Secretariat, ASEAN Economic Community Bulletin
(http://www.asean.org/archive/5187-10.pdf)
2.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI. Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia.
3.
Gregory Emeka Kwentua (2006), Trade creation and trade diversion effects on the
EU- South Africa free trade agreement (http://etd.lsu.edu/docs/available/etd-01122006152604/unrestricted/Kwentua_thesis.pdf)
4.
13.
Ricardo Arguello (2000), Economic Integration: An overview of basic
economic theory and other related issues
(http://www.urosario.edu.co/economia/documentos/pdf/bi03.pdf)
14.
Vicent Vicard, On trade creation and regional trade agreements: does depth matter?
(http://hal.archives-ouvertes.fr/docs/00/53/52/15/PDF/PEER_stage2_10.1007%252Fs10290-009-00109.pdf)
15.
WTO Trade Report (2011), Causes and effects of PTAs: Is it all about
preferences? (http://www.wto.org/english/res_e/booksp_e/anrep_e/wtr11-2c_e.pdf)
16