Tiểu luận tự do thương mại hàng hóa trong cộng đồng kinh tế asean (AEC) nhóm 21 - Pdf 34

MỤC LỤC

1


1. MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa, khu vực hóa đã trở thành xu thế của nền kinh tế thế giới và chi phối các quan
hệ kinh tế quốc tế, trong đó tự do hóa thương mại là một mũi nhọn. Khi các liên kết kinh tế quốc tế
bắt đầu được phát triển từ cuối thập kỉ 80, làn sóng tự do hóa thương mại đã được lan rộng trên
phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Ngày 1/1/2005, Tổ chức thương mại Thế giới WTO ra đời với mục đích chính là loại bỏ hay
giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự do thương mại, đây là dấu mốc quan trọng trong sự
phát triển của tự do thương mại trên toàn Thế giới. Do vậy, ASEAN cũng không thể nằm ngoài sự
phát triển đó khi tiến hành tự do hóa thương mại trong một trụ cột quan trọng của mình - Cộng đồng
kinh tế ASEAN. Bên cạnh những lĩnh vực như đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ,… thì thương mại
hàng hóa là một lĩnh vực vô cùng quan trọng trong tiến trình tự do hóa. Với các biện pháp hiệu quả,
mềm dẻo, cụ thể tập trung vào các hàng rào thuế quan và các biện pháp thuận lợi hóa thương mại
hàng hóa sẽ sớm hiện thực hóa những cam kết của các nước, thúc đẩy tự do hóa thương mại nói
chung, sau cùng thực hiện được chế độ thương mại tự do. Thành tựu to lớn mà tiến trình tự do hóa
thương mại hàng hóa đã, đang và sẽ mang lại có tác động to lớn đối với nền kinh tế Việt Nam, tạo
ra một thị trường rộng lớn cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước.
Đó cũng chính là lý do nhóm 21 chúng em quyết định chọn đề tài :”Tự do hóa thương mại
hàng hóa trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)”. Với trình độ cũng như tầm hiểu biết còn nhiều
hạn chế, chúng em rất mong nhận được sự hướng dẫn, đóng góp của cô cho bài tiểu luận của chúng
em. Và chúng em cảm ơn cô trong thời gian qua đã hướng dẫn và giúp đỡ chúng em tận tình để
hoàn thành bài tiểu luận!

2


2. KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)


cung ứng toàn cầu.
Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất sẽ mang lại lợi ích cho các ngành công nghiệp ưu tiên tham
gia hội nhập: nông nghiệp, hàng không, oto, điện tử, cao su, dệt may,...
2.2.2. Khu vực kinh tế cạnh tranh
Cộng đồng kinh tế ASEAN hướng tới mục tiêu tạo dựng một khu vực kinh tế có năng lực
cạnh tranh cao, thịnh vượng và ổn định, theo đó khu vực này sẽ ưu tiên 6 yếu tố chủ chốt là: chính
sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống
thuế khóa và thương mại điện tử. ASEAN cam kết thúc đẩy văn hóa cạnh tranh công bằng thông
qua việc ban hành các chính sách và luật cạnh tranh, đảm bảo sân chơi bình đẳng trong ASEAN và
hiệu quả kinh tế khu vực ngày càng cao.
2.2.3. Phát triển kinh tế công bằng
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ là thúc đẩy năng lực cạnh tranh của khu vực này bằng cách
lợi thế hóa phương pháp tiếp cận thông tin, tài chính, kĩ năng, phát triển nguồn nhân lực và công
nghệ.
2.2.4. Hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.
Các quốc gia thành viên ASEAN tham gia vào mạng lưới cung ứng toàn cầu bằng việc nâng
cao năng suất và hiệu quả công nghiệp. AEC trở thành tâm điểm của ASEAN với vai trò chủ động
tham gia cùng các đối tác FTA ASEAN và đối tác kinh tế bên ngoài trong việc đổi mới kiến trúc
khu vực.
3


-

2.3. AEC - 1 trong 3 trụ cột trong cộng đồng ASEAN.
AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra
trong Tầm nhìn ASEAN 2020, và được khẳng định lại trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố
Ba-li II): tạo dựng một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và cạnh tranh cao, nơi có sự
di chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, di chuyển tự do hơn của các luồng vốn, phát triển

hóa thương mại hàng hóa được thực hiện thông qua việc cắt giảm, xóa bỏ các rào cản thuế quan;
xóa bỏ các rào cản phi thuế quan; thiết lập quy tắc xuất xứ; tiến hành các biện pháp thuận lợi hóa

4


thương mại; hợp tác hải quan và hài hòa, nhất thể hóa hàng rào tiêu chuẩn và kỹ thuật trong thương
mại. Cụ thể:
3.2.1. Dỡ bỏ các rào cản thương mại
Thuế quan và các biện pháp phi thuế quan là các rào cản chính trong thương mại quốc tế.
3.2.1.1. Rào cản thuế quan
Trong đó, rào cản thuế quan là loại rào cản phổ biến nhất và mang tính chất truyền thống.
Thuế quan được hiểu là loại thuế đánh vào hàng hóa khi hàng hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan
này sang lãnh thổ hải quan khác, được xác định và phân loại trên cơ sở các mức thuế áp dụng đối
với hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu. Hiện nay, do loại hàng rào thuế quan có bản chất mâu thuẫn
với tiến trình tự do hóa thương mại nên có xu hướng dần được cắt giảm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn
với lộ trình xác định. Trong phạm vi Cộng đồng kinh tế ASEAN AEC tự do hóa thuế quan được
thực hiện trên cơ sở hai văn kiện pháp lý quan trọng là Hiệp định CEPT và Hiệp định ATIGA.
Ví dụ: Vào tháng 1 năm 2010, các quốc gia Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines,
Singapore và Thái Lan (ASEAN-6) đã xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99.65% trong tổng số các
dòng thuế trong đó mức thuế 0% áp dụng cho 24.15% tổng số hàng hóa từ các ngành ưu tiên hội
nhập (PIS) như nông nghiệp, hàng không,.... Tương tự như vậy, Cambodia, Lào, Myanmar và Việt
Nam cũng cắt giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0-5% đối với 98.86% dòng thuế cho các loại hàng
hóa nói trên. ( />3.2.1.2. Rào cản phi thuế quan
Rào cản phi thuế quan được định nghĩa là: Các biện pháp ngoài biện pháp thuế quan cấm hoặc
hạn chế xuất nhập khẩu hàng hóa trong một quốc gia thành viên. Rào cản phi thuế quan chỉ bao
gồm một số các biện pháp phi thuế quan gây cản trở thương mại quốc tế mà không dựa trên cơ sở
khoa học, bình đẳng hoặc được đặt ra quá mức cần thiết và vi phạm nguyên tắc đối với quốc gia.
Rào cản phi thuế quan chủ yếu bao gồm hai bộ phận cơ bản, đó là: rào cản pháp lý (ví dụ: Các biện
pháp cấm, hạn ngạch về số lượng hoặc giá trị được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời

3.2.2.2. Hiện đại hóa hệ thống hải quan trong ASEAN
Các cơ quan hải quan trong ASEAN đang xúc tiến cải cách và hiện đại hóa phương pháp cũng
như thủ tục hải quan để nâng cao lợi thế thương mại trong ngành. Chương trình chiến lược phát
triển hải quan (SPCD) quy định chỉ được phép dỡ container khỏi tàu trong vòng 30 phút. Để hiện
đại hóa hệ thống hải quan, các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đã được sử dụng để
thông quan hàng hóa trong khu vực ASEAN theo tiêu chuẩn quốc tế. Việc này sẽ góp phần làm
giảm chi phí giao dịch và thời gian thông quan hàng hóa dưới sự kiểm soát của hải quan. Cục hải
quan ASEAN hiện cũng đang tích cực phối hợp với các ngành khác nhau để đẩy mạnh và cải thiện
chất lượng dịch vụ hải quan cũng như mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn định sẵn.
3.2.2.3. Cơ chế một cửa ASEAN (ASW)
Cơ chế một cửa là yếu tố quan trọng trong kế hoạch hành động ASEAN trong tiến tr.nh thực
hiện hóa AEC vào năm 2015. Khi ASW hoạt động với đầy đủ chức năng, lợi thế thương mại và
đang chu chuyển hàng hóa trong khu vực sẽ được cải thiện đáng kể bằng cách áp dụng cơ chế trao
đổi dữ liệu điện tử về hàng hóa thông quan trong ASEAN (AMS). Cơ chế một cửa quốc gia (NSWs)
sẽ liên kết với nhau thông qua ASW cho phép các doanh nghiệp nộp tất cả các văn bản giấy tờ liên

6


quan tới hoạt động thương mại về cùng một nơi và cũng chính các cơ quan chuyên trách trong
ASEAN sẽ xem xét và đưa ra quyết định ở chính nơi mà doanh nghiệp làm thủ tục giấy tờ.
Điển hình, Indonesia đã triển khai Cơ chế một cửa kết nối 18 cơ quan của Chính phủ, với hơn
14.000 thương nhân đăng ký hoạt động. Đối với Việt Nam, cuối tháng 2/2014 vừa qua, Phó Thủ
tướng Vũ Văn Ninh đã khai trương kết nối kỹ thuật giai đoạn 1 Cơ chế một cửa quốc gia giữa 3 Bộ:
Tài chính (Tổng cục Hải quan), Công Thương và Giao thông Vận Tải. Giai đoạn 2 sẽ có thêm 3 bộ
được kết nối bao gồm: Bộ Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường.
Việc thực hiện thành công Cơ chế một cửa quốc gia giúp Việt Nam nhanh chóng kết nối vào Cơ chế
một cửa ASEAN (dự kiến năm 2015).
3.2.2.4. Đánh giá mức độ phù hợp trong ASEAN
Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs) là thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên cùng thừa nhận


Việc hòa hợp quản lý trong các ngành ưu tiên hội nhập đang được triển khai, bao gồm các sản
phẩm nông nghiệp, mỹ phẩm, ngư nghiệp, dược phẩm, các sản phẩm từ cao su, các sản phẩm từ gỗ,
ô tô, xây dựng, dụng cụ y tế, y học cổ truyền và các ngành hỗ trợ chăm sóc sức khỏe.
-

Hòa hợp các quy định kỹ thuật
ASEAN đã hợp nhất cách quản lý kỹ thuật cho ngành mỹ phẩm (theo hiệp định hòa hợp quản
lý mỹ phẩm ASEAN ký năm 2003) và ngành công nghiệp điện, điện tử (theo hiệp định hòa hợp
quản lý trang thiết bị điện và điện tử ASEAN) ký năm 2005. Việc hòa hợp quản lý kỹ thuật đối với
các ngành sản xuất sản phẩm nông nghiệp, ô tô, dụng cụ y tế, ngành y học cổ truyền và hỗ trợ chăm
sóc sức khỏe cũng đang được thực hiện.
3.3. Tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN – Từ PTA đến AFTA và AEC
3.3.1. Chương trình ưu đãi thuế quan (PTA)
Ở thập kỷ 70, chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (giảm bớt các hàng rào bảo hộ
công nghiệp) mang lại những kết quả khả quan bước đầu, tăng tỷ lệ buôn bán nội bộ ngành giữa các
nước thành viên ASEAN góp phần tăng trưởng kinh tế đã thu hút sự quan tâm của các quốc gia đối
với việc thúc đẩy trao đổi buôn bán ở khu vực. Nhận thức được lợi ích của tự do hóa thương mại
trong hợp tác kinh tế, các nước ASEAN đã cùng nhau tiến hành các hoạt động tự do hóa thương mại
đa phương trong khuôn khổ Chương trình ưu đãi thuế quan (PTA). PTA được thành lập năm 1977
theo Hiệp định về các thỏa thuận ưu đãi thương mại đã đặt nền tảng pháp lý quan trọng cho những
chính sách thương mại tự do thông thoáng và hợp lý sau này, khởi động tiến trình tự do hóa thương
mại hàng hóa của ASEAN thông qua các cam kết cắt giảm thuế quan đối với một số mặt hàng cơ
bản.
3.3.2. Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)
Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) ra đời năm 1992 trên cơ sở Hiệp định thuế quan
ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) được coi như một động thái tích cực của khu vực trước tình hình
trên khi việc thực hiện PTA tỏ ra chậm chạp, kém hiệu quả (ngay cả khi có những sửa đổi bổ sung
vào cuối thập kỷ 80). Một trong các mục tiêu hàng đầu khi khởi xướng ý tưởng thành lập AFTA
chính là thúc đẩy hơn nữa tự do hóa thương mại, tăng cường trao đổi buôn bán nội khối thông qua

lần thứ IV tại Singapore. Đây là hiệp định đầu tiên và là hiệp định thành lập AFTA.
Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) ký

-

ngày 28/1/1992.
Các nghị định thư sửa đổi và bổ sung hai hiệp định trên.
Hiệp định khung về hội nhập các ngành ưu tiên (APIS) ký ngày 29/11/2004 tại Viêng Chăn, Lào.
Hiệp định về thương mại hàng hóa Asean (ATIGA) ký ngày 26/2/2009 tại Cha-am, Thái Lan.
Đáng quan tâm nhất hiện nay đó chính là Hiệp định về thương mại hàng hóa Asean: ATIGA –
văn kiện toàn diện nhất trong khu vực điều chỉnh các lĩnh vực hợp tác về thương mại hàng hóa.
Hiệp định này xây dựng trên cơ sở kế thừa và hợp nhất các quy định của các văn bản trước đó về
AFTA, đồng thời bổ sung các nội dung mới nhằm điều chỉnh và nâng cấp tất cả các lĩnh vực hợp tác
về thương mại hàng hóa trong Asean cho phù hợp với yêu cầu xây dựng AEC.
Kể từ khi gia nhập AFTA, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các thành viên khác của Asean
đã phát triển nhanh chóng trên cơ sở song phương và đa phương, tuy nhiên việc hạ thấp hàng rào
thuế quan và phi thuế quan ngay lập tức sẽ gây ra một cuộc cạnh tranh gay gắt đối mặt với các loại
hàng hóa nhập khẩu giá hạ từ các nước ASEAN ngay tại thị trường trong nước.Ví dụ: Năm 2014 sẽ
có hàng loạt thay đổi liên quan đến giá bán ôtô tại thị trường Việt Nam. Theo cam kết lộ trình gia
nhập AFTA của Việt Nam thì ôtô nhập khẩu từ các nước ASEAN là thành viên của AFTA (Thái
Lan, Malaysia…) nếu có tỷ lệ nội địa hóa đạt 40% (linh kiện có nguồn gốc sản xuất tại nội địa nước
đó) sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi khi nhập khẩu vào Việt Nam là 50%.1
1 Ô tô nhập khẩu sẽ giảm giá ‘sốc’ (Trần Thủy)

9


Sự ra đời của các văn kiện đã tạo ra các ràng buộc pháp lý đối với các quốc gia thành viên về
phương thức thực hiện tự do hóa TMHH cũng như các cam kết về lộ trình chung. Bên cạnh đó
thông qua hoạt động của các thiết chế pháp lý cơ bản trong AEC như Hội nghị cấp cao, Hôi nghị


2015

0%

1.97%

9.3%

(Nguồn: trungtam wto.vn)
4.3. Các vòng đàm phán
Một công cụ pháp lý khác nhằm thực hiện việc dỡ bỏ các rào cản thương mại phải kể đến đó
chính là các vòng đàm phán của các nước Asean trong lĩnh vực thương mại tự do. Hiện nay vòng
đàm phán được quan tâm nhất là Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP) bao gồm 10 thành
viên của Asean và 6 đối tác quan trọng của khối là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia,
New Zealand và Ấn Độ (hay còn gọi là ASEAN+6). Vòng đàm phán đầu tiên bắt đầu ngày 9/5 tại
Brunei, và vòng đàm phán thứ hai dự kiến diễn ra tại Úc từ ngày 23 đến 27-9. Các đàm phán RCEP
dự kiến kết thúc vào cuối năm 2015, theo tuyên bố chung về RCEP đăng trên trang www.asean.org 2
2 Kết thúc vòng đàm phán thứ nhất hiệp định Asean+6

10


5. PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG
AEC
5.1. Phương thức thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa trong AEC
Để thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa một cách hiệu quả, AEC đã đưa những phương
thức sau:
-


Thứ ba, kết quả của các vòng đàm phán cũng thúc đẩy việc thực hiện tự do hóa thương mại. Ngoài
các cuộc đàm phán trong nội khối, ASEAN còn tiến hành đàm phán và kí kết các các hiệp định về
thương mại tự do với các quốc gia khác như: Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện (2002)

11


nhằm thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Thương mại
hàng hóa ASEAN – Hàn Quốc (AKTIK) năm 2006.
5.2. Tự do thương mại hàng hóa trong AEC và WTO:
5.2.1. Phương thức:
5.2.1.1. Giống nhau:
Việc thực hiện tự do hóa thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hàng hóa nói riêng là
cả một quá trình, cần qua nhiều giai đoạn, do việc tự do hóa thương mại sẽ gỡ bỏ những rào cản mà
vốn là công cụ bảo hộ các ngành sản xuất trong nước của quốc gia thành viên. Và vì vậy, để thực
hiện tự do hóa thương mại một cách hiệu quả, cả AEC và WTO đều thực hiện các công việc như
sau:
-

Xây dựng chương trình khung làm cơ sở pháp lí: Với AEC là Hiệp định về thương mại hàng hóa
ASEAN 2009 (ATIGA) như đã nói ở trên; với WTO là Hiệp định chung về thuế quan và thương

-

mại 1994 (GATT 1994).
Dựa trên cơ sở chương trình khung nói trên, từng quốc gia thành viên của AEC và WTO sẽ xây
dựng chương trình riêng của mình và được tổ chức chấp thuận. Chương trình đó có thể bao gồm
việc điều chỉnh các chính sách kinh tế, pháp luật trong nước, xây dựng lộ trình cụ thể về cắt giảm

-

-

Tuy nhiên, những chính sách xóa bỏ rào cản thương mại đồng thời tiến hành thuận lợi hóa thương
mại hàng hóa ở AEC không chỉ mang tính chất chung chung, tổng quát như WTO mà là sự hướng
dẫn cụ thể ở từng quốc gia phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của nước đó.
5.2.2. Phạm vi:
5.2.2.1. Giống nhau:
WTO và AEC đều sử dụng biện pháp tăng cường tự do hóa thương mại: cắt giảm tiến tới xóa
bỏ thuế quan và phi thuế quan với các mặt hàng.
5.2.2.2. Khác nhau:
So với WTO thì các biện pháp mà AEC đưa ra được áp dụng rộng hơn. Ngoài một số biện
pháp được áp dụng nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại hàng hóa trong khuôn khổ WTO thì AEC
còn áp dụng các biện pháp hạn chế bảo hộ thương mại bằng phi thuế quan: dỡ bỏ chung về hạn chế
hàng hóa, quy định về xuất xứ hàng hóa,... Ngoài các biện pháp phi thuế quan, AEC còn áp dụng
các hoạt động lợi hóa thương mại như: thủ tục hải quan, tiêu chuẩn và kĩ thuật đánh giá sự phù
hợp,...
5.2.3. Mức độ:
5.2.3.1. Giống nhau:
Do những tác động hạn chế tự do thương mại hàng hóa của các biện pháp thuế quan và phi
thuế quan nên cả AEC và WTO đều có xu hướng cắt giảm thuế quan, thậm chí tiến tới xóa bỏ thuế
quan, và các hàng rào phi thuế quan.
5.2.3.2. Khác nhau:
Ngoài việc cùng có xu hướng giảm dần những rào cản thương mại thì tự do hóa thương mại
hàng hóa của AEC và WTO có sự khác nhau về diện và mức độ. Có thể khẳng định mức độ tự do
hóa thương mại hàng hóa của AEC sâu và rộng hơn WTO.
6. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THAM GIA
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
6.1. Cơ hội doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia AEC trong lĩnh vực thương mại hàng
hóa
6.1.1. Cơ hội có được một thị trường rộng lớn hơn

trong các nước thành viên ASEAN có mức thuế ưu đãi như nhau, lúc đó sức cạnh tranh sẽ tập trung
vào chất lượng và giá trị gia tăng trong sản phẩm. Trong khi với thiết bị, công nghệ hiện nay, sản
phẩm của DN Việt Nam khó có thể cạnh tranh lại với sản phẩm các nước.
Do thuế quan giảm và hàng rào phi thuế quan được dỡ bỏ, hàng hóa nhập khẩu có khả năng
cạnh tranh về giá thành và chất lượng từ các nước trong nội khối như Thái Lan, Malaysia... tràn vào
Việt Nam sẽ là một thách thức rất lớn đối với DN Việt Nam. Các mặt hàng như dệt may, giày dép,
thủy sản chiếm một tỷ lệ lớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN có thể bị thu
hẹp thị trường do một số thành viên ASEAN cũng có lợi thế sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này.
6.3. Giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam
Đầu tiên, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nhận thức được những cơ hội và thách thức khi
Việt Nam tham gia AEC.
Thứ hai, để sản phẩm có đủ sức cạnh tranh khi AEC có hiệu lực, ngay từ bây giờ, DN Việt
Nam nên chuẩn bị đầu tư thiết bị, máy móc, công nghệ cần thiết, luôn cập nhật xu hướng mới về
thiết bị, máy móc hiện đại, tiếp cận các công nghệ cao như công nghệ Nano, tiếp thu các kinh
nghiệm, các ý tưởng mới và bắt kịp sự chuyển động của thị trường. Có như thế, ngành công nghiệp
trong nước, nhất là công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ, mới phát triển đáp ứng yêu cầu
14


cao vào năm 2015 và xa hơn Việt Nam mới thực hiện được công cuộc CNH-HĐH, trở thành nước
công nghiệp vào năm 2020.

15


7. KẾT LUẬN
Thông qua bài viết trên ta thấy rằng, mặc dù ASEAN chỉ là một tổ chức mang tầm cỡ khu
vực, lại có xuất phát điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa thấp hơn rất nhiều so với WTO, song những
thành công rực rỡ mà nó đạt được trong tiến trình tự do hóa thương mại mà đặc biệt là tự do hóa
thương mại hàng hóa là không thể phủ nhận. ASEAN đã chứng minh được sự trưởng thành qua các

Người

tiêu

dùng,

/>2. “Cộng đồng kinh tế ASEAN – Sổ tay kinh doanh” 19/3/2012,
/>3. Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CETP) cho khu vực thương
mại tự do Asean (AFTA)
4. Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN ATIGA năm 2009
5. “Kết thúc vòng đàm phán thứ nhất hiệp định Asean+6”, truy cập ngày 11/3/2014 tại
/>6. Trần Thủy, “Ô tô nhập khẩu sẽ giảm giá thấp”, truy cập ngày 11/3/2014 tại
/>
17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status