BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN
MÔN: PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
Đề tài số 3:
SO SÁNH MỨC ĐỘ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA
TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ ASEAN
GVHD: PGS.TS Phan Huy Hồng
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Lớp:
Nhóm học viên:
TP. Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2016
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tự do hóa thương mại vẫn đang gây ra
nhiều tranh cãi ở cả những nước phát triển và những nước đang phát triển. Vậy, để
nắm bắt được vấn đề, chúng ta cần hiểu như thế nào về khái niệm và bản chất của tự
do hóa thương mại?
Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ của
một quốc gia vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế của quốc gia đó với các quốc gia
khác, mà cụ thể là quá trình dở bỏ dần các phân biệt đối xử, các rào cản đối với
thương mại, mà chủ yếu là về thuế quan và phi thuế quan; bên cạnh đó là việc kết hợp
thực hiện các hoạt động thuận lợi hóa thương mại, trước hết nhằm đạt được sự đối xử
công bằng giữa hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước với hàng hóa, dịch vụ nhập
khẩu từ nước ngoài và sau đó là đạt được chế độ thương mại tự do. Do đó, tự do hóa
thương mại đòi hỏi nhà nước phải áp dụng một số biện pháp cần thiết để từng bước
cấu thành bởi:
- Các quy định trong GATT 1947;
- Các quy định của những văn bản pháp lý có hiệu lực theo GATT 1947 trước
ngày Hiệp định về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có hiệu
lực, như các văn kiện và chứng nhận liên quan đến cam kết thuế quan; văn
kiện gia nhập v.v…
- Các thỏa thuận liên quan đến việc giải thích một số điều của GATT 1994
điều chỉnh các vấn đề pháp lý như các biểu cam kết về nhượng bộ thuế
quan, doanh nghiệp nhà nước, cán cân thanh toán, các liên minh hải quan và
khu vực thương mại tự do, các miễn trừ, sửa đổi các biểu cam kết trong
GATT, và trường hợp không áp dụng của GATT.
- Nghị định thư Marakesh về GATT 1994.
2. Khung pháp lý thương mại hàng hóa của ASEAN
ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN) điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng
trên cơ sở tổng hợp các cam kết đã được thống nhất trong Hiệp định về Thuế quan Ưu
đãi có hiệu lực chung trong Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (CEPT/AFTA) cùng
các hiệp định, nghị định thư có liên quan. Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA
là các nước ASEAN phải dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn
mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự do (FTA)
mà ASEAN là một bên của thỏa thuận.
Ngoài mục tiêu xóa bỏ hàng rào thuế quan, ATIGA hướng nỗ lực chung của
ASEAN để xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh, kiểm
dịch... đồng thời xác lập mục tiêu hài hòa chính sách giữa các thành viên ASEAN
trong bối cảnh xây dựng AEC.
Ngày 26/2/2009, Hiệp định ATIGA được ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 14
tại Thái Lan và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại công văn số 1012/TTgQHQT ngày 22/6/2009.
1
Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 92 - Sửa đổi hoặc kế thừa các Hiệp định Quốc tế - Hiệp định ATIGA
2
Quy định cụ thể tại Chương 5, Hiệp định ATIGA
II. So sánh mức độ tự do hóa thương mại hàng hóa về thuế quan trong khuôn
khổ WTO và ASEAN
Tự do hóa thương mại hàng hóa là mục tiêu chung của cả ASEAN và WTO, để
thực hiện tự do hóa thương mại thì cần phải thực hiện nhiều biện pháp, trong đó việc
hạn chế và xóa bỏ hàng rào thuế quan là một biện pháp quan trọng. Có thể hiểu xóa bỏ
hàng rào thuế quan là việc cắt giảm thuế quan, hướng đến xóa bỏ thuế quan, nhằm tự
do thương mại hàng hóa, để hàng hóa của một quốc gia được giảm và xóa bỏ thuế
quan khi xuất nhập khẩu đến quốc gia khác trong tổ chức. Cả ASEAN và WTO cùng
có xu hướng giảm dần những rào cản thuế quan, tuy nhiên có thể khẳng định mức độ
tự do hóa thuế quan của ASEAN sâu và rộng hơn WTO thể hiện thông qua hai hiệp
định ATIGA, GATT và cam kết về thuế quan của Việt Nam khi tham gia hai tổ chức
này.
Việc cắt giảm và xóa bỏ thuế quan trong ASEAN thực hiện theo Hiệp định
ATIGA, theo đó các quốc gia thành viên sẽ xóa bỏ thuế quan đối với tất cả các sản
phẩm vào năm 2010 với các nước Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines,
Singapore, Thái Lan và linh hoạt tới năm 2018 với các nước Campuchia, Lào,
Mianma và Việt Nam. Mức thuế suất của các sản phẩm hướng đến bằng hoặc thấp hơn
5%, Thuế nhập khẩu của một số sản phẩm của Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam
không vượt quá 7% số dòng thuế sẽ xóa bỏ vào năm 2018.3 Còn đối với WTO thì quốc
gia ký kết sẽ dành cho thương mại các quốc gia thành viên sự đối xử không kém thuận
lợi hơn, hay nói cách khác các quốc gia thành viên sẽ dành những ưu đãi về thuế quan
Dầu nhiên liệu (WTO: 40%, ASEAN: 5%); muối ăn (WTO: 60%, ASEAN: 5%); giầy
dép (WTO: 30%, ASEAN: 0%); xi măng (WTO: 32%, ASEAN: 5%). Mặc dù thuế
suất trong WTO đã được cắt giảm, nhưng mức thuế quan trong WTO vẫn cao hơn
nhiều so với ASEAN. Sự chênh lệch thuế suất của hai biểu thuế càng khẳng định
ASEAN cắt giảm thuế quan sâu hơn WTO.
Thứ hai, trong WTO chỉ cắt giảm thuế quan theo phụ lục thuộc biểu nhân
nhượng của hiệp định GATT, có nghĩa là chỉ những hàng hóa thuộc biểu nhân nhượng
theo phụ lục của hiệp định thì mới được cắt giảm thuế, còn những hàng hóa không
thuộc biểu nhân nhượng sẽ không cần phải cắt giảm thuế. Còn ASEAN thì cam kết sẽ
cắt giảm và xóa bỏ tất cả thuế xuất nhập khẩu đối với tất cả các loại hàng hóa. Như
vậy, ASEAN rõ ràng cắt giảm thuế quan rộng hơn so với WTO, ASEAN không còn ở
mức cam kết và liệt kê những mặt hàng được cắt giảm thuế như WTO mà tiến tới cắt
giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan với tất cả hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu
thông thương mại nội khối. Thực tế theo Biểu cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO
thì Việt Nam cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của
biểu thuế), giữ mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của
biểu thuế).6 Còn theo cam kết ATIGA với ASEAN, hiện nay Việt Nam đã cắt giảm
được 8574 dòng thuế xuống thuế suất 0%, tương đương khoảng 90% số dòng thuế của
Biểu thuế ATIGA có mức thuế suất 0% (theo danh mục biểu thuế quan hài hòa 2012).
5
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, ASEAN hội nhập: Hàng nghìn dòng thuế Việt Nam về 0%, http
://chongbanphagia.vn/diemtin/20150106/asean-hoi-nhap-hang-nghin-dong-thue-cua-viet-nam-ve-0, [truy cập:
8/3/2015]
6
Thông tấn xã Việt Nam, Chính thức cắt giảm một số dòng thuế theo cam kết WTO, http://vietstock.vn/2007 /
01/chinh-thuc-cat-giam-mot-so-dong-thue-theo-cam-ket-wto-37-35581.htm, [Truy cập: 8/3/2015]
có tính cản trở tự do thương mại hàng hóa đối với các quốc gia khác. Hàng rào phi
thuế quan có thể chia thành 2 nhóm chính: rào cản hành chính và rào cản kỹ thuật.
Thứ nhất, rào cản hành chính là các quy định mang tính mệnh lệnh hành chính nhà
nước thể hiện dưới các hình thức phổ biến như: cấm nhập, cấm xuất, giấy phép nhập
khẩu, hạn ngạch, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc, biện pháp
bảo vệ cán cân thanh toán và kiểm dịch động thực vật.
Thứ hai, rào cản kỹ thuật là những tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một quốc gia
áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng
hóa nhập khẩu đối với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó. Về nguyên tắc, đây là những
quy định hợp lý cần thiết nhằm bảo vệ các lợi ích quan trọng của quốc gia. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp các biện pháp kỹ thuật này có thể được sử dụng như một cách
thức cản trở hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nội địa, bảo hộ mục tiêu sản xuất
trong nước khi quốc gia xây dựng biện pháp kỹ thuật quá khác biệt và khó đáp ứng
trên thực tế.
8
Điểm k Khoản 1 Điều 2 ATIGA
Ngoài ra, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời bao gồm: biện pháp tự vệ,
biện pháp chống bán phá giá, biện pháp đối kháng và trợ cấp nông nghiệp cũng là
những rào cản phi thuế quan cản trở sự tự do hóa thương mại hàng hóa giữa các quốc
gia.
Do các tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến tự do thương mại hàng hóa trong khu vực
và quốc tế từ hàng rào phi thuế quan nên các hiệp định của WTO và ASEAN, đặc biệt
là GATT 1994 và ATIGA, đều quy định hạn chế tối đa hàng rào phi thuế quan, thậm
chí hướng đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn hàng rào phi thuế quan. Đối với các rào cản
hạn chế định lượng, cả ASEAN và WTO đều nghiêm cấm các quốc gia thành viên áp
dụng dưới bất kỳ hình thức nào, trừ một số trường hợp ngoại lệ 9. Theo đó, quốc gia
các thủ tục cấp phép nhập khẩu tự động và không tự động phải minh bạch, dễ dự
đoán11.
Tóm lại, việc quy định các quốc gia thành viên phải loại bỏ dần những hạn chế
thương mại bao gồm cả hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan là một điều kiện
tiên quyết cho sự thành công của tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa, không chỉ
trong khu vực ASEAN mà còn mở rộng trong khuôn khổ WTO.
10
Khoản 3, 4 Điều 40 ATIGA
11
Điều 44 ATIGA
KẾT LUẬN
Tóm lại, đối với WTO các loại hàng hóa đã được cắt giảm thuế chủ yếu vẫn nằm ở
nhóm hàng công nghiệp, còn đối với nhóm hàng nông nghiệp thì vẫn tiếp tục là nhóm
hàng cần được cắt giảm thuế dần dần. Riêng ASEAN, mặc dù là các nền kinh tế
“cộng” chứ không phải là một thực thể kinh tế đơn nhất, phương thức hợp tác thương
mại của ASEAN vẫn là phương thức liên chính phủ và ra quyết định theo nguyên tắc
đồng thuận, nhưng quan hệ kinh tế giữa các thành viên vẫn còn rất hạn chế nhưng việc
cắt giảm thuế ở các nước ASEAN được thực hiện ở hầu hết các loại hàng hóa – kể cả
công nghiệp lẫn nông nghiệp. Ngoài ra, trong ASEAN mức thuế mà các quốc gia
thành viên hướng tới cho các mặt hàng là giảm xuống còn từ 0% - 5%.
Như vậy, đánh giá một cách chung nhất về mức độ tự do hóa thương mại hàng
hóa giữa ASEAN và WTO có thể thấy rằng giữa các nước trong ASEAN mức độ tự do
hóa là sâu và rộng hơn khá nhiều so với WTO. Điều này có thể giải thích là, do tính
chất quy mô của hai tổ chức này khác nhau. Đối với một tổ chức lớn như WTO thì