Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Lý luận dạy học hiện đại đã đa ra quan điểm dạy học thứ ba: quan điểm
lấy vai trò của phơng tiện dạy học (PTDH) là trung tâm của quá trình dạy học,
bên cạnh quan điểm lấy ngời học hoặc ngời thầy làm trung tâm. Điều đó cho
thấy vai trò của PTDH ngày càng đợc nâng cao và mức độ sử dụng các phơng
tiện hiện đại ngày càng thờng xuyên hơn. PTDH trải qua từng giai đoạn phát
triển đã làm thay đổi quá trình dạy học(QTDH), đem lại nhiều lợi ích to lớn
cho ngời học và ngời dạy. Với sự đa dạng hoá, hiện đại hoá nh hiện nay, có
nhiều loại PTDH để giáo viên lựa chọn, sử dụng nhằm trợ giúp cho ngời học
tiếp cận tri thức khoa học một cách dễ dàng và hứng thú.
Trong dạy học nói chung việc sử dụng PTDH là rất cần thiết. Đặc biệt
càng có nhiều ý nghĩa hơn đối với dạy học kỹ thuật. Từ mục tiêu, chơng trình
dạy học kỹ thuật cho thấy đối tợng nghiên cứu của ngành học là rất rộng, đa
dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và có mối liên hệ chặt chẽ với các khoa
học khác. Một đặc thù quan trọng nữa của dạy học kỹ thuật là có khá nhiều
môn học có nhiều thời gian học tại các phòng thí nghiệm, xởng thực hành.
Vai trò to lớn của PTDH không thể phủ nhận đợc. Tuy nhiên việc sử
dụng PTDH không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích nh mong muốn. Việc sử
dụng không đúng cách hoặc quá lạm dụng PTDH đều có khả năng đem lại kết
quả xấu cho ngời dạy và ngời học. Vấn đề sử dụng hợp lý các PTDH đã đợc
đề ra, trong đó có nhiều ý kiến đóng góp khác nhau của các chuyên gia trong
và ngoài ngành giáo dục. Là một cá nhân hoạt động trong ngành giáo dục đây
thực sự là vấn đề tôi rất quan tâm. Đặc biệt là trong điều kiện hoạt động nghề
nghiệp hiện nay. Với mong muốn đóng góp một số ý kiến về vấn đề sử dụng
PTDH trong dạy học bộ môn, đồng thời khảo nghiệm quá trình dạy học của
bản thân, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng PTDH trong giảng dạy KTCN tại trờng Đại học Hùng Vơng
làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Mc ớch v nhim v nghiờn cu.
2.1 Mc ớch
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
4.1 Ý nghĩa khoa học.
Trong quá trình giảng dạy nếu áp dụng một số biện pháp nêu trong đề
tài, hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học sẽ tốt hơn, từ đó tạo động cơ,
hứng thú học tập cho sinh viên, nâng cao chất lượng dạy và học.
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
2
- Đề tài đánh giá thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong giảng
dạy Kỹ thuật công nghiệp tại trường đại học Hùng Vương.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương
tiện dạy học trong giảng dạy Kỹ thuật công nghiệp tại trường đại học Hùng
Vương.
6. Bố cục của đề tài.
6.1 Đề tài gồm có 3 chương, đề cương như sau:
Chương 1 - CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vai trò của phương tiện dạy học.
1.2 Các loại phương tiện dạy học
1.3 Vấn đề sử dụng hợp lý phương tiện dạy học
Chương 2 - THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
TRONG GIẢNG DẠY KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG ĐẠI
HỌC HÙNG VƯƠNG
2.1 Thực trạng phương tiện dạy học hiện có sử dụng trong giảng dạy kỹ
thuật công nghiệp
2.2 Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học
Chương 3 - MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC TRONG GIẢNG DẠY KỸ THUẬT CÔNG
NGHIỆP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
3.1 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học
trong giảng dạy kỹ thuật công nghiệp tại trường Đại học Hùng Vương
3.2 Thực nghiệm sư phạm.
nào, QTDH cũng phải sử dụng những phương tiện lao động cần thiết. Phương
tiện lao động sư phạm rất đa dạng, trong đó PTDH được coi là một bộ phận
của phương tiện lao động sư phạm, được định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau. Có thể nêu ra một số định nghĩa như sau:
+ PTDH là phần vật chất khách quan gồm toàn bộ những trang thiết bị,
máy móc, tài liệu…phục vụ cho việc giảng dạy và học tập.[8]
+ PTDH bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được
dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.[7]
+ PTDH bao gồm các phương tiện mang tin, phương tiện kĩ thuật và
phương tiện tương tác được sử dụng trực tiếp trong quá trình dạy học để
4
chuyển tải nội dung, tương tác với phương pháp dạy học nhằm đạt mục tiêu
xác định.[6]
+ PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên (GV) sử dụng
với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học
sinh (HS), nó còn là nguồn tri thức phong phú để học sinh lĩnh hội kiến thức
và rèn luyện kỹ năng.[5]
+ PTDH là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu hàm chứa đầy
đủ những ý định của GV và nó có thể được sử dụng hoặc chọn lựa nhằm
truyền tải, truyền đạt nội dung đến HS và nhằm liên kết giữa học sinh, giáo
viên và nội dung theo mục tiêu và phương pháp cũng như hoạch định ban đầu
của giáo viên.[4]
Như vậy có thể nhận thấy các dấu hiệu thường sử dụng trong các định
nghĩa về PTDH:
+ Là đối tượng vật chất.
+ Được GV và HS sử dụng trong QTDH.
+ Gắn liền với phương pháp dạy học và đảm bảo hiệu quả dạy học.
Qua tìm hiểu các định nghĩa khác nhau về PTDH và sự lĩnh hội của cá
nhân khi tiến hành các hoạt động dạy học, trong nghiên cứu của mình tôi sử
nhận được(%)
1 Nếm 1
2 Sờ 1,5
3 Ngửi 3,5
4 Nghe 11
5 Nhìn 83
Bảng 1.2 Tỷ lệ kiến thức nhớ được khi sử dụng các giác quan trong học tập
TT Hoạt động học
Lượng thông tin
ghi nhớ được (%)
1 Nghe 20
2 Nhìn 30
3 Nghe và nhìn 50
4 Tự trình bày 80
5 Tự trình bày và làm 90
Có thể đúc rút một cách dễ hiểu như sau: tôi nghe – tôi quên, tôi nhìn –
tôi nhớ, tôi làm – tôi hiểu. Thấy rằng, để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao
cần phải thông qua quá trình kết hợp nghe – nhìn – thực hành. Muốn vậy cần
phải có phương tiện để tác động và hỗ trợ, giúp cho quá trình nhận thức của
HS được thuận lợi. Học sinh có thể tri giác trực tiếp các đối tượng nghiên cứu
thông qua việc sử dụng kết hợp nhiều giác quan.
Trên cơ sở phân tích trên, cho thấy PTDH có vai trò to lớn đối với quá
trình dạy học. Không chỉ là một yếu tố, có tác động tới tất cả các yếu tố khác
của QTDH, mà bản thân PTDH còn hàm chứa một lượng thông tin nhất định
và đem lại nhiều lợi ích ở nhiều phương diện khác nhau. Cụ thể:
- PTDH giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn, ghi nhớ bài tốt
hơn.
- PTDH giúp cụ thể hoá những đối tượng, vấn đề, quá trình mang tính
trừu tượng; đơn giản hoá và có khả năng thể hiện được những thiết bị máy
móc, quá trình phức tạp; giúp khắc phục những hạn chế của lớp học bằng
hơn các sơ đồ, mô hình, hình vẽ, tác động trực tiếp lên nhiều giác quan của
HS tạo hình ảnh tương đối trọn vẹn về đối tượng nghiên cứu. Do đó những
PTDH được sử dụng để trực quan trong QTDH kết hợp với các phương tiện
hỗ trợ khác sẽ đem lại nhiều lợi ích cho dạy học kỹ thuật. Đặc biệt với sự ứng
dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho phép HS có thể quan sát, tương
tác được với nhiều đối tượng nghiên cứu mà trong điều kiện lớp học hoặc
thực tế không thể quan sát được (đối tượng quá to, quá bé, quá xa, quá trình
8
diễn biến, biến đổi quá nhanh hoặc không thể quan sát được bằng mắt
thường ).
Một đặc thù quan trọng nữa của dạy học kỹ thuật là có khá nhiều môn
học có nhiều thời gian học tại phòng thực hành, thí nghiệm. Trong dạy học
thực hành PTDH không chỉ là phương tiện mà còn là nội dung học tập. Tuy
nhiên, với điều kiện hiện nay thì hầu như cơ sở vật chất trang bị cho các
phòng thực hành còn thiếu thốn và được xây dựng từ rất lâu, từ nhiều nguồn
thiết bị cũ kĩ, khá lạc hậu. Vì vậy việc giảng dạy gặp nhiều khó khăn. Dó đó
việc áp dụng các phương tiện hỗ trợ hiện đại sẽ giúp giáo viên cập nhật thông
tin mới tới HS. Ví dụ như sử dụng hình ảnh, băng video mô tả một loại máy
móc mới, so sánh với các loại máy móc đã cũ của phòng thực hành, trên cơ sở
đó phát triển các thao tác tương ứng.
Qua phân tích trên thấy rằng không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho dạy
học nói chung mà PTDH còn có ý nghĩa đặc biệt trong dạy học kỹ thuật.
1.2 Các loại phương tiện dạy học.
1.2.1 Vấn đề phân loại phương tiện dạy học.
Các chuyên gia giáo dục đưa ra nhiều cách khác nhau về phân loại
PTDH và bản thân mỗi GV khi dạy học cũng đặt ra cho mình hệ thống phân
loại PTDH một cách rõ ràng, cụ thể để tiện sử dụng. Một số điểm được đưa ra
làm cơ sở cho việc phân loại PTDH như sau:
- Cơ sở khoa học về con đường nhận thức của HS trong quá trình học
tập.
đĩa ghi âm, các chương trỡnh phỏt thanh, tranh vẽ, biểu bảng, bản đồ, đồ thị,
ảnh, phim dương bản, phim cuộn, buổi truyền hình…)
+ Các vật mẫu, mô hình, tranh lắp ghép, phương tiện và vật liệu thí
nghiệm, máy luyện tập, các phương tiện sản xuất…
- Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học là những phương
tiện được sử dụng để tạo ra một môi trường học tập thuận lợi, có hiệu quả và
liên tục.
Phương tiện hỗ trợ bao gồm các loại bảng viết, các giá di động hoặc cố
định, bàn thí nghiệm, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng…
Phương tiện điều khiển bao gồm các loại sổ sách, tài liệu ghi chép về tiến
trình học tập, về thành tích học tập của học sinh.
* Dựa vào cấu tạo của phương tiện có thể phân các loại phương tiện dạy
học thành hai loại: các phương tiện dạy học truyền thống và các phương tiện
nghe nhìn hiện đại.[6]
10
- Phương tiện dạy học truyền thống: bảng viết, vật mẫu, mô hình, tranh vẽ,
biểu bảng, bản đồ, đồ thị, băng ghi âm
- Phương tiện nghe nhìn hiện đại: máy chiếu, ti vi, máy dạy học, máy tính
điện tử, máy phát thanh và truyền hình, phim dạy học.
1.2.2 Hệ thống phương tiện dạy học kỹ thuật.
1.2.2.1 Các phương tiện được sử dụng như một đối tượng nghiên cứu hoặc
thay thế đối tượng nghiên cứu.
Phương tiện nghe:
Phương tiện nghe là loại phương tiện tác động trực tiếp vào thính giác
dưới dạng âm thanh, thông qua kỹ năng nghe và giải mã người nghe hiểu
được thông tin.
Trong thực tế thì hầu hết thời gian học tập trên lớp của HS là nghe và
kết hợp với nhìn. Vì vậy việc sử dụng phương tiện nghe và kỹ năng nghe là
rất quan trọng.
Hiện nay phương tiện nghe độc lập rất hạn chế, chủ yếu là các loại
- Tranh ảnh dạy học: tranh ảnh dạy học được sử dụng như đối với hình
vẽ, bao gồm các tranh ảnh về máy móc, các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị…Tuỳ
theo nội dung của từng tranh, ảnh, GV có thể treo khi giảng bài hoặc treo cố
định ở một vị trí thích hợp trong lớp học. Kích thước cảu tranh dạy học
thường không lớn quá khổ A
o
do đó không nên đưa vào tranh quá nhiều chi
tiết vụn vặt hoặc thứ yếu hoặc quá màu mè không cần thiết làm phân tán chú
ý của HS. Yêu cầu quan trọng nhất đối với tranh, ảnh dạy học đó là cách thức
sử dụng và kỹ năng khai thác của GV trong QTDH.
- Mô hình:
+ Mô hình là một thể hiện bằng thực thể hay bằng khái niệm một số thuộc
tính và quan hệ đặc trưng của một đối tượng nào đó (nguyên hình) nhằm mục
đích nhận thức: dùng làm đối tượng quan sát thay cho nguyên hình hoặc làm
đối tượng nghiên cứu (thực nghiệm hoặc suy diễn) về nguyên hình.
+ Mô hình vật chất là những cái thay thế cho nguyên hình với những tính
chất đặc trưng: là vật thay thế, đại diện cho đối tượng gốc, phản ánh dấu hiệu
bản chất, quan hệ có tính phổ biến của đối tượng mà nó thay thế, do đó mang
tính khái quát, trực quan về đối tượng. Mô hình là một phương tiện nhận thức
trực quan độc đáo.
- Vật thật: đặc trưng nhất của loại phương tiện này là tính xác thực và
nguyên bản. Đó là các loại máy móc, bộ phận, chi tiết thật có thể làm việc
được trong thực tế. Khi sử dụng vật thật, HS có thể nghiên cứu trực tiếp trên
đối tượng thực, hình thành hiểu biết một cách chân thực nhất về đối tượng cần
nghiên cứu. Việc sử dụng vật thật làm PTDH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
như: kích thước của vật thật, giá thành của vật thật, sự cần thiết phải sử dụng
12
vật thật hay không, mức độ nguy hiểm khi dùng vật thật…Do đó vật thật chủ
yếu được sử dụng khi không thể sử dụng các loại PTDH khác (trong thực
hành, thí nghiệm) hoặc việc sử dụng là rất dễ dàng (vật thật không nguy hại,
+ Truyền hình dạy học:
Cựng với sự phát triển của ngành truyền hình người ta đó sử dụng rộng
rãi truyền hình trong dạy học. Truyền hình được sử dụng như một phương
tiện có hiệu quả cao và có được những ưu điểm:
+ Có tất cả các ưu điểm của phim dạy học
+ Làm băng ghi hình rẻ và dễ dàng hơn làm phim nhựa rất nhiều
+ Dễ dàng bổ sung những tư liệu mới vào băng ghi hình
+ Sử dụng truyền hình trong dạy học đơn giản, không cần phòng tối, có thể
điều khiển từ xa và thay đổi hình và tốc độ chuyển hình theo ý muốn của giáo
viên.
Truyền hình dạy học được sử dụng theo hai cách: truyền hình dạy học
không có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên và truyền hình dạy học tại lớp
và có sự hướng dẫn của giáo viên
Truyền hình dạy học không có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên
Đó là các buổi phát hình của trung tâm truyền hình của thành phố, khu
vực hay của trung tâm phát hình của trường phát đi. Nội dung của các buổi
phát hình có thể là truyền thực tiếp hoặc phát lại những giờ dạy của các giáo
viên dạy giỏi, các chuyên gia hay các thợ lành nghề.
Các buổi truyền hình rất thuận lợi cho việc tiến hành các bài giảng
thuyết trình. Học sinh nghiên cứu trước các tài liệu. Trong buổi truyền hình
người ta tổng kết và giới thiệu cho học sinh một cách trực quan các đối tượng
và quá trình mà học sinh không thể tìm hiểu ngay tại lớp. Các trung tâm
truyền hình có thể sử dụng kho lưu trữ quốc gia để cung cấp cho học sinh
những tư liệu mà nhà trường không thể có được.
Hiện nay với truyền hfnh và các phương tiện của công nghệ thông tin
người ta đó giải quyết nhiều vấn đề về dạy học từ xa, hội thảo từ xa giữa các
nhà khoa học ở các lục địa khác nhau mà không cần phải tập trung tại một địa
điểm.
Truyền hình dạy học có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên
Sự phát triển của kỹ thuật video đó giúp cho giáo viên có một phương
học tạo điều kiện thuận lợi (mà các phương tiện khác không có được) cho
giáo viên trình bày nội dung bài giảng, hình vẽ biểu diễn và nêu trọng tâm,
tóm tắt vấn đề cần truyền đạt cũng như nhấn mạnh các vấn đề cần ghi nhớ.
Hiện nay, bảng dạy học cũng được nghiên cứu phát triển để phục vụ
nhu cầu sử dụng ngày càng cao của người dạy và người học.
15
- Các loại máy chiếu: máy chiếu là loại PTDH được sử dụng ngày càng
nhiều trong dạy học, dùng để trình diễn từng phần của nội dung dạy học lên
màn chiếu. Tuỳ vào cấu tạo của từng loại máy chiếu mà có khả năng trình
chiếu khác nhau.
+ Máy chiếu bản trong (Overhead Projector): được dùng để phóng to và
chiếu văn bản, hình ảnh tĩnh có trên phim nhựa trong suốt lên màn hình để
phục vụ việc trình bày. Loại máy chiếu này có hạn chế rất lớn là không trình
diễn được hình ảnh động, khó tác động trực tiếp vào đối tượng được trình
chiếu và không chiếu được tài liệu in ấn.
+ Máy chiếu phản xạ (Opaque Projector): dùng để thu nhận, phóng to và
chiếu các tài liệu in ấn và những mẫu vật nhỏ lên màn hình để phục vụ việc
trình bày. Loại máy chiếu này có hạn chế tương tự như máy chiếu bản trong,
chỉ khác là chiếu tài liệu in ấn (máy chiếu bản trong chiếu phim nhựa trong
suốt).
+ Máy chiếu đa phương tiện (Multimedia Projector): dùng để phóng to và
trình diễn trên màn hình các nội dung từ các nguồn tín hiệu điện khác nhau
hoặc từ các thiết bị điện tử. So với các loại máy chiếu khác thì đây là loại có
nhiều tính năng ưu thế hơn cả. Ngoài tính năng nổi trội là kết nối được với
nhiều loại phương tiện khác thông qua tín hiệu điện mà các loại máy chiếu
khác không có, máy chiếu đa phương tiện còn có thể chiếu các tài liệu in ấn
và vật thể thông qua camera được đặt trên máy. Như vậy máy chiếu đa
phương tiện là một tích hợp hoàn hảo, đặc biệt khi kết hợp với máy tính điện
tử đã tạo nên khả năng trình diễn lý tưởng.
- Các thiết bị âm thanh: thiết bị âm thanh được sử dụng trong dạy học
1.3 Vấn đề sử dụng hợp lý phương tiện dạy học.
1.3.1 Yêu cầu đối với phương tiện dạy học.
Mỗi loại PTDH sẽ có những yêu cầu riêng, song để đánh giá chất lượng
của một PTDH, người ta thường sử dụng một số tiêu chí sau: tính khoa học sư
phạm, tính khoa học kỹ thuật, tính thẩm mỹ, tính kinh tế, tính nhân trắc học.
[5]
- Tính khoa học sư phạm:
+ PTDH phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa
và phương pháp dạy học, thúc đẩykhả năng tiếp thu của HS.
17
+ PTDH có tác dụng thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học
tích cực và các hình thức tổ chức dạy học tiên tiến.
+ Nội dung và cấu tạo của PTDH phải đảm bảo các đặc trưng của việc
dạy lý thuyết, thực hành và các nguyên lý sư phạm.
+ Các PTDH hợp thành bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ mang tính hệ
thống về nội dung, bố cục và hình thức sử dụng.
- Tính khoa học kỹ thuật:
+ PTDH phải đảm bảo phản ánh đúng bản chất của đối tượng.
+ Chất lượng vật liệu dùng chế tạo phải đảm bảo tuổi thọ cao, an toàn
tin cậy cho việc sử dụng và bảo quản.
+ PTDH phải thể hiện được các thành tựu mới nhất của khoa học
chuyên ngành hay trình độ công nghệ của nghề.
- Tính thẩm mỹ:
PTDH có kết cấu cân xứng, màu sắc hài hoà, rõ nét để kích thích sự chú ý
và hứng thú học tập của HS.
- Tính kinh tế:
PTDH có khả năng thực hiện được nhiều chức năng trong dạy học với chi
phí hợp lý.
- Tính nhân trắc học:
+ PTDH phải đủ lớn hoặc đủ số lượng để mọi HS trong lớp học có thể
Việc lựa chọn và đánh giá PTDH cần phải căn cứ vào các yêu cầu đối với
PTDH như đã nêu ở mục trên và quan trọng còn phải phù hợp với điều kiện
dạy học cụ thể, đó là mục tiêu bài dạy và các nhiệm vụ học tập; là đặc điểm
nội dung bài học, thời gian, trình độ HS, không gian lớp học và phương pháp
dạy học.
Mỗi loại PTDH có những đặc điểm riêng và yêu cầu cụ thể khi sửdụng.
Tuy nhiên, việc lựa chọn, sử dụng PTDH đầu tiên phải tuân theo một số
nguyên tắc sau[3]:
- Đảm bảo an toàn và độ tin cậy:
+ Đảm bảo an toàn điện khi sử dụng.
+ An toàn cho thị giác và thính giác.
+ Phải đảm bảo việc sử dụng PTDH sẽ chắc chắn đem lại hiệu quả tốt hơn.
- Nguyên tắc vừa sức:
+ Sử dụng PTDH đúng lúc (đúng thời điểm và trình tự quan sát):
Sử dụng phương tiện có ý nghĩa giúp cho quá trình nhận thức của người
học trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn, người học lĩnh hội được tri thức nhanh
hơn và ghi nhớ lâu hơn. Trong quá trình dạy học, một trong những nguyên
19
nhân làm giảm hiệu quả của quá trình nhận thức làlàm phân tán sự chú ý của
người học, làm cho người học không tập trung vào nội dung kiến thức đang
nghiên cứu. Vì vậy, khi sử dụng PTDH tuyệt đối không được để nó ảnh
hưởng không tốt đến sự tập trung chý ý của người học, mà ngược lại phải thu
hút được sự chú ý. Muốn vậy, PTDH phảI được xuất hiện đúng vào lúc mà
nội dung, phương pháp bài giảng cần đến nó. Cần đưa PTDH vào theo đúng
trình tự bài giảng đã định sẵn, tránh việc trưng bày hàng loạt trên bàn, trên giá
trong một giờ học khi chưa cần sử dụng tới.
Một vấn đề quan trọng nữa là cần phân biệt thời điểm sử dụng tong loại
PTDH. Cần nghiên cứu kỹ nội dung, xác định phương pháp tốt nhất và PTDH
phù hợp nhất với tong phần nội dung và phù hợp với diễn biến tâm lý của HS
trong từng tiết học.
bộ khi sử dụng kết hợp nhiều loại PTDH, không để các PTDH mâu thuẫn, loại
trừ lẫn nhau, mà chỉ khắc phục những hạn chế của nhau. Đồng thời phải đảm
bảo sự tương tác trong dạy học. PTDH dù hiện đại đến đâu cũng không thể
thay thế được vai trò của GV, trước hết là phương pháp dạy học và kỹ thuật
dạy học của GV. Việc sử dụng PTDH không thể theo một chiều mà phải tính
đến sự “tương tác” với HS, nghĩa là làm cho HS không thụ động tiếp nhận
PTDH mà có thể tác động trở lại PTDH để hoàn thiện quá trình nhận thức của
mình.
Chương 2 - THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
TRONG GIẢNG DẠY KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
2.1 Thực trạng phương tiện dạy học hiện có sử dụng trong giảng dạy kỹ
thuật công nghiệp.
Để đi vào phân tích tình hình sử dụng phương tiện dạy học trong dạy
học các môn KTCN, đề tài điểm qua một số nét đặc thù liên quan đến việc
giảng dạy KTCN như sau:
21
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc sử dụng PTDH trong giảng dạy
các học phần KTCN, tuy nhiên trong chương trình có một số học phần có nội
dung mang tính chất tương đối như nhau (> 60% nội dung) giữa các học phần
KTCN và một số học phần khác (điện kỹ thuật, điện tử học, cơ khí ), và giáo
viên KTCN cũng được phân công giảng dạy các học phần đó, do vậy đề tài có
sự mở rộng đối tượng nghiên cứu để tăng tính khách quan.
- Các học phần KTCN được giảng dạy đều thuộc ngành phụ: CĐ Lý-
KTCN; ĐH Kỹ thuật nông nghiệp-KTCN-KTGĐ.
- Số lượng giáo viên có thể tham gia giảng dạy các học phần KTCN
không nhiều. Theo thống kê của chúng tôi, hiện tại có 07 giáo viên KTCN, 01
Kỹ thuật viên(quản lý thiết bị thực hành) và 04 giáo viên ngành vật lý đã
giảng dạy các học phần có nội dung tương tự KTCN.
- Về mặt quản lý các giảng viên, cán bộ không thuộc một bộ môn riêng,
5 Đe vuông 01 cũ 37 Máy ổn áp 01 cũ
6 Đe chữ B 01 cũ 38 Mô hình sơ đồ
dàn trải tủ lạnh
01 cũ
7 Dây điện 60 cũ 39 Mỏ hàn 01 cũ
8 Vít 01 cũ 40 Máy quấn dây 01 cũ
9 Đục các loại 10 cũ 41 Màn hình màu 01 cũ
10 Dụng cụ uốn
kim loại
01 cũ 42 Mô hình sơ đồ ti
vi đen trắng
01 cũ
11 Cưa 01 cũ 43 Đầu băng 01 Hỏng
12 Khoan 01 cũ 44 Đồng hồ đo 05 cũ
13 Tán đinh 01 cũ 45 Máy hiện súng 02 cũ
14 Mộng vuông 02 cũ 46 Máy phát hàm 01 Mới
15 Búa 01 cũ 47 Linh kiện điện tử Mới
16 Kìm điện 01 cũ 48 Bo mạch 05 Mới
17 Compa vạch
dấu
01 cũ 49 Dây nối Mới
18 Dưỡng vạch
dấu
01 cũ 50 Hộp đựng linh
kiện
05 Mới
19 Chìa vặn 10-
12-19-22
01 cũ 51 Mô hình Cơ
cấu(CC) truyền
30 Mài đá 01 cũ 62
31 Dao tiện 01 cũ 63
32 Dao các loại 01 cũ 64
Khi tiến hành xin ý kiến cán bộ, giảng viên về tình trạng trang bị PTDH
thu được những đánh giá như bảng 2.2:(mẫu phiếu xem phụ lục 1)
Bảng 2.2 Đánh giá về tình hình trang bị PTDH cho giảng dạy KTCN
Tình hình trang bị
PTDH
Kết quả
Dạy lý thuyết Dạy thực hành
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Đầy đủ - - - -
Tương đối đầy đủ 07 63,6 03 27,3
Thiếu nhiều 04 36,4 08 72,7
Không đáng kể - - - -
Như vậy xét về dạy lý thuyết có thể nói được trang bị tương đối đầy
đủ, nhưng xét về dạy thực hành thì còn thiếu nhiều. Có 63,6% cán bộ, giảng
viên được hỏi cho rằng PTDH trang bị cho dạy lý thuyết là tương đối đầy đủ
và có 72,7% cho rằng PTDH thực hành thiếu nhiều. Theo thống kê của chúng
tôi có hơn 60 đầu mục các PTDH có thể dùng trong giảng dạy KTCN, bao
gồm trong giảng dạy cơ khí, kỹ thuật điện, kỹ thuật điện tử, phương pháp dạy
học tuy nhiên số lượng/đầu mục lại không nhiều,rất nhiều đầu mục có 01
chiếc. Chính vì vậy sử dụng làm PTDH lý thuyết thì đáp ứng được, nhưng
Căn cứ vào số liệu trên và thực tế khảo sát tình trạng cũ hay mới, còn
sử dụng được hay không và những khó khăn khi sử dụng, có thể thấy các loại
bảng viết, giáo trình, bài giảng, máy chiếu, máy tính là những phương tiện
đáp ứng cao nhất so với nhu cầu sử dụng, song cũng chưa đạt mức độ cao
nhất. Có 90 % giảng viên được hỏi cho rằng bảng viết đáp ứng tốt. Còn giáo
trình, bài giảng, máy chiếu, máy tính đạt mức khá là 70 - 80 %. Các loại khác
ở mức không đáng kể. Thực tế cho thấy tất cả các phòng học của trường đều
25