BÁO CÁO THỰC TẬP-KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM 11 - Pdf 27

A. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay vấn đề học sinh yếu luôn được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc
phục. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người giáo viên không
những chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu. Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với
không ít giáo viên.
Trong những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học ngày càng phổ biến. Cấp học
càng cao tỷ lệ học sinh bỏ học càng lớn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng
học sinh bỏ học : Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, bố mẹ đi làm xa đưa con theo. Do
các em bị mồ côi không ai chăm sóc, nương tựa. Nhưng trong đó nguyên nhân chính
là các em học tập yếu kém nên không thích đi học, không thích đến trường nên nghỉ
học.
Xã hội ngày càng phát triển, thì yêu cầu về giáo dục cũng được nâng cao. Đòi hỏi
trong xã hội ai cũng được học hành, được tiếp thu được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo từ
nhà trường để phục vụ cuộc sống sau này. Chúng ta ngày đêm đang ra sức phổ cập
giáo dục ở các cấp học. Nhưng trên thực tế có biết bao nhiêu học sinh bỏ học giữa
chừng. Biết bao nhiêu trẻ em không biết đọc, biết viết hoặc đọc viết không thông thạo
mà đã nghỉ học. Tất cả đều là sản phẩm của nhà trường, do chưa quan tâm đến học
sinh yếu, chưa có biện pháp để giúp đỡ học sinh yếu kém.
Hiện nay ở một số trường đặc biệt là các trường vùng nông thôn và các trường ở
vùng sâu người làm công tác giáo dục còn bế tắc trong việc giúp đỡ học sinh yếu
kém. Có nhiều giáo viên vẫn biết một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém học tập
có tiến bộ nhưng lại thực hiện không tới nơi tới chốn. Ban giám hiệu lại không quan
tâm, chỉ đạo giáo viên thực hiện, hoặc chỉ thực hiện trên lí thuyết. Cho nên nhiều gia
đình có kinh tế cao sẵn sàng tạo mọi điều kiện cho con mình đến trường, cho con
mình học tới nơi, tới chốn nhưng cũng bất lực nhìn con mình ngày ngày lêu lỏng
1
ngoài đường, vào tiệm internet, bị lôi cuốn chơi với bạn xấu dẫn đến học tập yếu kém
và bỏ học.
Qua nhiều năm công tác ở trường, và tìm hiểu ở các trường khác tôi thấy rằng để

thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường, lớp. Đây là điều kiện tốt để giáo viên
tạo sự hứng thú cho các em. Nếu hàng ngày khi đến trường các em được thầy cô ân
cần chỉ bảo. Trong học tập các em được hoạt động nhóm, được làm thí nghiệm, chơi
các trò chơi học tập thì các em sẽ ham học hơn từ đó các em sẽ học tập có tiến bộ
hơn.
1. Cơ sở thực tiễn :
Hiện nay xu hướng của giáo dục là: “Dạy thật – Học thật” không chạy theo
thành tích. Muốn thế học sinh phải hiểu được, làm được bài theo nội dung kiến thức
chương trình đưa ra, tức là các em không phải là học sinh yếu kém. Muốn vậy Ban
giám hiệu nhà trưởng phải chú trọng và chỉ đạo giáo viên có sự đổi mới không ngừng
về phương pháp cũng như hình thức dạy học. Giáo viên phải luôn làm mới mình
trước học sinh từ phương pháp cũng như hình thúc dạy học. Việc dạy học hiện nay
không phải giáo viên cung cấp kiến thức cho học sinh một cách rập khuôn nhàm
chán, mà cung cấp cho học sinh các phương pháp học tập để học sinh tự tìm ra kiến
thức một cách tích cực.
Đối với học sinh yếu thì việc học tập, tiếp thu kiến thức của các em là vấn đề rất
quan trọng. Do đó chúng ta phải làm như thế nào để các em học cho có hiệu quả cao,
phát huy hết năng lực vốn có của mình. Hiện nay nhiều trường hay nhồi nhét kiến
thức cho học sinh bằng các hình thức học thêm, học hai buổi Đưa ra rất nhiều
phương pháp giảng dạy mà quên đi việc bồi lấp lỗ hổng kiến thức cho học sinh yếu.
Sự ham thích học tập ở học sinh chủ yếu hình thành thông qua các hoạt động thực
tế như hoạt động giao lưu, tập thể và nhóm ; Qua sự tác động của môi trường cơ sở
3
vật chất như trường, lớp, qua thái độ của thầy cô, bạn bè. Do đó trong nhà trường cần
có những biện pháp, những hoạt động, những cải tạo về trường, lớp, về tác phong sư
phạm của giáo viên nhằm tạo cho học sinh một môi trường thân thiện, gần gũi từ đó
giúp học sinh ham thích học tập, để học tập càng có tiến bộ.
Tóm lại, việc chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu học tập có tiến bộ là một
công tác chính đáng, thực sự cần thiết trong nhà trường hiện nay. Và giáo viên cần
được đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy để giúp học sinh yếu học tập tiến bố

+ Phương pháp thực nghiệm :
Đề xuất với giáo viên chủ nhiệm, với phụ huynh một số phương pháp đổi mới
nhằm nâng cao kết quả học tập cho học sinh yếu kém. Sau đó cùng nhau phối hợp
đánh giá.
+ Phương pháp cải tiến :
Qua việc tìm ra nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu từ đó đưa ra một số phương
pháp cải tiến để tìm ra giải pháp tốt nhất làm cơ sở nghiên cứu.
III. Giới hạn của đề tài:
1. Khách thể nghiên cứu bao gồm :
+ Không gian : Địa bàn chính ở trường Tiểu học Kim Đồng.
+ Thời gian : Năm học 2012 –2013.
+ Học sinh các lớp thuộc trường tiểu học Kim Đồng ; Đội ngũ thầy, cô cùng
thầy tổng phụ trách ; Phụ huynh học sinh ở ấp 4, 5, 6, 7 xã Hòa Hội huyện
Xuyên Mộc, BR-VT.
2. Đối tượng nghiên cứu bao gồm :
+ Công tác quản lí phụ đạo học sinh yếu của chuyên môn, Ban giám hiệu, của
các tổ chức có liên quan nhằm nâng cao chất lượng học sinh yếu kém.
5
+ Các phương pháp, biện pháp giảng dạy giúp đỡ học sinh yếu kém ở lớp học
do giáo viên chủ nhiệm đảm nhiệm.
+ Sự quan tâm, giáo dục của phụ huynh học sinh đối với việc giúp đỡ học sinh
học tập ở gia đình.
IV. Các giả thiết nghiên cứu:
+ Phải chăng việc chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu ở các trường tiểu học
chưa quan tâm đến nơi đến chốn. Trong nhu cầu đổi mới đất nước với sự tiến bộ công
nghệ thông tin khoa học, mỗi cá thể sống và làm việc trong cộng đồng cần phải biết
học và tự học không ngừng, muốn vậy các em cần cố gắng trang bị cho mình những
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo để phục vụ cho cuộc sống sau này. Và phải chăng trường
học là môi trường giáo dục lý tưởng để giúp học sinh học tập tốt tiếp thu những kiến
thức trong học tập và muốn như vậy thì học sinh không thể là học sinh yếu kém.

nhiều. Các thông kê những
năm trước cho thấy điểm
kiểm tra các kì số học sinh
học yếu vẫn tồn tại.
Có nhiều nguyên nhân tạo
nên hiện trạng trên :
1. Học sinh bị hỏng kiến thức
từ lớp dưới.
2. Gia đình không quan tâm,
không có điều kiện và tạo
điều kiên cho học sinh học
tập.
3. Học sinh bị bệnh lí…(bệnh
tự kỉ, bệnh tăng động giảm
chú ý.
4. Giáo viên thiếu phương
pháp hợp lí, sáng tạo để dạy
học sinh yếu, không gây được
hứng thú học tập ở học sinh.
Chọn nguyên nhân thứ tư để
can thiệp.
Bước 2 : Thiết kế -BGH chỉ đạo giáo viên Đưa ra các phương pháp trên
7
giải pháp thay thế.
Từ 01/09/2012
đến 05/09/2012
quan tâm đến công tác phụ
đạo học sinh yếu kém.
+Mỗi giáo viên phải có một
sổ theo dõi học sinh yếu

khắc phục. Tiến hành thực
nghiệm những biện pháp đã
đề ra.
Tác giả phối hợp với BGH-
GV trường
Từ 01/06/2012
đến 30/07/2012
- Đánh giá lại quá trình
thực hiện tìm ra ưu, khuyết
trong những phương pháp
rèn học sinh yếu.
Tác giả phối hợp với BGH-
GV trường
Từ 01/11/2012
đến 19/12/2012
- Cải tiến và tiếp tục đề ra
những phương pháp, biện
pháp phụ đạo. Tiến hành
thực nghiệm những phương
pháp, biện pháp đã đã cải
tiến.
Tác giả phối hợp với BGH-
GV trường
Từ 20/12/2012
đến 25/12/2012
- Đánh giá kết quả của quá
trình nghiên cứu.
Tác giả phối hợp với - BGH
Từ 26/12/2012
đến 10/01/2013

hoạch tốt thì hoạt động sẽ có kết quả. Lâu nay việc phụ đạo học sinh yếu Ban giám
hiệu thường giao cho giáo viên chủ nhiệm. Nếu như giáo viên không nhiệt tình, tâm
huyết với nghề thì coi như lớp đó sẽ có nhiều học sinh yếu kém. Và những học sinh
yếu kém luôn bị giáo viên bỏ bên ngoài tiết dạy. Vậy để công tác dạy học sinh yếu
kém có hiệu quả thì Ban giám hiệu có thể thực hiện những biện pháp sau :
2.1 Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xác định nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu:
Hiện nay học sinh yếu ở các trường chiếm một tỉ lệ không nhỏ, đó cũng là hậu quả
của việc chạy theo thành tích mà để học sinh ngồi nhầm chỗ. Vậy để học sinh yếu
tiến bộ thì ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu cần chỉ đạo cho giáo viên nhận diện
10
học sinh yếu kém và có nguy cơ trở thành học sinh yếu kém ở lớp mình và tìm các
biện pháp giúp đỡ các em. Giáo viên cần phải nhận diện được học sinh : Yếu môn
nào? Yếu kĩ năng gì? Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên.
Có những nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém trong học tập của học sinh :
+ Do hoàn cảnh gia đình :
Do gia đình vì một lí do nào đó (Kinh tế gia đình khó khăn, tình cảm vợ chồng
không hòa hợp vv ) không quan tâm đến sự học hành của con cái. Phó mặc mọi việc
cho nhà trường. Dẫn đến các em không có ý thức tự giác trong học tập. Hoặc bố mẹ
làm việc theo thời vụ luôn di chuyển nơi làm kéo học sinh liên tục chuyển trường…
Do trong gia đình có sự thay đổi lớn như: bố mẹ li dị, hay cãi vã đánh nhau, gia
đình tan vỡ vv… Làm cho trẻ bị thay đổi về tâm lí dẫn đến chán học…
Một số cha mẹ quá nuông chìu con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinh lười
học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi hay đi du lịch ) cha mẹ cũng đồng ý cho
phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần căn
bản và rồi yếu kém !
Do phụ huynh không biết cách giáo dục con cái, những pháp giáo dục không đúng
cách sinh ra phản tác dụng. Quản lí thời gian biểu con em không tốt, trong việc học ở
nhà, trong việc chọn bạn mà chơi….
+ Do học sinh mất căn bản từ lớp dưới :
Do những lớp đầu cấp đã bị mất căn bản, dẫn đến các lớp sau học sinh đều là học

Ban giám hiểu cần yêu cầu mỗi giáo viên chủ nhiệm phải có kế hoạch phụ đạo học
sinh yếu của lớp mình, có những phương pháp giảng dạy thích hợp, giải quyết sự yếu
kém của học sinh từ những nguyên nhân trên.
VD: Học sinh yếu vì mất kiến thức từ lớp dưới thì tổ chức phụ đạo cho các em lấy
lại kiến thức, học sinh yếu vì ham chơi thì quản lí các em tốt hơn tổ chức các hình
thức vui chơi để các em ham thích học tập… học sinh học yếu vì hoàn cảnh gia đình
thì giáo viên phối hợp với phụ huynh để tìm biện pháp tháo gỡ…
12
Ban giám hiệu yêu cầu mỗi giáo viên chủ nhiệm phải lập sổ theo dõi từng đối
tượng học sinh yếu của lớp. Giáo viên cần xác định được mức độ học sinh yếu kém,
như các em yếu môn gì ?… kiến thức gì ?… Mức độ yếu kém? biện pháp đã đề ra,
sự chuyển biến của học sinh theo từng tháng, từng học kì.…
Nội dung của sổ gồm những phần như sau :
Ví dụ : Họ và tên: Nguyễn Văn An ; lớp 4A1
Thời gian
Tình trạng
học sinh
Nội dung
phụ đạo
Biện pháp thực
hiện
Kết quả
Từ 01/09
đến
30/09/12
Không có kĩ
năng nhân và
chia các số
có từ 2 chữ
số trở lên.

chán học
môn toán.
Kĩ năng
chia một số
cho số có 1,
2, 3 chữ số.
Giáo viên tổ chức
lớp phụ đạo vào
mỗi sáng thứ bảy.
Đổi mới một số
phương pháp giảng
dạy ở lớp để giúp
học sinh ham học.
Học sinh có thái
độ học tập tích
cực. Bước đầu đã
biết thực hiện
phép chia cho số
có 2 chữ số.
Ví dụ : Họ và tên: Nguyễn Văn Bình ; lớp 5A1
Thời gian
Tình trạng
học sinh
Nội dung
phụ đạo
Biện pháp thực
hiện
Kết quả
Từ 01/09
đến

các âm cuối n và
ng…
Từ 01/10
đến
31/10/2012
Viết chính tả
còn chưa
phân biệt dấu
hỏi và ngã.
Âm tr và ch
và một số từ
khó.
Kĩ năng viết
đúng chính
tả dựa vào
nghĩa của từ
và một số
qui tắc đặt
dấu thanh.
Giáo viên phụ đạo
vào các giờ chính
tả.
Giao bài về nhà nhờ
phụ huynh đọc cho
viết.
Viết chính tả có sự
tiến bộ nhưng vẫn
còn sai nhiều. các
bài chính tả ở lớp
đạt mức trung

viên chủ nhiệm cần trao đổi, hướng dẫn phụ huynh nên tạo điều kiện tốt để cho để
con em mình đến trường (bảo đảm thời gian đến trường, sắm dụng cụ học tập, giúp
con học ở nhà, cùng vui chơi học tập với con em mình, nhắc nhở con cái giờ học…),
khi giáo dục con em nên nhẹ nhàng, cần cho các em hiểu việc đó đúng sai thay vì la
mắng trừng phạt.
Việc quan tâm đến bạn bè của con em cũng rất quan trọng. Chơi với bạn xấu trước
sau gì các em cũng nhiễm thói xấu. Phụ huynh chú ý đến những thời gian rảnh rỗi
của con em mình, cần biết các em đi đâu, chơi chỗ nào. Đừng cho các em quá nhiều
thời gian tự do một mình mà cha mẹ không biết. Cần liên lạc với giáo viên để biết
tình hình của con em mình, như : Có đến trường không? Có đi lao động không? Có
hành vi gì cần sửa chữa vv
Khi học sinh yếu kém phụ huynh cần giúp con em lấy lại niềm tin học tập nhận
thức được học là một hoạt động đầy hứng thú. Cần có sự ham thích mới học tốt được.
Giúp con em thấy được từ những bài học trên lớp con sẽ học được rất nhiều điều thú
vị mà đều là những tri thức có lợi cho bản thân. Cần giúp trẻ vượt qua khó khăn để
15
lấy lại kiến thức đã mất, động viên con khi bị điểm kém thì cũng không nên quá chán
nản, mà nên tìm ra nguyên nhân để lần sau cố gắng làm bài tốt hơn.
Tạo cơ hội để trao đổi trực tiếp với phụ huynh học sinh, nắm bắt cụ thể hướng
phấn đấu của học sinh vì mục tiêu, kế hoạch chung của lớp, của trường…thông qua
các buổi họp phụ huynh học sinh.
Hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là điều cần thiết để học sinh học tập và rèn
luyện. Qua đó, giáo viên sẽ thông tin kịp thời đến phụ huynh về kết quả học tập, hạnh
kiểm, các mặt tham gia hoạt động…của con em mình thông qua sổ liên lạc. Giáo viên
và phụ huynh cần có sự liên kết hai chiều nhằm có biện pháp tác động phù hợp, động
viên khuyến khích khi các em tiến bộ, nhắc nhở kịp thời khi các em có biểu hiện cần
uốn nắn…
Vận động học sinh trong lớp, trường giúp đỡ bạn về vật chất, tinh thần, công việc
gia đình, thăm hỏi khi ốm đau, bệnh tật…
Đối với học sinh không còn bố, mẹ hoặc cả bố mẹ Ban giám hiệu, giáo viên

chi tiết hơn vv…
- Như ta thấy ở tiểu học rất nhiều học sinh yếu khi làm việc một mình thì run sợ
nhưng khi có thêm bạn bè thì các em dạn dĩ hẳn lên và làm được bài.
VD: Như kêu một học sinh lên trước lớp hát chẳng hạn thì em này không thể hát
được, hoặc hát không hay, nhưng khi kêu thêm vài bạn nữa thì các em thể hiện rất tốt
bài hát.
Hoặc kêu một học sinh đọc yếu lên trước lớp đọc bài chẳng hạn thì em này không
thể đọc tốt được, hoặc đọc không trôi chảy, nhưng khi kêu thêm vài học sinh khác lên đọc
chung (mỗi em mỗi câu hay đoạn) thì em học sinh yếu thể hiện việc đọc bài tốt hơn.
Như vậy để tất cả các em trong một giờ học đều tham gia tích cực đặc biệt những
em học yếu, nhút nhát giáo viên cần cho các em đó tham gia vào một hoạt động tập
thể, rồi dần dần cho các em thể hiện một mình. Hay cho một số em khá, giỏi lên trước
rồi mới cho các em yếu kém lên sau. Có như vậy các em yếu lên sau mới bình tĩnh
được.
17
VD: Trong tiết học đạo đức lớp 1 có phần giới thiệu về bản thân và gia đình mình
cho các bạn nghe. Nếu ngay từ đầu ta gọi một em học yếu, lên bảng giới thiệu thì em
đó lúng túng không làm được. Nhưng khi kêu các một số em giỏi khá lên nói trước và
kêu những em yếu lên sau thì gần như tất cả các em đều trả lời được.
Trong tiết học Từ ngữ lớp 4, 5 có phần tìm từ ngữ cùng một chủ đề. Nếu ngay từ đầu ta
gọi một em học yếu, lên bảng giới thiệu thì em đó lúng túng không tìm được. Nhưng khi kêu
một số em giỏi khá tìm từ trước và kêu những em yếu lên sau thì gần như tất cả các em đều
tìm và trả lời được.
b) Phương pháp giao việc cho học sinh yếu kém.
Để học sinh yếu kém học tập có kết quả cần yêu cầu giáo viên giao việc cho các
em làm.
Trong giảng dạy ở lớp giáo viên phải biết giao cho các em học yếu bài tập ở lớp
cũng như về nhà, (nhằm giúp các em lấy lại kiến thức đã mất) lưu ý là ở mức độ vừa
phải tránh ngay lúc đầu đưa ra một lượng kiến thức quá lớn khiến các em thấy việc
học quá nặng nề. Do đó giao bài về nhà cho các em thì lần đầu bài tập nên ít và dễ

phải hoạt động để giải quyết những yêu cầu giáo viên đề ra và các em không còn
thụ động nữa…
- Trong các tiết rèn và ôn giáo viên bắt buộc phải dạy theo từng nhóm đối tượng.
Vì không làm như thế thì các em yếu sẽ không nắm được kiến thức bài và giáo viên
cần tập trung nhiều thời gian cho việc rèn học sinh yếu hơn, với phương châm “Thà
trường không có học sinh giỏi còn hơn có một học sinh yếu” Trong khi dạy giáo viên
cần dành nhiều thời gian tới học sinh yếu để giúp các em hiểu bài, nắm chắc kiến
thức tại lớp, lấy lại kiến thức cũ…
d) Phương pháp giảm độ khó của câu hỏi phù hợp với học sinh yếu
19
- Trong lớp học những em học yếu kém thường hay rụt rè, nhút nhát. Trong giờ
học không dám giơ tay phát biểu bài. Trong tiết học chỉ có khoảng 4 đến 5 em khá
giỏi thường xuyên giơ tay phát biểu còn lại đều thụ động ngồi im. Đó là vì những câu
hỏi giáo viên đưa ra quá khó, dạng phải suy luận nhiều khiến các em không biết đáp
án của mình đúng sai nên không dám trả lời. Từ đó các em thành thói quen không giơ
tay xây dựng bài nữa, đâm ra chán học và trở thành học sinh yếu kém. Do đó yêu cầu
giáo viên nên quan tâm đến các em yếu hay nhút nhát, không dám xung phong lên
bảng. Giáo viên phải tìm được câu hỏi dễ để gọi các em trả lời và sau đó cho cả lớp
tuyên dương để động viên các em. Phải biết đặt câu hỏi theo từng đối tượng, đối với
học sinh yếu tránh tình trạng câu hỏi quá khó, các em khó xác định đúng, sai, suy
luận nhiều. Làm cho các em ngập ngừng không mạnh dạn phát biểu. Yêu cầu giáo
viên trong một giờ học nên đổi một số câu hỏi trong sách thành những câu hỏi dạng
trắc nghiệm, hay câu hỏi có gợi ý để các em yếu dễ dàng trả lời.
VD : Trong tiết tập đọc lớp 5 bài “Lớp học trên đường” ta có thể thay đổi câu
hỏi 3 “Tìm những chi tiết cho thấy Rê- mi là cậu bé rất hiếu học?” Bằng câu hỏi
dạng trắc nghiệm sau: “Các em hãy chọn đáp án a , b, c đúng với câu hỏi sau: Chi
tiết cho thấy Rê-mi là một cậu bé hiếu học là:
a. Lúc nào Rê-mi cũng đầy những miếng gỗ và không bao lâu đã thuộc tất cả các
chữ cái.
b. Rê-mi không dám sao nhãng một phút nào.

hiện được rồi thì mới dạy chia cho số cho hai chữ số.
Học sinh học yếu chủ yếu là do các em mất kiến thức dẫn đến không hiểu bài. Dù
giáo viên có tạo được sự ham thích học tập ở các em nhưng khi không hiểu được bài
thì niềm ham thích đó cũng không còn… Mà sự mất kiến thức của các em không
giống nhau trong từng lớp học.
21
VD: em yếu môn đọc, em yếu môn chính tả, em yếu môn toán… Trong những em
yếu môn toán thì sự mất kiến thức cũng không giống nhau, em yếu dạng toán đố, em
yếu dạng toán hình… và mức độ yếu cũng khác nhau…
Vì vậy khi đã xác định được trình độ ở các em rồi thì giáo viên nên có kế hoạch
dạy theo trình độ từng em.
Ví dụ: Khi học sinh làm bài tập 35 x 8 = ? ở toán lớp 3, với bài này học sinh làm
không được thì chứng tỏ học sinh không thuộc bảng nhân 8. Vậy giáo viên yêu cầu
học sinh yếu có thể nhìn bảng nhân 8 để làm và sao đó yêu cầu em học bảng nhân 8
sau cho thuộc. Nếu không làm vậy thì học sinh yếu không thể làm bài được. Vì ở đây
các em biết cách làm nhưng không làm được vì không thuộc bảng nhân.
Để việc dạy theo trình độ từng em không ảnh hưởng chung cả lớp thì giáo viên
nên tiến hành vào tiết ôn hoặc tiết rèn. Hoặc khi giao bài về nhà cho các em. Còn các
tiết dạy học chính khóa thì giáo viên nên đến giúp đỡ từng em…
2.3.3 Học sinh yếu do lười học, không chăm chỉ, không chuyên cần hoặc chưa
nhận thức được nhiệm vụ học tập :
Những học sinh rơi vào tình trạng trên là do : Các em chán học thường xuyên trốn
học, không học bài, không làm bài, thường xuyên để quên vở bài tập ở nhà, vừa học
vừa chơi, không tập trung… Để các em này học tập có tiến bộ thì phải tạo sự được
hứng thú học tập ở các em. Giáo viên có thể sử dụng những biện pháp sau đây :
a) Phương pháp thư giản (vui chơi) trong các tiết học:
Trong học tập có rất nhiều môn học khô khan, nặng về kiến thức như toán, tập làm
văn, chính tả vv…Đối với học sinh thường không có hứng thú học những môn này
(trừ những em giỏi thì ham học vì có điểm cao). Như vậy để tạo được sự hứng thú,
ham thích việc học ở học sinh yếu giáo viên cần tăng cường các trò chơi, hình thức

đối xử công bằng với học sinh.
23
Trong giảng dạy giáo viên lưu ý lời nói phải nhẹ nhàng, giữa giáo viên và học sinh
luôn có sự ăn ý nhịp nhàng, khi giảng bài giáo viên phải luôn quan sát học sinh trong
lớp, đặc biệt những em học yếu hay nghịch ngợm. Mỗi lần học sinh có ý kiến nếu trả
lời sai thì phải giúp học sinh hiểu cái sai, không nên để cho học sinh ngồi xuống mà
không biết mình sai điểm nào, đừng để học sinh bị mất mặt trước mặt bạn bè, làm trò
cười cho lớp học. Không sử dụng thước làm công cụ đánh đập học sinh, sử dụng
thước nhẹ nhàng tránh việc gõ thước quá mạnh làm học sinh giật mình. Biết động
viên, khích lệ học sinh dù các em chưa thật sự tiến bộ hay tiến bộ rất chậm. Giáo viên
biết sử dụng năng khiếu của mình làm tiết học thêm sinh động. Ví dụ: Tìm những câu
truyện vui kể cho các em, hay pha một vài câu hài hước để học sinh cảm thấy thoải
mái Một tiết học mà học sinh hoạt động vui vẻ, có tiếng cười sẽ có hiệu quả hơn
những tiết học mà học sinh quá nghiêm túc.
Để các em yếu mạnh dạn hơn thì giáo viên phải biết yêu thương, gần gũi, tạo sự
thân tình để các em hòa đồng vào môi trường học tập ở trường lớp. Để từ đó các em
có ấn tượng tốt với trường lớp, thầy cô mà ham thích học tập.
Giáo viên phải biết gần gũi tâm sự, với trò chuyện với những học sinh yếu đặc
biệt những em nhút nhát. Hỏi các em về chuyện gia đình, về chuyện học hành, để các
em cảm thấy thân thiện với giáo viên hơn và qua đó giáo viên sẽ hiểu được nguyên
nhân vì sao các em học yếu, hiểu về tâm tư tình cảm, hoàn cảnh các em để có biện
pháp dục tốt hơn.
Ví dụ : Nhà em ở đâu? Bố mẹ làm gì ? Hôm nay ai chở em đi học? Hôm nay em
có hiểu bài không? Có cần cô giúp gì không vv
- Nhiều khi chỉ một câu nói, một cử chỉ của thầy cô mà thay đổi cả cuộc đời các
em. Làm cho các em thấy thầy cô luôn quan tâm đến mình, không ghét bỏ mình và
các em thêm gần gũi, yêu mến thầy cô, tự tin vào bản thân mình (Như một lời khen
hay một lời khuyến kích, động viên, một cử chỉ thân mật). Đối với những em còn
24
thiếu tự tin thì giáo viên nên tìm lấy một ưu điểm nào đó của các em để khen ngợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status