Một số kinh nghiệm trong công tác phụ đạo học sinh yếu kém môn vật lý ở THPT - Pdf 25

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây và đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, chúng ta đang tiến hành cuộc cách mạng toàn diện trên mọi lĩnh vực,
trong đó đổi mới giáo dục là một trong những trọng tâm của công cuộc đổi mới.
Với quan niệm giáo dục là quốc sách hàng đầu, báo cáo chính trị của đại hội
Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ”.
Trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp
tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là thực hiện các cuộc vận
động lớn như : "Hai không", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng
tạo", "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Qua thực hiện các cuộc
vận động này đã làm thay đổi khá nhiều về giáo dục nói chung, trong có bộ môn
Vật lý nói riêng.
Trong những năm qua, một thực trạng là càng ngày tính đa dạng về trình độ học
sinh trong các lớp càng tăng. Do đó, làm cách nào để tất cả các đối tượng học sinh
này có thể giúp cho học sinh khai thác tối đa bài giảng của thầy, nhất là đối với học
sinh yếu là vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên. Ở các em có sự khác biệt về: khả năng
tiếp thu bài, phong cách nhận thức, sức khoẻ… so với những học sinh khác. Cần
xem xét những học sinh này với những đặc điểm vốn có của các em để tìm ra
những biện pháp nhằm dẫn dắt các em thu được kết quả cao nhất, tránh cho các em
bị rơi vào những khó khăn thường trực trong học tập. Đó chính là điều mà bản thân
muốn trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để giúp đỡ đối tượng
học sinh yếu.
1
Vấn đề học sinh yếu kém hiện nay luôn được cả xã hội quan tâm và tìm giải pháp
để khắc phục tình trạng này. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì
người giáo viên không những chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.

trong tổ chuyên môn để các đồng chí khác học tập. Trong năm học 2012 – 2013, tôi
được phân công dạy môn Vật lý ở các lớp, 10A1, 12B2, 12B4, đây là hai trong các
lớp có số học sinh yếu kém nhiều nhất khối 12, có nhiều học sinh trong lớp nằm
trong diện lưu ban lại, đa số các học sinh này yếu ở tất cả các môn, trong đó có bộ
môn Vật lý.
Với những lí do trên, ngay đầu năm học bắt dầu từ giai đoạn tổ chức lớp cho đến
khi giảng dạy, bản thân tôi luôn nuôi một niềm hy vọng là làm sao đề số học sinh
yếu kém có hứng thú trong học tập, yêu học tập và đặc biệt là thích học môn Vật lý.
Và đây cũng chính là lí do năm nay tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm trong
công tác phụ đạo học sinh yếu kém môn vật lý ở THPT” để viết.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung do Bộ GD & ĐT phát
động, trong đó có nội dung “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” là một trong
những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta hiện nay nhằm
đánh giá thực chất chất lượng học sinh. Bên cạnh đó cũng phản ánh được chất
lượng và hiệu quả giảng dạy của giáo viên. Những học sinh lên lớp là những học
sinh có kiến thức thực sự, xứng đáng đựơc lên lớp. Những học sinh không đảm bảo
được yêu cầu sẽ không được lên lớp. Xuất phát từ vấn đề này, chúng ta không thể
hiểu theo hướng là vô tư để học sinh yếu kém “ở lại lớp” mà không có trách nhiệm
3
của giáo viên trong đó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu kém gồm
có chủ quan và khách quan mà nếu giáo viên kịp thời quan tâm, giáo dục sẽ giúp
cho nhiều học sinh yếu kém tiến bộ và thoát khỏi tình trạng yếu kém.
Những học sinh học tập yếu, kém vẫn luôn luôn tồn tại trong giáo dục, tuy
nhiên về số lượng học sinh yếu, kém nhiều hay ít là tùy ở từng nhà trường và từng
bộ môn. Mức độ tiến bộ của học sinh yếu, kém nhanh hay chậm trong quá trình
được giáo dục và rèn luyện mới là điều đáng quan tâm của riêng mỗi nhà trường,
mỗi nhà quản lý giáo dục và mỗi Thầy Cô giáo. Giúp đỡ học sinh yếu kém được
gắn với cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và

quan, chủ quan dẫn đến chất lượng học tập của học sinh yếu kém ở Trường THPT
Đinh Chương Dương-Hậu lộc nói riêng và các trường THPT nói chung sau đây:
a. Về phía nhà trường
Trường THPT Đinh Chương Dương được thành lập năm 1998, khi mới thành lập
là một trường bán công của Huyện Hậu lộc, đến năm 2010 trường mới được
chuyển sang hệ công lập. Do đó, trong hơn 10 năm đầu trường chỉ được xét tuyển
các học sinh do các trường công lập trong Huyện loại ra nên số học sinh này chỉ
đảm bảo cho nhà trường về mặt số lượng, còn về chất lượng 2 mặt là học lực và
đạo đức thì rất thấp nên số học sinh yếu kém chiếm từ 70-80%. Từ năm 2010 đến
2013 nhà trường được chính thức thi tuyển học sinh nhưng vì lâu nay nhà trường
không có chất lượng học sinh, không tạo được uy tín trong lòng phụ huynh học
sinh nên chất lượng học sinh tuyển vào vẫn còn thấp, khoảng 50-60% là yếu kém.
Bên cạnh đó, Trường đóng trên địa bàn Thị trấn Huyện Hậu lộc, là trung tâm phát
triển kinh tế và cũng là nơi có nhiều trò chơi gải trí, quán xá nên làm ảnh hưởng
nhiều đến sự tu dưỡng và phấn đấu học tập của học sinh.
5
b. Về phía học sinh
- Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập, chưa có quyết tâm học tập,
mất căn bản kiến thức ngay từ lớp dưới. Nhiều học sinh đuối sức trong học tập,
không theo kịp các bạn, thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng để học tập lớp đang học
(ngồi nhầm lớp), sinh ra chán học, sợ học (hội chứng sợ học). Khả năng phân tích
tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm
kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin. Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của
giáo viên không bền, lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư
duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế, chưa biết phát huy khả năng của
mình. Nhiều học sinh chưa biết đổi đơn vị, chưa biết làm tính, yếu các kỹ năng tính
toán cơ bản, cần thiết.
- Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ động, lệ
thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả ), học
vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức, trong thi cử thì quay cóp và tài liệu.

mới có trò giỏi ”. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi
hỏi giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi
thì sẽ giảng dạy tốt mà điều quan trọng nhất ở đây là người giáo viên phải phân loại
và nắm rõ được các nhóm đối tượng học sinh trong lớp mình phụ trách để từ đó
biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là phù hợp với từng đối tượng học sinh và
với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác bản thân nhận thấy, vẫn còn
một bộ phận nhỏ giáo viên chưa chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh, đặc biệt
là học sinh yếu kém. Chưa chịu khó tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích
thích tính tích cực, chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến
7
hoàn cảnh gia đình và tâm tư tình cảm cũng như những khúc mắc ưu phiền, những
lo âu bên trong đã làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của từng học sinh đưa các
em đến tình trạng yếu kém.
e. Môi trường xã hội:
- Tình hình kinh tế xã hội của địa phương nhìn chung có đi lên nhưng không ổn
định, theo mùa vụ. Thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào các cây trồng nông
nghiệp, các giống vật nuôi, nhiều gia đình phải đi làm ăn xa hoặc có người thân đi
xuất khẩu lao động…điếu này đã gây tâm lí buồn chán, lo lắng cho miếng ăn hoặc
ỷ lại ở học sinh, nhiều khi còn tạo cho học sinh suy nghĩ rằng không cần học cũng
có cuộc sống thoải mái, sung túc.
- Môi trường xung quanh của nhà trường ngày càng phức tạp, ngày càng nhiều
các hàng quánăn uống, các tụ điểm giải trí như: quán Internet, quán Bi a tạo nên
những cám dỗ lôi cuốn học sinh ăn chơi rồi bỏ học nhiều, tiêu xài tiền bạc dẫn đến
trộm cắp tài sản và đánh nhau, xin đểu
3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện
a. Các nguyên nhân từ phía người giáo viên trực tiếp giảng dạy môn học
Qua việc thực tiễn công tác, cũng như qua quá trình điều hành quản lí chuyên
môn của một người tổ trưởng, bản thân tôi xin đưa ra một số nguyên nhân từ phía
người giáo viên giảng dạy bộ môn đã góp phần làm tăng tỉ lệ học sinh yếu kém là:

đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn hạn chế, chưa khai thác
hết tác dụng của đồ dùng dạy học; một số giáo viên thì ngại sử dụng nên đã làm
cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh trở nên thụ động, không tạo được hứng thú
và kích thích niềm say mê môn học của học sinh.
9
- Còn một số giáo viên phân loại học sinh chưa tốt, chưa thực sự chú ý đúng mức
đến đối tượng học sinh yếu, kém nên tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập
còn nhanh khiến cho các em không theo kịp. Một số giáo viên chưa thật sự chịu
khó, tâm quyết với nghề, chưa thật sự “giúp đỡ” các em thoát khỏi yếu kém. Từ đó
các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kém của chính mình và nhục chí
không tự vươn lên Đồng thời chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện
sa sút của học sinh
- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây
hứng thú cho học sinh thích học môn mình Chưa xử lý hết các tình huống trong
tiết dạy, chưa động viên tuyên dương kịp thời khi học sinh có một biểu hiện tích
cực hay sáng tạo dù là rất nhỏ.
- Còn lúng túng, chưa mạnh dạn tìm các giải pháp mạnh giải quyết vấn đề chất
lượng học tập của học sinh, còn tâm lí trông chờ chỉ đạo của cấp trên.Tinh thần
trách nhiệm chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích, không đánh giá đúng thực
chất của lớp mình giảng dạy.
b. Phân loại học sinh yếu kém môn Vật lý
- Căn cứ 1: Điểm bộ môn năm học qua, tham khảo thêm điểm một số môn học có
liên quan hoặc gần gũi cùng khối như Toán, Hóa.
- Căn cứ 2: Điểm khảo sát chất lượng học sinh đầu năm.
- Căn cứ 3: Những biểu hiện và quá trình học tập trên lớp, các con điểm hiện tại.
Căn cứ vào những khía cạnh trên, tôi chia học sinh yếu kém môn Vật lý thành
những nhóm sau:
Nhóm 1: Học sinh mất căn bản kiến thức chung, không có hoặc có khả năng tiếp
thu bài rất thấp.
Nhóm 2: Có ý thức học tập, có khả năng tiếp thu bài nhưng chậm so với học sinh

cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm
giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những tâm tư tình cảm, những suy nghĩ
trong cuộc sống và đặc biệt là những khó khăn trong học tập của bản thân mình.
+ Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không la
mắng nặng lời hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm
thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình.
+ Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích
cực. Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những
việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em. Giáo viên
cần có sự quan tâm, đối với những học sinh có tiến bộ, giáo viên phải nhận ra và
động viên kịp thời, có thể nhận xét trực tiếp vào bài làm hoặc khen ngợi trực tiếp
trước lớp sau mỗi bài kiểm tra.
+ Giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh một cuốn sách hay như: “Bách khoa
toàn thư về những học trò lười”; Sách kể về những tên tuổi như Einstein, Disney,
Darwin và Picasso…được thế giới biết đến như những thiên tài nhưng không phải
ai cũng biết họ từng là những học sinh lười biếng, không có gì nổi bật khi cắp sách
đến trường nhưng họ đã để lại dấu ấn sáng chói trong lịch sử văn minh loài người.
Qua những mẩu chuyện này giáo viên muốn gởi tới các em học sinh, các bậc phụ
huynh, quí thầy cô, những người luôn có ước vọng nuôi dưỡng tài năng tiềm tàng
chứ không đơn thuần chỉ đặt niềm tin vào những điểm số nổi bật trong lớp.
+ Tuy nhiên không phải trong bất kỳ trường hợp nào giáo viên cũng thân thiện,
mềm dẻo mà đối với một số đối tượng học sinh, ở một số tình huống cụ thể nào đó,
giáo viên cũng cần thể hiện sự nghiêm khắc, răn đe để đưa các em vào nề nếp,
khuôn khổ. Điều quan trọng là giáo viên phải tác động được vào ý thức của học
12
sinh, học sinh hiểu rằng sự nghiêm khắc ấy nhằm mục đích giáo dục, vì bản thân
các em, không có sự trù dập hay phân biệt đối xử với học sinh.
- Giáo viên phân loại các đối tượng học sinh: Trong thực tế người ta nhận thấy
có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về
phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc

với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh hướng phát huy
chủ động, sáng tạo.
Tuy nhiên đối với học sinh yếu kém, đôi khi trong quá trình triển khai các hoạt
động, tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm, thảo luận lại phản tác dụng .
Ví dụ: Học sinh đã học yếu, khả năng tiếp thu, phân tích, kết luận hạn chế mà khi
được giáo viên phân công vào nhóm có các học sinh khá hơn thì học sinh yếu sẽ
thụ động hẳn đi, không tự tin nêu ra ý kiến của mình, ỷ lại vào các bạn học khá
hơn sẽ đại diện cho nhóm nên học sinh yếu không muốn hoạt động và sẽ càng yếu
hơn. Bên cạnh đó việc đổi mới phương pháp này đòi hỏi học sinh phải tự giác, tự
học rất cao, mà đối tượng học sinh yếu kém lại rất hạn chế ở khả năng này.
Vì thế theo ý kiến của cá nhân tôi thì đổi mới phương pháp, đặc biệt là phương
pháp hoật động và thảo luận nhóm thì không phải bài nào cũng áp dụng được mà
chỉ nên vận dụng vào các bài đơn giản dễ hiểu, tiết bài tập. Còn đối với các bài
quan trọng, có tính chất tiền đề cho những bài học sau thì không nên.
- Giao nhiệm vụ về nhà: Đây là một biện pháp rất quan trọng đối với học sinh
yếu kém
14
+ Trong mỗi tuần tôi thường giao cho các em các một phần kiến thức mà các em
hổng, các em yếu và một lượng bài tập vừa phải về nhà.Tuy nhiên cần chú ý là
phần kiến thức và hệ thống bài tập giao về nhà phải phù hợp với các nhóm học sinh
yếu kém ở trên.
+ Trong các tiết dạy tôi thường hỏi han việc học và giải bài tập về nhà của các
em, một mặt để tỏ thái độ quan tâm, nhắc nhở và để tạo sự cởi mở trong giao tiếp
làm cho các em không ngần ngại.Mặt khác để các em có cơ hội hỏi giáo viên
những chỗ các em bị vướng mắc, chưa hiểu để về nhà giải tiệp
+ Đến cuối tuần tôi kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các em, thu bài lại để
chấm và dành thời gian thích hợp để chỉ cho các em các lỗi sai ( Đây là một yếu tố
để đưa vào đánh giá học sinh yếu kém)
- Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh
Theo tôi, với đối tượng học sinh này thù việc kiểm tra đánh giá các em có vai trò

với phụ huynh, kết hợp giáo dục học sinh kịp thời.
+ Bên cạnh đó tôi thường xin dự giờ các đồng chí trong tổ dạy cùng khối để học
tập và kiểm nghiệm lại phương pháp của mình và qua đó trao đổi để tìm hiểu thêm
về tình hình học tập của các lớp khác nói chung để kịp thời điều chỉnh các biện
pháp, phương pháp của mình cho phù hợp.
+ Tôi cũng thường xuyên trao đổi với tổ trưởng chuyên môn để đề xuất với nhà
trường tổ chức phụ đạo cho học sinh yếu kém ngoài giờ chính khoá nhằm tạo điều
16
kiện cho các học sinh này theo kịp chương trình học, từ từ nâng dần chất lượng học
tập của học sinh.
* Các giải pháp cụ thể
Ngoài các biện pháp chung ở trên, bản thân tôi còn tiến hành tìm hiểu học sinh
bằng phương pháp chủ yếu là tìm hiểu đánh giá thông qua sản phẩm hoạt động của
học sinh kết hợp với một số phương pháp khác như : trò truyện, kiểm tra bài cũ,
kiểmn tra 15 phút, điều tra …Công cụ đánh giá chính của tôi là tính xác suất học
sinh hiểu bài thông qua quá trình học sinh xây dựng bài học và vận dụng kiến thức
ở chính tiết học đó. Từ đó sàng lọc học sinh thành nhiều cấp độ nhận thức và nắm
bắt được cụ thể các học sinh yếu kém bộ môn này. Sau khi sàng lọc và phân loại
học sinh ( 4 nhóm yếu kém như trên), Tôi dựa trên những biện pháp chung ở trên
để đưa ra các biện pháp cụ thể phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh yếu kém
như sau:
- Đối với nhóm 1: Học sinh mất căn bản kiến thức chung, không có hoặc có khả
năng tiếp thu bài rất thấp ( Ta hay nói ngắn gọn là “ Học sinh mất gốc ” ).
Do Trường THPT Đinh Chương Dương– Huyện Hậu lộc- là trường bán công
được thành lập năm 1998 và mới được chuyển sang hệ công lập từ năm 2010: Tỷ lệ
học sinh yếu kém rất cao, thậm chí có những lớp số học sinh này chiếm từ 50% dến
70%. Vì thế mà đối tượng học sinh yếu kém thuộc nhóm 1 chiếm phần đông.
Qua thưc tiễn giảng dạy, tôi thấy học sinh thuộc nhóm này yếu kém ở các
khâu sau đây:
+ Các em thiếu kiến thức cơ bản ở cấp dưới, có tiếp thu được nhưng không hiểu

trọng những “mốc giải chính” của bài thôi như tóm tắt đúng chưa? Áp dụng đúng
công thức chưa? Nếu đúng rồi thì quay sang hưóng dẫn học sinh khác.
18
+ Sau khi thấy các em cơ bản làm được bài, giáo viên lên bảng yêu cầu học sinh
đứng tại chỗ trình bày, mỗi bước giải là một học sinh đễ tập trung cả nhóm. Trong
quá trình giải, giáo viên nhấn mạnh những chỗ học sinh hay sai lầm, nên tránh.
+ Khi các em đã làm được bài tôi luôn khen ngợi cá nhân và nhóm học sinh này,
đồng thời phải cho điểm cao để khích lệ. Nên chú ý nêu các em có làm sai chúng ta
cũng không nên che bai trước lớp mà phải tìm những cái nhỏ nhất mà học sinh làm
được để khen hoặc khen về mặt tự giác học tập của học sinh.
- Đối với Nhóm 2: Có ý thức học tập, có khả năng tiếp thu bài nhưng chậm so với
học sinh bình thường.
Qua thưc tiễn giảng dạy, tôi thấy học sinh thuộc nhóm này yếu kém ở các khâu sau
đây:
+ Các em kiến thức cơ bản ở cấp dưới, có tiếp thu được kiến thức bài dạy nhưng
với tốc độ chậm
+ Khả năng xử lí kiến thức, xử lí công thức của các em cũng chậm.
+ Do đó, khả năng xử lí và tốc độ giải bài tập cũng chậm
Một số giải pháp cụ thể sau đây:.
+ Giáo viên chia nhỏ nhóm học sinh này ra, các nhóm được chia càng nhỏ càng
tốt, phân công các học sinh khá về học cùng nhóm này để giúp đỡ các học sinh yếu
này. Ban đầu tôi cho học sinh tự chọn nhóm theo mong muốn cá nhân, sau một thời
gian nếu chưa hợp lý thì điều chỉnh. Tôi ghi lại danh sách các nhóm, theo dõi sát
trong quá trình học cũng như sau mỗi bài kiểm tra, nếu nhóm nào tiến bộ tôi tuyên
dương và cộng điểm thưởng nhóm trưởng.
+ Giáo viên chú ý phân tích cho học sinh những kiến thức thường sai, việc phân
tích này thường xuyên thực hiện kết hợp trong các tiết học bài mới cũng như các
tiết luyện tập để giúp các em lấp lỗ hổng, chỗ yếu thường xuyên hơn.
19
+ Học sinh yếu kém khả năng tiếp thu và nắm bắt kiến thức chậm, nên giáo viên

Thông qua giáo viên chủ nhiệm thông báo với gia đình học sinh về việc tổ chức
học phụ đạo, phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho các em học tập, đôn đốc thực
hiện kế hoạch học tập ở trường và ở nhà.
- Đối với Nhóm 4: Học sinh không quan tâm, lơ là việc học, học sinh lười học.
+ Nguyên nhân:
Do các em không có một chút kiến thức nào về môn học nên có đi học, có đến
lớp cũng không hiểu gì.
Do các em ham muốn một trò chơi nào đó hoặc bạn bè hư hỏng lôi kéo.
Do các em chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học.
Do gia đình thường xảy ra xung đột, thiếu tình cảm hoặc gia đình, người thân …
thiếu sự quan tâm, nhắc nhở và kiểm tra.
+ Các giải pháp:
Làm thay đổi nhận thực về tầm quan trọng của việc học của các em, thay đổi sự
bi quan chán nản trong tâm của các em khi phải đối mặt với hoàn cảnh gia đinh…
bằng cách: Giáo viên vừa phân tích động viên cho các em sự cấn thiết của việc học,
nêu ra các trường hợp thật cụ thể của học sinh các năm trước vì không chú tâm học
nên không thi đậu tốt nghiệp trung học phổ thông, sau khi thi trượt hối hận thì
không kịp. Nêu lên những tấm gương các bạn học sinh vượt lên trên hoàn cảnh để
đạt được kết quả cao trong học tập ( Muốn làm tốt giải pháp này giáo viên bộ
môn phải kết hợp với GVCn để tìm hiểu vầ gia đình, về con người của các học sinh
này)
Giúp các em tránh xa các trò chơi vô bổ, tránh xa các bạn bè hư hỏng: phân tích
cho các em về sự tác hại của các trò chơi đến tinh thần, đến sức khỏe và đến học
tập của các em. Đồng thời, tôi làm thay đổi nhận thức về bộ môn và tăng lòng yêu
21
thích học tập bộ môn để cuốn các em quay trở về việc học tập: Tôi hay giao cho
các nhóm học sinh này đi sưu tầm các ĐDDH như: máy biến áp nhỏ cũ, các điện
mảng điện tử cũ, các loại Pin ; Giao cho các em vẽ các ĐDDH hoặc làm các
ĐDDH tự làm Sau đó thu lại rồi đem ra hội thảo đánh giá trước lớp, có tuyên
dương khen thưởng và cho điểm.

10A1
4
0
17 em 13em 6 em 15% Giảm 27,5%
12B2
4
0
21em
52,5% 21em 13 em 6 em 15% Giảm 37,5%
12B4 46
19 em
41,3% 19 em 11em 5 em 10,9% Giảm 30,4%

Kết quả bộ môn Vật lý của nhóm
Môn
Tổng HS
3 khối
Số học sinh yếu kém
So sánh
Đầu năm
Cuối
học kỳ
I
Cuối
học kỳ
II
Tỉ lệ
còn lai
Vật lý 983em 328 em = 33,4% 286 em 105 em 10,7%
Giảm 22,7%

Người viết
Mai Văn Hóa

24
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT ĐINH CHƯƠNG DƯƠNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ GIẢM TỈ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM
MÔN VẬT LÝ TRONG TRƯỜNG THPT
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status