Một số kinh nghiệm trong công tác giáo dục học sinh cá biệt ở trường THCS của giáo viên chủ nhiệm - Pdf 28

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết, mục đích của giáo dục là đào tạo những con người phát
triển toàn diện mà cụ thể là đức và tài. Đến nay chúng ta đã có rất nhiều những
thành công trong công tác giáo dục. Góp phần vào sự thành công ấy có giáo dục
của bậc THCS nói riêng và ở các cấp học nói chung. Nói về giáo dục ở bậc
THCS, bên cạnh những đóng góp không nhỏ cho nền giáo dục nước nhà và rất
nhiều học sinh của chúng ta có đạo đức tốt, có năng lực và kết quả học tập cao
nhưng bên cạnh đó trong nhà trường vẫn còn tồn tại những học sinh có kết quả
giáo dục chưa cao, đặc biệt là về giáo dục đạo đức. Đó là những học sinh có thái
độ – biểu hiện đạo đức yếu kém mà ta hay gọi là học sinh cá biệt.
Đối với học sinh cá biệt chúng ta bỏ ngoài ư? Mặc kệ ư? Không! Không
thể được. Nếu chúng ta có biện pháp giáo dục phù hợp với đối tượng này thì tôi
tin rằng công sức mà chúng ta bỏ ra là không hề lảng phí. Như chúng ta đã biết,
những em học sinh cá biệt là những em thường hay có cá tính, hoặc có lí do đặc
biệt. Nếu ta phát huy được cá tính tốt, hiểu rõ nguyên nhân và có biện pháp khắc
phục hợp lí thì tất sẽ thành công, còn nếu chưa được những gì tốt đẹp nhất thì
việc làm đó cũng giúp cho học sinh cá biệt chậm lại quá trình vi phạm để rồi dần
thức tỉnh ra.
Chính vì thế mà đã có nhiều nhà giáo dục, nhà khoa học, nhà sư phạm
nghiên cứu, chỉ ra các phương pháp giáo dục học sinh cá biệt. Kết quả ấy cũng
đã được áp dụng rộng rãi và phong phú trên các trường học ở nước ta.
1. Tình hình nghiên cứu.
Để đưa ra các phương pháp giáo dục học sinh cá biệt và vận dụng các
phương pháp này, chúng ta không thể không nhắc đến tên nhà giáo học người
Liên Xô (cũ) Macarenkô, nhà giáo dục người Tiệp Khắc(cũ)- Ông tổ của nền sư
phạm cận đại Cômenxki đã nghiên cứu và áp dụng thành công vào việc giáo dục
học sinh cá biệt. Đồng thời làm phong phú và hình thành các lí luận về dạy học
áp dụng rộng rãi trên thế giới. ở Việt Nam chúng ta cũng đã có rất nhiều nhà
1

2
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
giáo dục học sinh nhằm hướng con em mình trở thành con ngoan – trò giỏi,
người có ích cho xã hội.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng: Khi nghiên cứu đề tài “Một số kinh nghiệm trong công tác
giáo dục học sinh cá biệt ở trường THCS của giáo viên chủ nhiệm ”thì đối
tượng nghiên cứu là học sinh lớp 9c trường THCS Ba Đình có những biểu
hiện vi phạm đạo đức và vận dụng các biện pháp giáo dục những đối tượng học
sinh này.
2. Phạm vi nghiên cứu : học sinh lớp 9c trường THCS Ba Đình, Bỉm Sơn,
Thanh Hóa.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được đề tài này, tôi đã quan sát, tìm hiểu thực tế, phân tích
và tổng hợp từ đó rút ra kết luận và áp dụng các biện pháp thích hợp cho từng
nội dung.
3
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
B. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
I. Cơ sở khoa học và thực trạng học sinh cá biệt
1. Cơ sở lý luận: Thực trạng học sinh cá biệt ở trường THCS hiện nay
Lâu nay, khi đề cập đến nguyên nhân và trách nhiệm đối với học sinh cá
biệt, mọi người đều cho rằng cả ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội
đều là nguyên nhân của tình trạng học sinh cá biệt và đều phải chịu trách nhiệm.
Nhưng khi đặt vấn đề đâu là nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu đối với học sinh
cá biệt thì lại có nhiều ý kiến khác nhau.
Một số bậc cha mẹ than phiền về sự giáo dục của nhà trường, cho rằng
nơi đây không chú ý nhiều tới giáo dục đạo lí làm người, bảo vệ thuần phong mĩ
tục…
Nhà trường có khi lại đổ lỗi cho phụ huynh học sinh thiếu trách nhiệm với

xuyên sẽ gây cho các em tình trạng ức chế, hay xảy ra tình trạng bi kịch, bị kích
động mạnh. Vì vậy, sự phong phú của các ấn tượng, sự chấn động thần kinh
mạnh hoặc sự chờ đợi kéo dài vì những biến cố gây xúc động đều có thể tác
động mạnh đến tuổi vị thành niên, có thể làm cho một số em bị ức chế, uể oải,
thờ ơ, lơ đãng, tản mạn,… số khác lại làm những hành vi xấu, không đúng với
bản chất của các em.
Sự thay đổi về thể chất và tinh thần chưa ổn định ấy của lứa tuổi vị thành
niên làm cho các em có đặc điểm nhân cách khác với các em khi ở lứa tuổi trước
đó. Nhận thức của người vị thành niên cho thấy còn thiếu kinh nghiệm về cuộc
sống, dễ có hành động không đúng, có khi mang yếu tố cảm tính, dễ bị động, bị
lôi kéo vào những việc làm sai trái.
Từ sự phân tích trên, ta có thể kết luận: đời sống tâm lí lứa tuổi là một
nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh cá biệt ở trường THCS.
Thứ hai: Nguyên nhân từ phía gia đình
5
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến số học sinh cá
biệt ở trường THCS đó là sự tác động từ phía gia đình. Có rất nhiều người cho
đây là nguyên nhân cơ bản nhất.
Trong nhiều gia đình, cha mẹ mãi lo làm ăn, xây dựng kinh tế, thiếu thời
gian quan tâm đến việc giáo dục con cái, việc học hành của con thì phó mặc cho
nhà trường, đoàn thể. Nên việc phối hợp giáo dục chưa được quan tâm đúng
mức
Mặt khác, năng lực giáo dục, những hiểu biết về mặt phát triễn của sinh lí,
tâm lí đối với con cái của các bậc cha mẹ còn rất hạn chế, nên chưa sử dụng
được các biện pháp giáo dục cho phù hợp khi có tình huống xảy ra với trẻ. Ta
thấy rất nhiều gia đình chiều chuộng con cái từ khi còn nhỏ vì chỉ có một cậu
“ấm”. Thói quen vòi vĩnh, đòi gì được nấy, không vâng lời, việc gì cũng ỷ lại
cho bố mẹ…đã trở thành thói quen khó sửa cho các em. Hoặc nhiều cha mẹ lại
quá khắt khe, bảo thủ gây cho trẻ những phản ứng gay gắt. Cũng có những gia

Ta thấy rõ, thầy cô giáo và nhà trường ngoài các biện pháp nhắc nhở,
cảnh báo, đuổi học không được phép răn đe học sinh hư, học sinh chậm tiến
bằng hình phạt khác. Vì lẽ đó cũng hình thành ở học sinh tâm lí “nhờn” với thầy
cô giáo, hỗn với người trên tuổi.
Bên cạnh đó, việc giảng dạy các môn đạo đức (dạy làm người ), dạy pháp
luật lại chưa được chú trọng. Trong nhà trường, đội ngũ cán bộ giáo viên giảng
dạy môn đạo đức và pháp luật còn rất hạn chế, không có hoặc ít giáo viên
chuyên ngành được đào tạo dạy đạo đức và pháp luật.
Mặt khác, trong nhà trường có một số giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên
bộ môn đã không thực sự quan tâm đến học sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt.
Với học sinh cá biệt, giáo viên cần quan tâm nhiều hơn để giúp đỡ, khuyến
khích động viên các em tu dưỡng, rèn luyện nhân cách đạo đức của mình. Đôi
khi giáo viên thiếu kinh nghiệm, lại không được chuẩn bị đầy đủ chu đáo về
kiến thức, kĩ năng nên dễ
giải quyết các tình huống gay cấn bằng thói quen, bằng kinh nghiệm, bằng trực
giác. Vì thế khó tránh khỏi những sai lầm. Ví dụ thiên về trừng phạt nặng, có
7
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
thái độ cứng rắn đến mức độ thờ ơ, lạnh nhạt trái với lòng tin và mong đợi của
học sinh. Trong tình thế này , người ta còn lẫn lộn giữa tâm lí học tội phạm với
tâm lí trẻ khó giáo dục.Thầy cô ra lệnh, cấm đoán nhiều điều càng kích thích trí
tò mò của học sinh và lại bị vi phạm. Thế là cái vòng luẩn quẩn xuất hiện: thầy
cô, cha mẹ liên tục giao việc, nêu yêu cầu để trẻ làm. Không hoàn thành được,
thế là ở nhà trẻ bị cha mẹ quở mắng, đến trường lại cũng bị thầy cô khiển trách.
Hệ quả là chúng chán nản, rã rời, hết có phản ứng này đến phản ứng khác.
Các nhà sư phạm non tay lại không thông cảm, mà lại dùng kỉ luật cứng nhắc
bắt trẻ vào khuôn phép. Thế là mọi sự giáo dục lại không có hiệu quả.
Cái sai lầm về nghệ thuật giáo dục dẫn đến hình thành ở học sinh thói xấu
như sợ sệt, nói dối, ác cảm với thầy cô giáo…
Thái độ thờ ơ, ác cảm với học sinh cá biệt ở một số nhà giáo dục cũng do

Đỡnh.
2.1 Tình hình thực tế .
Lớp 9C tôi chủ nhiệm 37 HS phần lớn là HS phường Ba Đình, phường Lam
Sơn, nhiều em có hoàn cảnh đặc biệt : cha mẹ li hôn, cha thì nghiện ngập, đi lao
động nước ngoài, 1 số gia đình cha mẹ lao động tự do. Các em ít được sự quan
tâm sống thiếu tình yêu thương đùm bọc của người thân, thiếu sự quan tâm
chăm sóc giáo dục. Vì thế mà việc học tập của các em sa sút, rèn luyện đạo đức
cũng bị hạn chế, những ời nói tự do thô tục thiếu văn hóa càng được biểu hiện
rất rõ trong tâm hồn các em. Khi nhận lớp thời gian đầu tôi đã nhận ra một số
bạn nữ tâm sinh lí phát triển nên có những biểu hiện về tình cảm khác giới tâm lí
các em có độ lì , các bạn nam hiếu động nói năng tự do, thô tục thiếu văn hóa và
thường xuyên bỏ học để vui với các trò chơi điện tử, có những em gia đình đã
bất lực, phó mặc cho nhà trường quản lí. Cái khó khăn của tôi là mới nhận lớp
nên tìm hiểu đối tượng tính cách , hoàn cảnh của mỗi em chưa được nhiều về
thời gian . Vì thế, tôi suy nghĩ, trăn trở tìm ra giải pháp đúng đắn phù hợp với
từng đối tượng tâm sinh lý HS – HS cá biệt.
THỐNG KÊ HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH HỌC SINH
Số HS Hoàn cảnh gia đình
9
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
2 em cha mẹ công chức, điều kiện khá giả quan tâm chăm sóc chu đáo
5 em Cha mẹ bỏ nhau sống với ông bà nội, ngoại
20 em Cha mẹ làm nghề lao động tự do, lao động nước ngoài, ít quan tâm
đến việc học tập của các em
10 em Hộ nghèo, gia đình khó khăn
Chất lượng hạnh kiểm năm học trước 2011 - 2012
Tốt (%) Khỏ (%) Trung Bỡnh (%) Yếu (%) Kộm (%)
20 20 40 20 0
2.2 Tình hình nhà trường
Như trên chúng ta đã biết, việc thay đổi cách sống, cách sinh hoạt của cộng

dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường
được tốt hơn. Giáo dục nhà trường dù có tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong
gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Vì vậy,
1. Đối với nhà trường.
Trường học là cơ sở chính - chủ đạo trong quá trình giáo dục với ý nghĩa nó
là nhà điêu khắc chính tạo nên tâm hồn con người. Trường học để lại dấu ấn
không phai mờ trên bộ mặt văn hoá của tất cả những ai đã học tập ở đó. Trường
học chân chính lấy làm tự hào là tất cả những người lớn tuổi đều hãnh diện tự
coi mình là học trò của các em. Trường học là nơi hình thành và bảo vệ cái cốt
lõi đạo đức của người công dân. Những mối quan hệ lẫn nhau được hình thành
trong tập thể của trường học. Vì vậy để cho trường học giảm bớt tình trạng học
sinh cá biệt thì nhà trường nên có những biện pháp như sau:
Tăng cường những giờ giảng có hiệu quả và chất lượng về luân lí đạo đức,
pháp luật cho học sinh. ở mỗi lớp, nhà trường chọn ra số học sinh cá biệt, tập
trung lại và cho giáo viên có kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn về đạo đức,
về pháp luật để bồi dưỡng. Những học sinh này cần được truyền thụ kiến thức
đạo đức ( bài học làm người, các phẩm chất và bổn phận đạo đức của công dân )
và kiến thức pháp luật để các em biết và giác ngộ, sửa chữa dần dần những việc
làm, hành vi không phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Vì vậy, trong trường
học, cần có giáo viên dạy pháp luật nói riêng và dạy giáo dục công dân nói
11
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
chung có trình độ và chuyên môn vững vàng để truyền đạt đến học sinh một
cách có hiệu quả. Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn cần
có sự quan tâm chú ý đến học sinh lớp mình, đặc biệt là học sinh cá biệt. Giáo
viên chủ nhiệm là người chịu trách nhiệm trước nhà trường, trước cha mẹ học
sinh về sự phát triển nhân cách của từng học sinh theo mục tiêu giáo dục.
Do đó, đối với học sinh cá biệt, bản thân tôi đưa ra một số biện pháp sau đây:
Thứ nhất: Biện pháp xây dựng lại niềm tin
Bình thường, trẻ em vốn có niềm tin vào “thế giới” người lớn, hồn nhiên

buông thả vô nguyên tắc cuối cùng sẽ gặm nhấm, làm tiêu tan cuộc sống lành
mạnh của mỗi người.
Cần chú ý là khi khôi phục lại niềm tin phải hết sức tế nhị, không bao giờ tỏ
ra nghi ngờ hoặc chế nhạo sự non nớt, sự sai lầm của trẻ, kể cả việc bác bỏ thẳng
thừng thô bạo các quan niệm sai lầm của trẻ. Thế giới tâm hồn trẻ cực kỳ phong
phú nhạy cảm, dù hế sức gần gủi với trẻ chắc chắn chúng vẫn còn nhiều điều bí
ẩn, khó lòng thấu hiểu hết. Sự khéo léo ứng xử về sư phạm phải tinh thông, có
như vậy trẻ mới tin ta và từ đó chúng mới tin vào bản thân chúng và vào cuộc
sống nói chung.
Thứ hai: Biện pháp khuyến khích và trừng phạt.
1.1 Trừng phạt.
Trừng phạt phải được đối tượng nhận thức tiếp thu như là hình thức đặc biệt
của yêu cầu chung đối với hành vi sai trái của các em. Trong nội dung trừng
phạt đồng thời nên có các nội dung:
- Phê phán, chỉ trích việc làm sai trái
- Lời chỉ dẫn sửa chữa hoặc qui tụ hành vi để khắc phục sai phạm đó.
- Cảnh báo, răn đe sự việc tái diễn để phòng ngừa về sau
- Trừng phạt được áp dụng để sửa trị những lỗi lầm của trẻ sai phạm ở mức
độ nặng nề ( như chúng đã xúc phạm thô bạo bạn bè, mọi người, luôn luôn bộc
lộ tính
hung tợn, tính chấp nhặt trả thù khiến cho trẻ khác sợ hãi) .
13
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Nhưng trừng phạt phải chặt chẽ, thích đáng, tránh tạo cơ hội để trẻ bộc lộ sự
ranh mãnh đối phó theo kiểu đạo đức giả. Khi trừng phạt phải vạch rõ lý do
chính đáng đảm bảo cho việc trừng phạt đạt hiệu quả mong đợi của mọi người,
làm cho đối tượng chuyển biến thái độ hành vi. Thực hiện việc trừng phạt phải
được dư luận của nhóm đồng tình ủng hộ.
Phải nhạy bén linh hoạt thay đổi hình thức phạt khi cần thiết và cũng không
nên trừng phạt một cách máy móc hình thức. Tối kị việc trừng phạt hàng loạt trẻ

chúng sẽ hình thành được năng lực tự nhận xét, phê phán, chỉ trích mọi hành vi
sai trái của mình. Đặc biệt đối với trẻ thiếu thốn tình cảm gia đình thì sự yêu
thương thông cảm khiến chúng có sức cảm hoá rất mạnh.
Tuy nhiên khuyến khích phải mang tính cá biệt hoá sao cho phù hợp với đối
tượng. Có trẻ cần tuyên dương công khai, có trẻ cần trao tặng phẩm, có trẻ chỉ
cần ánh mắt thông cảm, động viên là đủ.
Việc đề xuất và tổ chức thực hiện khuyến khích phải được người có uy tín,
được trẻ tin tưởng, tránh trường hợp người có va chạm với trẻ lại làm việc khen
chê đó. Khen thưởng đối với loại trẻ này phải nhằm vào sự cố gắng thực sự của
trẻ.
Khuyến khích là nhằm khơi gợi những nhân tố tích cực trong trẻ, giúp trẻ
hiểu rõ
các phảm chất, các năng lực, tính cách của mình. Điều đó làm cho trẻ tin tưởng
ở bản thân mình, hình thành ở trẻ tư tưởng phấn đấu trở thành người tốt hơn.
Cần khuyến khích cùng với giao việc cụ thể, tổ chức các hoạt động tạo cơ hội
cho trẻ bộc lộ tiềm năng, thử thách tự sửa chữa trong thực tế.
Tóm lại, việc khuyến khích trong giáo dục học sinh các biệt cũng là một
trong những biện pháp quan trọng, tạo cơ hội cho trẻ tự sửa chữa, vươn lên và
trở thành người học sinh tốt hơn.
2.Đối với gia đình.
15
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Nhà trường cần kết hợp với gia đình để giáo dục học sinh các biệt. Người
giáo viên chủ nhiệm có học sinh các biệt cần phải kết hợp với gia đình để trao
đổi và tư vấn các biện pháp giáo dục trong gia đình . Phần lớn các gia đình đặc
biệt các gia đình ở nông thôn ( địa bàn phường Ba Đỡnh) trình độ, biện pháp
giáo dục còn hạn chế, do vậy cần có sự hỗ trợ, tư vấn, kết hợp của giáo viên về
biện pháp giáo dục.
Trong phạm vi gia đình, những người làm cha làm mẹ dù có bận như thế
nào thì mỗi ngày nên dành một thời gian nhất định để quan tâm đến trẻ. Cha

trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Các cơ quan truyền thông và báo chí xuất bản phim ảnh nên tăng cường
những phim tốt và những chương trình, ấn phẩm tốt nhằm giáo dục hướng trẻ vị
thành niên. Ngăn chặn những sản phẩm văn hoá có tính đầu độc. Chương trình
truyền thanh và truyền hình nên mở rộng, tăng cường các tiết mục thông tin giáo
dục đại chúng, trong đó có chương trình hướng dẫn về sức khoẻ, y tế, cộng
đồng…giải trí lành mạnh.
Mặt khác, cần tăng cường các hoạt động nghiệp vụ về pháp luật của các
cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc phát hiện, điều tra, xử lí đối với trẻ em vị
thành niên phạp tội. Cảnh sát khu vực, cảnh sát phụ trách xã, công an xã cần chú
ý đến trẻ vị thành niên để theo dõi, ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của trẻ.
Nhà trường phối hợp với địa phương tổ chức cho học sinh tham gia tích
cực vào tất cả các hoạt động văn hoá, xã hội như: xoá đói, giảm nghèo, đền ơn
đáp nghĩa, gia đình văn hoá mới, dọn dẹp đường làng ngõ xóm….Nhằm góp
phần cải tạo môi trường gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn đối với quá
trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
B. Kết quả đạt được được trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt
Với những biện pháp nêu trên, trong quá trình giảng dạy ở nhà trường
THCS, tôi đã mạnh dạn áp dụng để giáo dục học sinh cá biệt ở lớp mình chủ
nhiệm và đồng giáo dục học sinh trong trường thì kết quả đạt được rất khả quan.
Em Nguyễn Thanh Phong, ban đầu tôi nhận lớp em có thái độ vô lễ, nói
năng thiếu văn hóa và “bất cần”, thường lôi kéo bạn bè làm theo ý của mình.
17
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
Trước những hành vi đó tôi cũng luôn nhắc nhở giáo dục em trước lớp song
không có kết quả gì. Suy nghĩ để tìm ra giải pháp, tôi đã gặp riêng tìm hiểu hoàn
cảnh gia đình, lúc đó tôi biết được Phong có hoàn cảnh thật đáng thương: cha thì
nghiện ma túy, mẹ thì lao động tự do, em ít được sự quan tâm và yêu thương của
gia đình. Có lẽ vì thế em chán trường, không muốn học. Phong tâm sự: Em đến
trường cốt để hòa đồng với bạn bè song nhiều bạn thường chế giễu và mỉa mai

các em mà còn phải rèn luyện đạo đức, mình phải thực sự là người mẹ thứ hai,
các em như những đứa con yêu đấu của mình. Khi làm công tác chủ nhiệm, thực
sự tìm hiểu hoan cảnh sống của học sinh để cảm thông chia sẻ với những em có
số phận bất hanh, phải gần gũi yêu thương và hiểu được tính cách của từng em
trong lớp để có một phương pháp giáo dục rèn luyện đạo đức cho học sinh một
cách có hiệu quả. Điều quan trọng giáo viên phải có tõm huyết với nghề nghiệp,
yờu thương học sinh. Đặc biệt giáo viên chủ nhiểm phải có thời gian tỡm hiểu
tớnh cỏch và hoàn cảnh từng em trong lớp, có thể cảm nhận được các em suy
nghĩ gỡ để có phương pháp giáo dục đúng đắn. Đối với những HS chậm tiến bộ
GV kiờn trỡ từng bước, có cái tâm của người Mẹ. Với một phương pháp giáo
dục đa dạng và linh hoạt, tôi tin rằng sẽ đạt hiệu quả cao trong rèn luyện đạo đức
cho học sinh.
Chất lượng hạnh kiểm cuối năm học 2012 - 2013
Tốt (%) Khỏ (%) Trung Bỡnh (%) Yếu (%) Kộm (%)
89 11 0 0 0
C. KẾT LUẬN
Thực trạng học sinh cá biệt ở trường THCS hiện nay đang trở thành vấn
đề nhức nhối cho gia đình, xã hội, đặc biệt là cho người làm công tác giáo dục.
Số học sinh cá biệt hầu như trường nào cũng có, nó tồn tại ở nhiều dạng và
nhiều hình thức khác nhau.
Để khắc phục tình trạng đó, tôi đã mạnh dạn đưa ra những nguyên nhân,
biện pháp khác phục và đã đạt được kết quả trong quá trình thực hiện. Vậy các
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến trẻ hư đó là: do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, do
19
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail: [email protected]
ảnh hưởng từ phía gia đình, do nhà trường và do tác động từ phía xã hội. Cùng
với mỗi nguyên nhân đó là các biện pháp khắc phục trong nhà trường, gia đình
và xã hội.
Về mặt nghiệp vụ, đề tài này giúp tôi có kĩ năng và thao tác của người tập
làm công tác nghiên cứu. Đồng thời là giáo viên dạy Ngữ văn nó còn giúp tôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status