mộT Số VấN Đề HIện trạng chăn nuôi hơu
ở huyện hơng sơn (Hà Tĩnh) và quỳnh lu (Nghệ an)
Võ Văn Sự
1
, Nguyễn Chí Thành
2
, Nguyễn Tiến Hùng
2
, Đặng Tất Nhiễm
3
, Đỗ Kim Tuyên
3
Nhữ Văn Thụ
1
, Nguyễn Văn Hải
1
, Nguyễn Thị Nguyệt
2
, Trần Thị An
2
1
Bộ môn Đa dạng Sinh học và Động vật Quý hiếm
2
Công ty Cổ phần Hơu giống Hơng Sơn - Hà Tĩnh;
3
Bộ Nông nghiệp và PTNT
1. Đặt vấn đề
Hơng sơn (Hà Tĩnh) và Quỳnh lu (Nghệ An) đợc biết đến là là những
- Sản xuất nhung
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm
2.2. Phơng pháp
Việc điều tra đợc tiến hành theo phơng pháp sau:
- Thu thập số liệu liên quan đến chăn nuôi hơu tại các Sở Nông nghiệp và
PTNT Nghệ An, Hà Tĩnh.
- Thu thập số liệu liên quan đến chăn nuôi hơu tại các phòng Nông nghiệp
và PTNT huyện Quỳnh Lu (Nghệ An) và Hơng Sơn (Hà Tĩnh).
- Thu thập số liệu liên quan đến chăn nuôi hơu tại các xã nuôi hơu huyện
Quỳnh lu (Nghệ An) và Hơng Sơn (Hà Tĩnh).
- Phỏng vấn nông hộ
Thời gian: 10-12/2003 và 1-3/2006 (Bổ sung)
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Biến động và phân bố đàn hơu của tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An
3.1.1. Số lợng hơu Hà Tĩnh
Bảng 1
. lợng hơu Hà Tĩnh
Năm Tổng (con)
1995 6200
1996 7400
1997 7200
1998 7100
1999 7100
2000 7400
2001 7900
2002 4200
2003 8529
2005 11 020
Biến động đàn hơu Hà Tĩnh qua các năm đợc thể hiện qua Bảng 2 và Sơ đồ 1
và nơi đã tạo ra cơn sốt hơu 1993. Lúc này giá một hơu cái đợc đẩy lên cao
ngất: 60 triệu đồng, và số lợng cũng lên cao nhất so với trớc đó: ~ 8000 con.
Từ năm 1998, hơu giảm xuống đều đều và đến năm 2004 bắt đầu lại tăng
lên. Tỷ lệ đàn hơu ở huyện này cũng hệt nh một số huyện Hơng khê, Vũ
Quang, Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh, là đực gần gấp đôi cái, cho thấy họ tập trung
vào việc nuôi hơu đực khai thác nhung chứ không vào nuôi sinh sản nh Hơng
Sơn.
3.2. Tính chất biến động về số lợng, quy mô đàn hơu tại Hơng Sơn
3.2.1. Biến động số lợng
Từ năm 2004 đến năm 2006, đàn hơu Hơng sơn tăng với mức 23,43%. Có
6 xã bị giảm, là: Sơn An, Sơn Long, Sơn Tân, Thị trấn Tây Sơn, xã Sơn Hà và Sơn
Lĩnh. Những xã này có số lợng không lớn lắm: Tổng năm 2004 là: 690 con chiếm
7,73%. Số lợng hơu của các xã này thấp nhất là 27 và cao nhất là 240 con.
Sơ đồ 4 miêu tả mối quan hệ giữa mức tăng năm 2006 so với năm 2004 và
quy mô đàn (năm 2004) ở đàn hơu Huơng Sơn. Sơ đồ cho thấy đa số những xã có
quy mô đàn hơu từ 100 con trở lên đều tăng. Sự biến động trên cho thấy tính chất
tập trung hoá đã xẩy ra ở đây: những xã có đàn hơu lớn - một dấu hiệu về sự
phát triển của nghề - đều có sự tăng trởng đáng kể. Và ngợc lại, những xã có đàn
hơu nhỏ thì mức tăng không đáng kể.
Phân bố đàn hơu theo quy mô đàn trong hai năm 2004 và 2006 nh trong Sơ đồ 4. 3.2.2. Hình thức sơ hữu và qui mô đàn hơu
Theo Nguyễn Quỳnh Anh (1998), năm 1998, tại Nghệ An có các đơn vị
nuôi hơu thành những trại lớn: Trại hơu Tân Kỳ, Nông trờng Thanh Mai. Tại
Hà Tĩnh: Trại Sơn Thuỷ (Cục Quân y), Trại hơu Hơng Sơn.
Nh vậy đã một thời, chăn nuôi hơu có nhiều trang trại lớn, thuộc tập thể.
Tuy nhiên cũng nh các giống vật nuôi khác, do làm ăn không lãi nên các trại tập
thể bị giải tán. Hiện nay tại Hơng Sơn chỉ có tại hơu lớn nhất thuộc về Xí
nghiệp cổ phần hơu giống Hơng sơn (400 con), 2 trại hơu Quỳnh Vinh
Đực khai
thác
nhung
Cái non Cái sinh
sản
Tổng
Số con
Huơng sơn 101
583
98
470
1252
Quỳnh Lu 81
321
38
228
668
Tổng 182
47,10
7,08
36,40
100,0
Theo kết quả phỏng vấn hộ chăn nuôi
Bằng phơng pháp so sánh tần suất, ta thây có sự khác nhau giữa hai huyện
về các loại hơu, giá trị
2
(chisque bình phơng) tính đợc là: 11.980 với độ tự
do (DF) là 3, và sác xuất sai khác (P) < 0,001.
Tình trạng này vẫn duy trì đến năm nay (2006).
Tại Hơng Sơn, nơi có ngành chăn nuôi lâu đời, số hơu cái / đực là:
46,65%-53,35%. Tuy nhiên ở Quỳnh Lu tỷ lệ này khác hẳn. Năm 2004, thống kê
trên 6 xã nuôi nhiều hơu nhất có 841 con thì tỉ lệ cái/đực là: 34 % và 66%. Năm
2006, thống kê trên 7 xã nuôi nhiều hơu nhất có 1413 con thì tỷ lệ cái/đực là: 40
% và 60%. Điều này thể hiện một điều là nông dân huyện Quỳnh Lu hớng tới
việc nuôi nhiều hơu đực để sản xuất nhung, còn nông dân Hơng sơn vẫn nuôi
hơu theo kiểu truyền thống nh xa.
3.4. Nuôi nhốt
Việc giải tán nhiều đàn hơu tập thể cũng đồng nghĩa với việc loại bỏ dần
việc nuôi chăn thả. 97,5% hơu đợc nuôi trong nông hộ và tất nhiên là nuôi nhốt.
Chỉ có một hộ duy nhất ở xã Quỳnh Vinh (huyện Quỳnh Lu) là có xây dựng sân
chơi ngoài trời.
Đại đa số chuồng hơu đợc làm một kiểu: 1, 2 hoặc 3 mặt tờng bao đợc
Tại Quỳnh Lu có ba đại lý thu gom nhung.
Tại Hơng Sơn có các đại lý: Sơn Nguyệt, Thuận Hà, Bính Hờng, Hứa Dụ.
Tại Hà Nội cũng đã thấy một số gia đình, cửa hàng có niêm yết nhung bán.
Một số ngời dân tự mang nhung hơu ra các tỉnh và nhờ bà con tại Hà Nội
bán hộ.
Bộ thơng mại cũng đã rao hàng tại một số nớc, nhng đều không bán
đợc.
Cha có một tổ chức - hoặc cơ sở sử dụng nó nh các công ty dợc mua nhung
hơu với số lợng lớn đáng kể, thờng xuyên nào, mặc dù nhung hơu vẫn đợc có
tiếng là 1 trong 4 loại thuốc quý nhất trong làng thuốc bắc.
3.7. Thu nhập qua ngành nuôi hơu
3.7.1. Bán sản phẩm
Bảng 5. Thu nhập qua bán nhung và con giống*
Nguồn thu Huyện Số hộ
bán
Trung bình
(đồng)
Thấp nhất
(đồng)
Cao nhất
(đồng)
Hơng Sơn 125
2 266 935
400 000
5 330 769
1 000 000
15 000 000
Bán hơu
giống:
Tổng 113
4 038 230
1 000 000
15 000 000
* Theo điều tra nông hộ
Doanh thu lớn nhất qua bán nhung: 700 triệu đồng (tơng đơng với 260
kg) thuộc về ông Trần Ngọc Sỹ, xã Sơn Châu, huyện Hơng Sơn (Xem bảng 5
biểu đồ 5,6).
3.7.2. Chi phí và lãi
Trên 102 hộ đợc phỏng vấn, cho biết chi phí đầu t năm 2003 của họ giao
động từ 0,1 đến 13,75 triệu, trung bình là 2,262 triệu. Lãi suất của 98 hộ đợc công
bố giao động từ 0,1 đến 44 triệu, trung bình là 3,575 triệu đồng. Sự phân bố mức
đầu t và thu nhập đợc thể hiện trong Sơ đồ 7 và 8. Lu ý, chi phí trên gồm t phí
thờng xuyên (thức ăn, thuốc men) và có thể có cả tiền mua hơu xem bảng 6.
Bảng 6
. Chi phí và lợi nhuận của ngời nuôi hơu ở Hơng sơn *
con hơu năm đầu sẽ có thêm 0,38 con năm cuối. Những xã có đàn hơu từ 400
con trở lên tăng ít hơn những xã có quy mô đàn ít hơn 400 con.
Đàn hơu của 139 hộ (đợc phỏng vấn) có đến 53% là do mua bán và 47 là
tự sinh ra.
Hơng Sơn là nơi hớng về chăn nuôi sinh sản, với 1/ 2 đực cái. Các nơi
khác thiên về nuôi đực để khai thác nhung.
Đàn hơu hiện nay chủ yếu là ở dân với số lợng 4-5 con / hộ. Chỉ có một
đàn là của tập thể: Công ty giống cổ phần hơu Hơng Sơn. Số trại có quy mô lớn
trên 100 - đến 400 con chỉ còn 3.
Đàn hơu Hơng sơn có tuổi trung bình là 5,13 năm. Một số xã có đàn
hơu tơng đối lâu đời, nh xã Sơn Giang, Sơn Trung.
Kết quả điều tra năm 2003 cho thấy: Thu nhập hàng năm của hộ nuôi hơu
tại Hơng sơn trung bình là 2,2 triệu đồng qua bán nhung và 3,6 qua bán hơu
giống. Các con số này ở Quỳnh Lu là 3,1 và 5,3 triệu đồng. Các hộ nuôi hơu ở
Hơng Sơn phải chi phí là 2,26 và có lãi suất là 3,57 triệu đồng / hộ.
Hạch toán chi tiết ở vài hộ nuôi hơu năm 2006 tại Quỳnh Lu và Hơng
Sơn cho thấy lãi ròng khoảng 2,6 đến 3 triệu / một hơu.
4.1. Đề nghị
Tăng cờng các nghiên cứu về kỹ thuật, vốn, thị trờng, chế biến để hỗ trọ
dân phát triển đàn hơu.
Tổ chức sản xuất theo quy mô hàng hoá và hiện đại để có thể có sức cạnh
tranh.
Tổ chức quản lý về mọi mặt.
Phu lục
. iá các loại hơu và nhung trớc và trong Cơn sốt hơu 1992*.
Năm Hơu đực
trởng
thành
Hơu đực
con xuất