Mối liên quan giữa chăn nuôi bò với mức độ đói nghefp của nông hộ ở miền núi phía Bắc Việt Nam - Pdf 27



MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHĂN NUÔI BÒ VỚI MỨC ĐỘ ĐÓI NGHÈO CỦA NÔNG HỘ
Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Le Thi Thanh Huyen,
1
Dinh Thi Tuyet Van,
2
Pera Herold and
2
Anne Valle Zárate
National Institute of Animal Sciences, Thuy Phuong, Chem, Tu Liem, Hanoi, Vietnam
1
University of Hohenheim, Institute for Agricultural Economics and Social Sciences in the Tropics and
Subtropics, Department of Rural Development Theory and Policy, 70599 Stuttgart, Germany
2
University of Hohenheim, Institute of Animal Production in the Tropics and Subtropics, Department of
Animal Breeding and Husbandry, 70599 Stuttgart, Germany
Tóm tắt
Ở Việt Nam, bò được nuôi chủ yếu bởi các nông hộ. Tiềm năng cho phát triển chăn nuôi bò thịt được cho là
ở vùng cao. Vùng núi phía Bắc có tỷ lệ đói nghèo lớn nhất, đặc biệt là ở vùng sâu và xa. Đồng bào các dân tộc thiểu
số sống ở đó trên những vùng đất sói mòn và bạc màu cho năng suất sản xuất thấp, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, hạn chế
về khả năng tiếp cận thị trường và các cơ hội việc làm phi nông nghiệp. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm tìm hiểu
mối liên quan giữa chăn nuôi bò với hiện trạng kinh tế của nông hộ.
Nghiên cứu được thực hiện ở 20 bản vùng cao và vùng thấp của huyện miền núi Yên Châu, tỉnh Sơn La. Số
liệu về chăn nuôi được thu thập từ 299 nông hộ lựa chọn ngâuz nhiên thuộc các nhóm dân tộc khác nhau bằng
phương pháp phỏng vấn dùng bảng câu hỏi cấu trúc. Mức độ nghèo tương đối của nông hộ được xác định bằng
phương pháp phân nhóm đồng đều. Các hộ phỏng vấn được chia làm ba nhóm đều nhau, dựa vào chi tiêu hang ngày
trên đầu người trong hộ đánh giá như thước đo về mức độ nghèo về tiền mặt và của cải, bao gồm nhóm giàu nhất,
nhóm trung bình và nhóm nghèo nhất. Số liệu được phân tích phần mềm SAS phiên bản 9.2.
Trong nghiên cứu này các hộ điều tra được chia làm hai nhóm: nhóm hộ nuôi bò và nhóm hộ không nuôi

kiện nông hộ tại vùng nghiên cứu.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Thông tin và số liệu về điều kiện kinh tế xã hội chung được thu thập từ 300 nông hộ lựa
chọn ngẫu nhiên tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, bằng phương pháp phỏng vấn hộ sử dụng
bảng câu hỏi cấu trúc. Mức độ nghèo tương đối của nông hộ được xác định bằng phương pháp
phân nhóm đồng đều. Các hộ phỏng vấn được chia làm ba nhóm đều nhau, dựa vào chi tiêu hang
ngày trên đầu người trong hộ đánh giá như thước đo về mức độ nghèo về tiền mặt và của cải, bao
gồm nhóm giàu nhất, nhóm trung bình và nhóm nghèo nhất (Zeller et al., 2009). Theo chiều từ
nhóm nghèo nhất đến nhóm giàu nhất, độ cao trung bình và mức độ sâu xa của vùng định cư
giảm đi, diện tích lúa nước hai vụ tăng lên. Thêm vào đó, trình độ văn hoá của chủ hộ tăng lên. Ở
tất cả các bản, thu nhập chính của các nông hộ là từ ngô, trong khi lúa dành cho tiêu thụ gia đình.
Chi tiêu hàng ngày trên đầu người được tính theo phương pháp của Ngân Hàng Thế Giới LSMS
(Living Standard Measurement Survey) của (Grosh and Glewwe 1998). Chỉ số nghèo thế giới
cho chi phí hàng ngày là 9,375 VND/ người/ ngày được quy đổi từ chỉ số nghèo thế giới 1.25
USD/ người/ ngày bởi Ngân Hàng Thế Giới theo (Ravallion and Shen 2008) đã được điều chỉnh
theo tỷ giá mua bán. Chỉ số nghèo cho chi phí hàng ngày ở nông thôn là 9,105VND/người/ ngày
được tính dựa trên sự điều chỉnh tăng từ 200,000 VND lên 300,000 VND/ đầu người/tháng lập
bởi Bộ Lao Động và Thương Binh Xã Hội (MOLISA 2008) cho giai đoạn 2006-2008 và đồng
thời đã tính đến sự trượt giá trong khoảng thời gian tiến hành điều tra (Van et al. 2009). Trung
bình chi phí hàng ngày trên đầu người của nhóm nghèo nhất nằm dưới mức các chỉ số nghèo nêu
trên. Các nhóm còn lại nằm trên các chỉ số nghèo.
Số liệu và thông tin về chăn nuôi được thu thập từ tổng số 299 hộ dân, bao gồm các nhóm
dân tộc khác nhau: 225 Thái, 44 H’Mong, 27 Kinh và 3 Khơ-Mú. Tất cả các hộ điều tra người
H’Mong đều thuộc nhóm 90 hộ dân sống ở vùng cao. Trong tổng số 209 hộ dân sống ở vùng
thấp thì 96% là người Thái.
Trong nghiên cứu này các hộ điều tra được chia làm hai nhóm: nhóm hộ nuôi bò và nhóm
hộ không nuôi bò. Trong số hộ chăn nuôi bò, hộ nuôi từ 1 đến 2 bò được coi là nông trại qui mô
nhỏ và các hộ còn lại nuôi từ 3 bò trở lên được phân loại là nông trại qui mô vừa.
Số thành viên trong gia đình (người/ hộ)
5.1
4.3
Số người trưởng thành (người/hộ)
3.3
2.8
Tỷ lệ người phụ thuộc (%)
27.0
36.0
Tỷ lệ thu nhập từ ngô trong tổng thu nhập
tiền mặt của nông hộ (%)
65.0
64.7
Tổng số TLU
3.6
1.6
TLU không kể bò
1.8
1.6
Tỷ lệ hộ chăn nuôi lợn (%)
34.6
34.9
Số lượng lợn trung bình mỗi hộ (n)
1.9
1.8
Tỷ lệ hộ chăn nuôi trâu (%)
68.4
64.5
Số lượng trâu trung bình mỗi hộ (n)
1.4

quy mô vừa có liên quan đến sự đóng góp lớn hơn từ số bò cái và bê trong đàn (Xem bảng 2).
Các nông hộ ở Sơn La nuôi bò với quy mô đàn lớn thường cho mục đích nuôi bò sinh sản để bán
bê tăng thu nhập tiền mặt cho gia đình, trong khi các hộ chăn nuôi nhỏ nuôi bò chủ yếu phục vụ
cày kéo (Huyen et al. 2010)
Bảng 2. Quy mô và cơ cấu đàn bò trong nông hộ, theo loại hình nông trại
Loại hình nông trại
Quy mô nhỏ
n=77
Quy mô vừa
n=56
Kích thước đàn (n)
1.4
b

4.8
a

Số lượng bò mẹ (n)
0.5
b

2.2
a

Số lượng bò đực (n)
0.7
1.0
Số Lượng bê (n)
0.2
b

40
60
80
100
The poorest
(n=100)
The middle
(n=99)
The richest
(n=100)
Poverty levels
Frequencies of farms (%)
Cattle keeping farms
Non-cattle keeping farms

Biểu đồ 1. Tần suất hộ chăn nuôi bò, theo các mức kinh tế nông hộ
Sự sai khác có ý nghĩa giữa tần suất hai nhóm hộ nuôi và không nuôi bò: ở mức DF= 1
2=17.6; P<0.0001 cho nhóm nghèo nhất (chi-square goodness of fit test); P<0.05 trong nhóm
hộ chăn nuôi bò giữa nhóm nghèo nhất so với nhóm trung bình và giàu nhất (threshold model).
Để đảm bảo sự phát triển bền vững của chăn nuôi bò thịt trong nông hộ, các hệ thống
chăn nuôi cần dựa vào sự sẵn có của nguồn thức ăn địa phương. Valle Zárate (2000) cho rằng sự
tương tác giữa vật nuôi và các nguồn tự nhiên cần phải được quan tâm. Conroy et al. (2002) nhận
thấy đối với nông dân nghèo, điều quan trọng là dựa vào nguồn lực sẵn có tại địa phương hoặc
dựa vào chính sản phẩm của nông trại của họ hoặc từ môi trường xung quanh gần đó, hoặc phải
là những sản phẩm có thể dễ dàng giới thiệu đến người dân.
Các trang trại qui mô trung bình chủ yếu bao gồm các hộ ở hai nhóm giàu nhất và trung
bình (91% tổng số hộ nuôi bò), trong khi tới 83% nhóm hộ nghèo nhất có nuôi bò thì chỉ sở hữu
trang trại qui mô nhỏ. Kết quả quan sát cho thấy rằng những nông hộ giàu hơn có nhiều năng lực
hơn để chăn nuôi số lượng bò lớn so với người nghèo, điều này phù hợp với phát hiện của Cramb
et al. (2004) ở vùng cao nguyên trung bộ. Nhiều nông hộ nuôi bò ở vùng thấp có thể phần nào

%
Ứng dụng phương thức cho ăn mới
51
35
Chăn nuôi loài hoặc giống gia súc mới
49
34
Dùng vắc xin
15
10
Bắt đầu làm chuồng
13
9
Sử dụng thụ tinh nhân tạo
8
5
Ngừng nuôi một loài gia súc nào đó
7
5
Các thay đổi khác
3
2
Tổng số
146
100
Sự sai khác có ý nghĩa giữa các loại ứng dụng kỹ thuật mới:

2=208.5; P<0.0001 (Chi-square test). Có thể có
nhiểu áp dụng kỹ thuật cho mỗi nông hộ
Bảng 4. Tần suất ứng dụng các kỹ thuật mới trong chăn nuôi, theo nhóm kinh tế hộ

yếu là dùng trong chăn nuôi trâu bò.
Theo Steinfeld et al. (2006), chăn nuôi gia súc truyền thống dựa chủ yếu vào nguồn thức
ăn sẵn có tại địa phương. Sự phân bổ gia súc nhai lại dựa vào các nguồn sẵn có đó, trong khi đối
với nuôi lợn và gia cầm thì sự tận dụng thức ăn tổng hợp và thức ăn rác sinh hoạt lại là cần thiết.
Trong điều tra của chúng tôi, cùng với việc tăng cường sử dụng cám tổng hợp cho lợn và gia
cầm, một lượng lớn sản phụ phẩm trồng trọt như ngô, sắn được dùng làm thức ăn chăn nuôi lợn,
như đã được quan sát trong nghiên cứu Lemke et al. (2006). Việc tăng sử dụng sản phẩm trồng
trọt trong chăn nuôi bò và trâu có thể dẫn đến cạnh tranh với chăn nuôi lợn. Hơn nữa, điều này
cũng cho thấy sự cạnh tranh lớn giữa hai loài gia súc này đối với nguồn thức ăn trong nông hộ
chăn nuôi bò. Như vậy, với 65%, nhóm hộ chăn nuôi bò áp dụng đổi mới về phương thức cho ăn
và chế độ dinh dưỡng cho gia súc, nhiều hơn so với nhóm hộ không nuôi bò, có thể cho rằng
những thay đổi đó nhằm giảm sự cạnh tranh về thức ăn giữa bò và các loại gia súc khác nhau
trong nông trại.
4. Kết luận và đề nghị
Các hộ dân nghèo nhất không nuôi bò hoặc chỉ nuôi số lượng ít nhằm phục vụ cày kéo.
Hộ dân chăn nuôi bò chủ yếu là các hộ có những lợi thế về vốn, lao động và nguồn thức ăn cho
bò. Bò cạnh tranh với các gia súc khác về sử dụng nguồn thức ăn có hạn trong nông trại. Các hộ
khá với nguồn thức ăn đáp ứng cho chăn nuôi bò có nhiều lợi thế hơn hộ nghèo trong việc nuôi
số lượng lớn bò cùng với các vật nuôi khác. Để người nghèo tham gia vào sự phát triển chăn
nuôi bò thịt thì chỉ có thể ở các vùng mà nguồn thức ăn địa phương còn phong phú. Thêm vào
đó, ngoài việc cần thiết về mặt trợ giúp về thức ăn, giống và thị trường thì việc ban hành các
chính sách về cung cấp tín dụng cho người nghèo chăn nuôi là cần thiết. Đối với hộ rất nghèo thì
gia súc nhỏ là phù hợp hơn chăn nuôi bò thịt. Tài liệu tham khảo
1. Chilonda, P. and Otte, J., 2006. Indicators to monitor trends in livestock production at national, regional and
international levels. Livestock Research for Rural Development 18 (8) 2006.
Accessed 27/07/2009
2. Conroy, C., Thakur, Y. and Vadher, M., 2002. The efficacy of participatory development of technologies: experiences

16. Ravallion, M. and Chen, S., 2008. Dollar a day revisited. Policy Research Working Paper 4620, World Bank,
Washington, D. C.
17. Steinfeld, H., Wassenaar, T. and Jutzi, S., 2006. Livestock production systems in developing countries: status, drivers,
trends. Rev. Sci. Tech. Off. Int. Epiz., 2006, 25 (2), pp. 505-516.
18. Valle Zárate, A., 1996. Breeding strategies for marginal regions in the tropics and subtropics. Animal Research and
Development, Vol. 43/44-1996, pp. 101-118.
19. Valle Zárate, A., 2000. Livestock biodiversity in the mountains/highlands opportunities and threats. In: Tulachen, P.
M., Mohamed Saleem, M. A., Maki-Hokkonen, J., Partap, T., 2000. Contribution of livestock to mountain
livelihoods. International Centre for Integrated Mountain Development, Kathmando, pp. 71-82.
20. Walle, D. V. D. and Gunewardena, D., 2001. Sources of ethnic inequality in Vietnam. Journal of Development
Economics. Vol. 65 (2001), pp. 177-207.
21. World Bank (2005). The 2005 International Comparison Program.
Accessed 01/10/2008. 22. Zeller, M., Heidhues, F., Keil, A., 2009. Impact analysis of financial market and land allocation policies on resource
use and farm household income. In: Sustainable Land Use and Rural development in Mountainous Regions of
Southeast Asia, The Uplands Program. Report to German Research Council DFG, March 2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status