1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ TRẦN XUÂN THANH
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC MỎ
CỦA NGƢỜI HOA Ở CÁC TỈNH MIỀN
NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM TỪ CUỐI
THẾ KỶ XVII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 60 22 50
KỶ XVII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành Lịch sử Thế giới
Mã số: 60 22 50 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN KIM Hà Nội – 2014 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 2.1: Các mỏ khoáng sản được khai thác ở Việt Nam từ 1802 -1851
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ XUẤT HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG KHAI MỎ CỦA
NGƢỜI HOA Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XVII
8
1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn tài nguyên khoáng sản ở các tỉnh miền
núi phía Bắc Việt Nam
8
1.2. Chính sách phát triển kinh tế của chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài
23
1.3. Tình hình ngƣời Hoa ở miền Bắc Việt Nam cuối thế kỷ XVII
29
Tiểu kết chƣơng 1
35
Chƣơng 2: TÌNH HÌNH KHAI MỎ CỦA NGƢỜI HOA Ở CÁC TỈNH MIỀN
NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XVII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ
XIX
36
2.1. Tình hình khai mỏ của ngƣời Hoa dƣới thời kỳ Lê - Trịnh thế kỷ XVII –
XVIII
36
2.1.1. Chính sách quản lý đối với hoạt động khai mỏ của chính quyền Lê -
Trịnh
36
2.1.2. Hoạt động khai mỏ của ngƣời Hoa
43
2.2. Tình hình khai mỏ của ngƣời Hoa dƣới thời nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ
XIX
60
2.2.1. Chính sách quản lý đối với hoạt động khai mỏ của nhà Nguyễn
60
đƣợc nhà nƣớc phong kiến phát hiện và tổ chức khai thác. Trong hai thế kỷ XVII –
XVIII, nghề khai thác mỏ dƣới thời kỳ Lê - Trịnh tƣơng đối phát triển. Chúa Trịnh
thi hành chế độ độc quyền khai thác và buôn bán chặt chẽ. Việc khai mỏ đƣợc giao
cho các quan trấn thủ hay các quan đại thần trông coi và thu thuế, hiện vật nộp cho
nhà nƣớc.
Chính sách mở cửa của triều đình Việt Nam đối với Hoa thƣơng tuy dem lại
khoản thuế không nhỏ cho nhà nƣớc nhƣng cũng mất rất nhiều vào tay thƣơng nhân
Trung Quốc do trình độ quản lý hạn chế. Những chính sách về kinh tế - xã hội
thuận lợi đã tạo ra những điều kiện cho sự bùng nổ của các hoạt động khai mỏ trên
vùng biên giới các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Thực tế lịch sử đã cho thấy
nền sản xuất khai khoáng ở miền bắc Việt Nam trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế
kỷ XIX giữ một vị trí quan trọng đối với các hoạt động tài chính - kinh tế của các
nhà nƣớc phong kiến ở Việt Nam; đồng thời có những đóng góp tích cực trong sự
phát triển kinh tế ở miền nam Trung Quốc cũng nhƣ quan hệ kinh tế giữa Trung
Quốc và Đông Nam Á. Nếu nhƣ ở Việt Nam, nguồn thuế quan trọng từ các hoạt
động khai mỏ đã từng bƣớc giúp đỡ chính quyền Lê - Trịnh từng bƣớc giải quyết
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII thì trên
bình diện khu vực, nguồn đồng đỏ từ Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào
việc bỉnh ổn giá tiền tệ của nền kinh tế Trung Quốc - một nhân tố quan trọng trong
hệ thống kinh tế khu vực vào thế kỷ XVIII. Ở một khía cạnh khác, sự phát triển của
6
các hoạt động khai mỏ đã tạo ra các hình thức sản xuất tập trung công trƣờng với
quy mô lớn.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc về ngƣời Hoa ở
Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam nói riêng, nhƣng hầu hết chỉ đề cập đến các
hoạt động của ngƣời Hoa trong thời kỳ tiền cận đại. Nếu đối tƣợng nghiên cứu là
ngƣời Hoa ở Việt Nam thì phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở khu vực Nam bộ, nơi
ngƣời Hoa di cƣ thành nhiều đợt và lực lƣợng ngƣời Hoa ở nhiều nơi đã phát triển
thành cộng đồng và có mối quan hệ sâu sắc với ngƣời Việt bản địa. Trong khi đó,
nói chung, các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nói riêng, lại rất hiếm. Tại Việt
Nam, các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất
thống chí, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Dư địa chí, Việt
sử thông giám cương mục… đều ít nhiều ghi chép về sự hiện diện, hoạt động
thƣơng mại, khai thác mỏ… của ngƣời Hoa cũng nhƣ những văn bản của triều đình
Việt Nam về việc nhập tịch, đóng thuế, quy định về việc lập làng, xã, bang hội của
ngƣời Hoa. Tuy nhiên những ghi chép này còn tản mạn.
Sau khi thực dân Pháp xâm lƣợc Đông Dƣơng, họ cũng có nhiều nghiên cứu
chi tiết về tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam, trong đó khai thác mỏ là một trong
những ngành kinh tế thu hút sự chú ý của các học giả Pháp, các tổ chức và cá nhân
nghiên cứu về địa chất, khai thác mỏ, chính sách thuế… tuy nhiên đó chỉ là các
nghiên cứu về hoạt động khai thác mỏ của ngƣời Pháp mà rất hiếm đề cập đến hoạt
động khai mỏ của ngƣời Hoa.
Đầu thế kỷ XX, có thêm một số nghiên cứu về ngƣời Hoa, tuy nhiên đó vẫn
chỉ là những nghiên cứu cơ bản, trong phạm vi cả Nam Bộ mà không đi sâu vào
hoạt động khai mỏ. Năm 1924, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện công trình mang
tính chuyên khảo của Đào Trinh Nhất Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam
Kì. Tác giả đã đề cập đến hai vấn đề chính: sự di cƣ của ngƣời Hoa vào Nam Kì và
thế lực kinh tế của họ trên trƣờng buôn Sài Gòn - Chợ Lớn. Sau đó có thể kể đến La
Formation et L’ Évolution du Villa de Minh Huong (Faifo) của Nguyễn Thiệu Lâu.
Các học giả Chen Chingho (Trần Kinh Hòa), Fujiwara Ruchiro… cũng có nhiều
nghiên cứu về cộng đồng ngƣời Hoa ở Việt Nam
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công ở Việt Nam, nhất là từ sau khi hoà
bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam 1954 đến nay, giới sử học miền Bắc Việt Nam
công bố một số công trình nghiên cứu về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá - xã
hội Việt Nam thời kỳ phong kiến. Năm 1957, tác giả Đào Duy Anh công bố công
trình Tình hình khai mỏ đồng ở thời Lê mạt, Tập san Đại học (Văn khoa), số 8.
Trong công trình này, tác giả trình bày và phân tích về tình hình khai mỏ đồng,
trong đó ngƣời Hoa có vai trò trong việc làm phu mỏ và chủ mỏ. Từ công trình này,
luận văn kế thừa nhiều tƣ liệu về thể lệ khai thác, phƣơng thức sản xuất của các mỏ
thành và phát triển của cộng đồng di dân ngƣời Hoa ở Việt Nam, quá trình hội nhập
về thƣơng mại, văn hóa - xã hội của ngƣời Hoa trong xã hội Việt Nam, chính sách
của các vƣơng triều Việt Nam đối với ngƣời Hoa… Rất khó để tìm thấy các chuyên
khảo về tình hình khai mỏ của ngƣời Hoa ở miền Bắc Việt Nam, trong khi nó là
một thực tế hầu nhƣ đã diễn ra trong khoảng hai thế kỷ, từ khoảng giữa thế kỷ XVII
đến nửa đầu thế kỷ XIX .
9
Một số công trình nghiên cứu về ngƣời Hoa ở Việt Nam của các học giả
Trung Quốc xuất bản từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX trở về đây cũng không đề
cập gì đến vấn đề khai mỏ của ngƣời Hoa ở Việt Nam, mà chỉ tập trung đề cập đến
một số vấn đề nhƣ phân kỳ lịch sử của lịch sử ngƣời Hoa, nguyên nhân ngƣời Hoa
định cƣ ở Việt Nam, đóng góp của ngƣời Hoa ở Việt Nam, chính sách của các
vƣơng triều phong kiến Việt Nam đối với ngƣời Hoa, chính sách của ngƣời Pháp
đối với ngƣời Hoa ở Việt Nam thời cận đại, so sánh ngƣời Hoa ở Việt Nam với Hoa
kiều ở các nƣớc Đông Nam Á, “vấn đề nạn kiều” ở Việt Nam năm 1978 và sự
chuyển cƣ của ngƣời Hoa ở Việt Nam sang quốc gia khác… [29, tr. 90-94].
Điểm qua một số công trình trên đầy cho thấy đề tài về hoạt động khai thác
mỏ của ngƣời Hoa tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam không đƣợc nhiều học
giả quan tâm nghiên cứu. Đây cũng là một khó khăn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu
về ngƣời Hoa cũng nhƣ về tình hình khai mỏ củ họ ở miền Bắc Việt Nam trong giai
đoạn các thế kỷ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX.
10
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Nghiên cứu tình hình khai mỏ của ngƣời Hoa cùng những tác động đến đời
sống chính trị, kinh tế và xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về mặt không gian: Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả chỉ giới hạn
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ hoạt động khai mỏ của ngƣời Hoa ở miền Bắc
Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX cùng những tác động
của hoạt động này đối với tình hình chính trị, an ninh, đời sống kinh tế, xã hội của
Việt Nam lúc đó.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo,
Luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở xuất hiện các hoạt động khai thác mở của ngƣời Hoa ở các
tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII
Chƣơng 2: Tình hình khai mỏ của ngƣời Hoa ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX
Chƣơng 3: Một số nhận xét về hoạt động khai thác mỏ của ngƣời Hoa ở các
tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX 13
Chƣơng 1
CƠ SỞ XUẤT HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG KHAI MỎ CỦA NGƢỜI HOA Ở
CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XVII
ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn tài nguyên khoáng sản ở các tỉnh
miền núi phía Bắc Việt Nam
Khai thác mỏ, hay khai mỏ, là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu
địa chất từ lòng đất, thƣờng là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu
đƣợc khai thác từ mỏ nhƣ kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cƣơng,
đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Bất kỳ vật liệu nào không phải từ
trồng trọt hoặc đƣợc tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều đƣợc khai
thác từ mỏ. Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài
một yếu tố tác động vào sự mở rộng về phía Tây đến bờ biển Thái Bình Dƣơng.
Nhiều ngƣời di dân châu Âu di chuyển dần về phía Tây nƣớc Mỹ để tìm kiếm cơ
hội làm việc trong ngành khai thác mỏ. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu tích
nhiều mỏ đồng đƣợc khai thác vào thời tiền sử và thời cổ đại dọc theo hồ Superior ở
Bắc Mỹ, Những mỏ này có niên đại ít nhất cách đây 5000. Đồng đƣợc đƣợc buôn
bán trên khắp châu Mỹ dọc theo các tuyến đƣờng thủy. [188].
Ở Trung Quốc, nghề khai thác mỏ đồng đã đƣợc biết đến ít nhất cách đây gần
5.000 năm. Các cổ vật từ đồng đỏ đã đƣợc phát hiện tại khu vực khảo cổ của nền
văn hóa Mã Gia Diêu (3100 TCN tới 2700 TCN) tại Trung Quốc. Trong thời kỳ nhà
Hạ, vào khoảng năm 2100 TCN, nghề khai mỏ đồng đã tƣơng đối phổ biến. Thời kỳ
nhà Thƣơng, ngƣời dân đã biết dùng đồng đỏ để làm các bình, chai, lọ từ đồng đỏ
cho các lễ nghi cũng nhƣ các công cụ nông nghiệp và vũ khí. [190]. Từ thời kỳ Ân,
Thƣơng, ở Trung Quốc đã bắt đầu sản xuất đƣợc một số lƣợng rất lớn các vật dụng
bằng đồng. Đồ đồng khi ấy đã có đƣợc tạo hình đẹp và đa dạng, cho thấy kỹ thuật
đúc đồng của Trung Quốc đã khá phát triển. Kỹ thuật đúc đồ sắt ở Trung Quốc cũng
có lịch sử rất lâu đời, khoảng giữa thời kỳ Xuân Thu, Trung Quốc phát minh kỹ
thuật luyện sắt và nửa sau thời kỳ Xuân Thu đã xuất hiện các vật dụng bằng sắt.
Đến thời Chiến Quốc, Tần, Hán thì kỹ thuật luyện thép đã có những thành tựu khá
cao. Ngƣời Trung Quốc trong quá trình luyện kim đã tích luỹ đƣợc rất nhiều kiến
thức về hoá học và sáng tạo ra rất nhiều phƣơng pháp luyện kim, khai khoáng.
Tại Việt Nam, các mỏ kim loại quý nhƣ mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ đồng, mỏ sắt,
mỏ thiếc, mỏ chì, v.v… đƣợc ngƣời Trung Quốc và Nhà nƣớc quân chủ Việt Nam
quan tâm và cho phép khai thác từ rất sớm. Các cổ vật đồng đỏ ở Việt Nam đã
đƣợc phát hiện có niên đại vào khoảng năm 2100 năm TCN, điều này cho thấy nghề
khai khoáng luyện kim của Việt Nam xuất hiện rất sớm với trình độ kỹ thuật và
chuyên môn hóa cao – ngay từ thời đại Hùng Vƣơng [76, tr. 42-53]. Vì vậy, khai
mỏ và thuật luyện kim đƣợc xem là một trong những nghề quan trọng và có lịch sử
15
lâu đời ở nƣớc ta. Với cấu tạo địa chất đa dạng, miền Bắc Việt Nam có nhiều tài
chất mà tiêu biểu là địa điểm khảo cổ Thạch Trại Sơn, ven hồ Điền, ngoại thành Côn
Minh, tỉnh Vân Nam. Khảo cổ học Việt Nam đã dẫn theo khảo cổ học Trung Quốc
mà cho rằng nền văn minh của nƣớc Điền đƣợc bắt nguồn từ những văn hóa bản địa
16
trƣớc đó, lấy luyện kim đồng thau làm động lực phát triển [117, tr. 239]. Trong “The
bronze culture of Western Yunnan”, Bulletin of the Ancient orient Museum, Vol.
VII, Tokyo: 67, tác giả Kan Yon cho biết rằng luyện kim sớm nhất ở vùng Vân Nam
có bằng chứng là các hiện vật bằng đồng đƣợc tìm thấy trong tầng văn hóa di chỉ
Hải Môn Khẩu, huyện Kiếm Xuyên, có niên đại cách ngày nay khoảng trên 3000
năm, tức vào khoảng cuối đời Thƣơng đầu thời Tây Chu [117, tr. 240]. Trong khi đó
đồ đồng sớm của miền Bắc Việt Nam, cụ thể là văn hóa Phùng Nguyên, đƣợc xác
định cách nay trên 3400 năm. Vậy niên đại của văn hóa Phùng Nguyên ít ra cũng
vào khoảng giữa thời Thƣơng, cũng có nghĩa là dọc sông Hồng vào khoảng nửa cuối
thiên niên kỷ thứ hai trƣớc công nguyên, vùng hạ lƣu Bắc Bộ Việt Nam lại có đồ
đồng sớm hơn vùng thƣợng lƣu Vân Nam. Vậy có thể cho rằng cƣ dân Việt cổ thời
kỳ văn hóa Phùng Nguyên biết đến luyện kim vào khoảng thế kỷ 14 – 15 trƣớc CN.
Nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy đã có nhiều mối liên hệ giữa khu vực
Vân Nam – Quảng Tây (miền tây nam và đông nam Trung Quốc) với khu vực miền
Bắc Việt Nam trong giai đoạn hình thành các nhà nƣớc sơ khai. Theo Trịnh Sinh,
đó là mối liên hệ giữa Văn Lang – Âu Lạc và Điền Việt, Dạ Lang ở miền Tây Nam
Trung Quốc (còn gọi là Tây Nam Di); giữa Văn Lang – Âu Lạc với những nhà nƣớc
sơ khai ở miền Đông Nam sông Trƣờng Giang (còn gọi là Nam Man) với các tộc
ngƣời ở tỉnh Quảng Tây nhƣ tộc ngƣời Choang cổ (nhƣ Lý, Lão, Ô Hử); giữa Văn
Lang – Âu Lạc với các tộc ngƣời ở tỉnh Quảng Đông nhƣ nƣớc Nam Việt. Ngoài ra
văn hóa Đông Sơn còn có mối giao lƣu với các cộng đồng cƣ dân khác ngoài khu
vực Quảng Đông, Quảng Tây nhƣ nhà nƣớc sơ khai Mân Việt ở Triết Giang, Phúc
Kiến … [117, tr. 238 - 257]. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, mối quan hệ giao lƣu kinh
tế - văn hóa giữa miền Bắc Việt Nam với Nam Trung Quốc thời kỳ hình thành các
nhà nƣớc sơ khai là mối quan hệ giao lƣu hai chiều, chủ yếu thông qua con đƣờng
khoáng một cách rộng rãi trên đất Việt Nam. Thời kỳ này chủ yếu là khai thác vàng.
Chu Khứ Phi đời Tống viết: “Vùng khe động ở Ung Châu và biên giới An Nam đều
có mỏ vàng, ở đó sản xuất nhiều hơn các quận. Châu Vĩnh An ở Ung Quản chỉ cách
Giao Chỉ có một con sông, vịt ngỗng bơi sang ăn ở Giao Chỉ, khi về tìm thấy vàng ở
trong phân. Bờ sông phía ta không có vàng. Vàng thƣờng sinh ra từ quặng mà dung
kết lại ở trong đất cát, nhỏ nhƣ hạt gạo, lớn nhƣ hạt đậu, lớn hơn nữa nhƣ ngón tay,
đều gọi là vàng sống… Giao chỉ có cái lợi mỏ vàng mới mua dân ta làm nô [76, tr.
48].
Đến giai đoạn sau thế kỷ X, Việt Nam giành đƣợc quyền độc lập tự chủ, các
nghề thủ công đƣợc khôi phục và phát triển. Nhiều đền đài, cung điện dát vàng,
bạc… ở Việt Nam cho thấy nghề khai thác các mỏ kim loại quý và nghề kim hoàn
đã phát triển mạnh ở Việt Nam. Chính sử Việt Nam còn ghi lại nhiều lần các quan
lại địa phƣơng ở các vùng thiểu số dâng vàng sống lên vua. Nhƣ năm 1039, động
Vũ Kiến thuộc châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) dâng một khối vàng sống nặng 112
lạng. Năm 1127 thủ lĩnh châu Nông (Tƣ Nông – Thái Nguyên) dâng hai khối vàng
18
sống trƣờng thọ. Hai năm sau vẫn ở châu này lại dâng hai khối vàng sống khác nặng
33 lạng 5 đồng cân. Năm 1137 Lý Công Tín dâng khối vàng sống nặng 47 lạng.
Năm 1138 Hứa Viêm lại dâng một khối vàng sống nặng 66 lạng. Sử còn chép rằng
năm 1143 vua Lý Anh Tôn sai thái phó Hoàng Nghĩa Hiền và viên ngoai lang
Khổng Trƣờng đem quân các khe động dọc biên giới về đƣờng bộ đi đãi vàng [76,
tr. 49].
Không có tài liệu nào ghi chép việc khai thác vàng nhƣ thế nào nhƣng chắc
chắn là dùng phƣơng pháp thủ công thô sơ nhất là “đãi cát lấy vàng” vì lúc này chủ
yếu là các mỏ vàng lộ thiên. Có lẽ hình thức phổ biến nhất là “bòn vàng”, “nhặt
vàng” và “đãi vàng”. Lê Trắc trong An Nam chí lược đã viết : “Ở các châu Phú
Cƣơng (Thái Nguyên), Quảng Nguyên (Cao Bằng), tuy sản xuất vàng, bạc nhƣng
các ngƣời khai lấy vàng, bạc đều lấy việc cung nộp làm khổ, vì không đủ thì họ
phải đi mua vàng, bạc ở nơi khác để đem nộp”. Vàng, bạc đƣợc sử dụng trong việc
chặt chẽ. Việc khai mỏ đƣợc giao cho các quan trấn thủ hay các quan đại thần trông
coi và thu thuế, hiện vật nộp cho nhà nƣớc. Thế kỷ XVIII, các mỏ đồng Sảng Mộc,
Yên Châu, Liêm Tuyền, Tống Tinh, Vụ Nông thuộc Thái Nguyên; Tụ Long (Tuyên
Quang), Trinh Lạn, Ngọc Uyển (Hƣng Hóa), các mỏ bạc ở Nam Xƣơng, Long Sinh
(Tuyên Quang); các mỏ vàng ở Kim Mã, Tam Lộng; mỏ kẽm ở Gia Ninh; mỏ thiếc
ở Vụ Nông (Tĩnh Túc, Cao Bằng) đã đƣợc khai thác. Trong số các mỏ này thì mỏ
đồng Tụ Long thuộc Vị Xuyên nổi bật hơn cả bởi trữ lƣợng khai thác cũng nhƣ
cuộc đấu tranh giành lại mỏ này trƣớc khi nó bị Trung Quốc sáp nhập vào đất Vân
Nam từ tay ngƣời Pháp. Ở miền Trung, nghề khai mỏ vàng đặc biệt phát triển ở
Quảng Nam, nhất là trong giai đoạn từ thế kỷ XVI – XVIII, đã tạo tiền đề cho nghề
kim hoàn và các sản phẩm của nó đƣợc lƣu thông rộng rãi trong và ngoài nƣớc. Một
phần sản phẩm đƣợc bán cho các thƣơng nhân Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan…
qua các thƣơng cảng Thăng Long, Phố Hiến, Hội An… Vào giai đoạn cuối của chế
độ phong kiến, nghề khai mỏ đã có những bƣớc phát triển đáng kể. Sang giai đoạn
triều Nguyễn vào nửa đầu thế kỷ XIX, công cuộc khai mỏ phát triển hơn một bƣớc.
Tuy nhiên, tham gia trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên trên lãnh thổ của
mình, ngƣời Việt lại thua kém ngƣời Hoa trong quá khai thác cũng nhƣ hiệu quả từ
lợi nhuận mang lại.
Nhƣ vậy có thể thấy nghề khai thác mỏ cũng nhƣ thuật luyện kim ở Trung
Quốc xuất hiện và phát triển sớm hơn ở Việt Nam. Về mặt kỹ thuật, họ đã phát triển
những nghề này lên một tầm vóc cao hơn, để sau này những di dân Trung Quốc
vƣợt biên giới sang miền bắc Việt Nam, họ đã duy trì đƣợc lợi thế, lợi ích của mình
trong việc khai thác mỏ tại Việt Nam trong nhiều thế kỷ, đến khi ngƣời Pháp thay
thế họ ở miền bắc Việt Nam.
Về điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn tài nguyên khoáng sản, miền Bắc Việt
Nam, thƣờng đƣợc phân chia thành hai khu vực địa lý, bao gồm vùng Đông Bắc và
Tây Bắc. Việt Nam đƣợc xếp vào hàng nƣớc giàu tài nguyên khoáng sản trên thế
20
giới, với hàng trăm mỏ, hàng nghìn điểm quặng, đa số là mỏ nhỏ và trung bình. Tuy
vùng: Vùng nền móng cổ Tiền Cambri: Vùng sông Chảy với đá Thái cổ và xâm
nhập granít chỉ có vài điểm sắt nhỏ ở rìa, tại thung lũng sông Lô Thanh Thủy - Hà
Giang và Tây Nam cao nguyên đá vôi Mƣờng Khƣơng. Đới sông Hồng và dải
21
Hoàng Liên Sơn, nham biến chất Nguyên sinh, tƣơng đối nhiều mỏ tập trung dọc
đứt gãy sông Hồng, nhƣ mỏ đồng - vàng Sin Quyền, mỏ sắt Quý Xa, mỏ apatít Cam
Đƣờng, mỏ graphit Lào Cai, ngoài ra còn nhiều mỏ khác. Vùng nền móng Calêđôni:
Các nơi giàu khoáng sản trong vùng là đứt gãy Cao Bằng - Lạng Sơn, khu vực Thái
Nguyên và cánh cung Duyên Hải.
Vùng Cao Bằng - Lạng Sơn, tập trung mỏ nhôm, trong đó có nhiều mỏ trung
bình ở Hà Quảng, Nguyên Bình. Sau đó là mỏ thiếc, thiếc - vonfram ở Tĩnh Túc,
mỏ vàng Pắc Lang, mỏ sắt Nà Lung, Gia Chu, mỏ chì Thanh Mai, mỏ đất sét Lộc
Bình. Còn lại là nhiều mỏ nhỏ nhƣng đáng chú ý là các mỏ mangan ở Trùng Khánh,
Hạ Lang, mỏ đá quý ở Trùng Khánh, mỏ uranium ở Nguyên Bình. Cụ thể các mỏ
khoáng sản ở khu vực này nhƣ sau:
Về khoáng sản kim loại: Mỏ sắt: ở mỏ sắt Cao Bằng đã phát hiện đƣợc một
số điểm quặng sắt magnetit có tổng tài nguyên và trữ lƣợng khoảng 35 triệu tấn [30,
tr. 483]. Mỏ măngan: ở Trùng Khánh, Hạ Lang tỉnh Cao Bằng. Các tụ khoáng
măngan nhƣ Tốc Tát, Rong Tháy đã đƣợc thăm dò khai thác quy mô nhỏ để sử
dụng trong luyện kim, hóa chất xuất khẩu. Một số doanh nghiệp, cá nhân tiến hành
khai thác quy mô nhỏ ở Vị Xuyên (Hà Giang), hay ở Cao Bằng [30, tr. 488]. Mỏ
đồng - vàng: ở Sin Quyền (Lào Cai) có quy mô lớn nhất trong vùng dọc hữu ngạn
sông Hồng, từ huyện Bát Xát (Lào Cai) đến huyện Văn Uyên (Yên Bái), đã đƣợc
thăm dò và hiện đang khai thác. Mỏ gồm 17 thân quặng dạng thấu kính Quặng có
hàm lƣợng đồng trung bình là 1,03%, vàng 0,5 g/tấn và chứa các nguyên tố Ag, Co,
Mo có thể thu hồi. Mỏ có trữ lƣợng xác định là 551.000 tấn đồng trong khoảng 91,5
triệu tấn quặng [30, tr. 488]. Mỏ chì - kẽm: phân bố rải rác ở các tỉnh Cao Bằng, Hà
Giang, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai và Điện Biên. Quặng ôxít trong mỏ chì - kẽm
ở Bản Bó, Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng. Mỏ thiếc: ở Tĩnh Túc, Cao Bằng đã đƣợc khai
các cộng đồng cƣ dân ở đây qua nhiều thế kỷ. Tác giả của hầu hết các tác phẩm dƣ
địa chí của Việt Nam về các vùng đất này đều khẳng định đây là một trung tâm của
các mỏ khoảng sản đa dạng và phong phú nhờ nằm trên một vùng đất với nhiều các
hoạt động địa chất từ hàng vạn năm trƣớc.
Các vùng tập trung khoáng sản chủ yếu nằm trên các đứt gãy Cao Bằng -
Lạng Sơn và khu vực cánh cung duyên hải phía đông bao gồm các mỏ nhƣ nhôm ở
các huyện Hà Quảng, Nguyên Bình, mỏ thiếc-vonfram ở Tĩnh Túc, mỏ vàng Pác
Lang, mỏ sắt Nà Lung, Gia Chu, mỏ chì Thanh Mai; còn lại là nhiều mỏ nhỏ đáng
chú ý là các mỏ mangan ở Trùng Khánh, Hạ Lang… Ngoài ra cũng cần kể tới
nguồn tài nguyên than đá với một trữ lƣợng lớn ở khu vực duyên hải. Có thể nhận
thấy sự giàu có và tài nguyên khoáng là một trong những điều kiện quan trọng tạo
nên diện mạo của khu vực biên giới và đây cũng là một trong những cơ sở cho sự
bùng nổ kinh tế của khu vực này trong lịch sử. Trong các trấn vùng Đồng Bắc, trấn
Tuyên Quang ở vào khoảng giữa tả ngạn Sông Nhị và Sông Lô, phía bắc giáp giới
23
phủ Khai Hóa, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc. Thời Pháp thuộc chia trấn Tuyên-
Quang ra làm hai tỉnh: Tuyên Quang và Hà Giang.
Trong lịch sử, vùng Tây Bắc đƣợc coi là một vùng núi non hiểm trở, hùng vĩ,
một địa bàn trọng yếu về kinh tế, quốc phòng của quốc gia Đại Việt. Trong Dư địa
chí, Nguyễn Trãi đã viết: “Hƣng Hóa xƣa là bộ Tân Hƣng Phía Tây thông với Vân
Nam, phía Đông tiếp giáp với Sơn Tây, phía Bắc và phía Nam tiếp giáp với Tuyên,
Nghệ” [71, tr. 2]. Có 3 lộ phủ, 4 huyện, 17 châu, 31 làng xã, 155 động, 137 sách, 8
trang. Đấy là phên dậu thứ hai án ngữ ở phƣơng Tây vậy”. Vào đầu thời kỳ tự chủ,
vùng Hƣng Hóa đƣợc gọi là Lâm Tây và Châu Đằng. Đến thời Trần (1226-1400)
gọi là Đà Giang, Quy Hóa và đầu thời hậu Lê đổi thành Hƣng Hóa [71, tr. 2]. Trong
Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cho rằng: “Hƣng Hóa phía Đông
liền với trấn Sơn Tây, Tây giáp Vân Nam, Bắc giáp Tuyên Quang, Nam giáp Thanh
Hoa. Núi sông hiểm trở có thể làm nơi căn cứ. Nguồn lợi dồi dào, lúc nào cũng
sung túc, là một nơi trọng yếu của miền thƣợng du” [14, tr. 164]. Khảo cứu tác
các châu Tung Lăng, Lê Tuyền, Hoàng Nham, Hợp Phi, Tuy Phụ, Khiêm bị mất
vào tỉnh Vân Nam; đầu đời Gia Long vẫn làm trấn, lệ vào Bắc Thành, năm Minh
Mệnh thứ 12 (1831), lấy huyện Tam Nông của Sơn Tây lệ vào, đổi làm tỉnh Hƣng
Hóa” [5, tr. 188]. Huỵên Phù Hoa năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) đổi làm Phù Yên,
ở phía Đông Bắc huyện Mai Sơn.
Do những kiến tạo của tự nhiên, Hƣng Hóa đƣợc coi là nơi giàu có về tài
nguyên thiên nhiên. Nguồn tài nguyên của Hƣng Hóa rất đa dạng bao gồm các mỏ
khoáng sản, lâm thổ, thủy sản và cả các nguồn tài nguyên mà tự bao đời các dân tộc
trong khu vực đã khai thác, sáng tạo để duy trì cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội,
văn hóa và mở rộng mối giao lƣu với bên ngoài. Hƣng Hóa còn là một vùng đất
giàu có về trữ lƣợng kim loại, khoáng sản. Theo các nhà địa chất, vùng miền núi,
trung du Bắc Bộ là khu vực giàu tài nguyên khoáng sản vào loại bậc nhất nƣớc ta.
Trong đó, khu vực lãnh thổ nằm giữa sông Đà, sông Lô, sông Gâm là trung tâm
quan trọng nhất của vùng tam giác năng lƣợng - khoáng sản: Yên Bái - Lào Cai -
Phong Thổ. Tam giác này nằm trong một tam giác lớn hơn gồm Hòa Bình - Mƣờng
Tè - Hà Giang. Đây là nơi tập trung các mỏ khoáng sản nhƣ: Apatit (Cam Đƣờng),
graphit (Lào Cai), đồng - vàng (Sinh Quyền), barit (Nậm Xe), barit-fluorit (Đông
Pao), sắt (Quý Xa)
Đại Nam nhất thống chí cho rằng: Hƣng Hóa về thổ sản có lúa tẻ, lúa nếp, ngô,
đậu xanh, vàng. Về kim loại quý có mỏ vàng. Vàng có ở mỏ Bản Lỗ, châu Mai, mỏ
Yết Ong ở châu Sơn La, mỏ Gia Nguyên ở huỵên Văn Chấn đều có thuế; Mƣờng
Thanh ở châu Thuận, Cam Đƣờng ở châu Thủy Vĩ, Làng Nam ở châu Chiêu Tấn.
Các sử gia nhà Nguyễn cũng cho rằng: Bạc có ở mỏ Phú Thanh ở châu Luân, hàng
năm nộp thuế 60 lạng; còn Ly Bô ở Chiêu Tấn, Ngọc Uyển ở Thủy Vĩ, Hƣơng Sơn
ở Văn Chấn và Quy Mộ ở Tuần Giáo trƣớc đều có mỏ bạc. Đồng có ở mỏ Lai
Xƣơng và châu Lai, hàng năm nộp thuế đồng 300 cân, mỏ Phong Dụ ở Văn Bàn,
25
hàng năm nộp thuế 400 cân đồng; còn Man Đổ ở châu Mai; Suối Lẫm ở châu Yên;
Hƣơng Đàn ở châu Mộc; Trình Hám ở châu Thuận; Thạch Bi, Trình Lạn và Sơn