ẢNH HƢỞNG CỦA CHẾ ĐỘ BÓN PHÂN HỮU CƠ ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA
MỘT SỐ GIỐNG CỎ NHÓM BRACHIARIA
Lê Xuân Đông,
1
Nguyễn Thị Mùi, Phan Thị Kiểm
Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
1
Bộ môn Dinh dưỡng, Thức ăn Chăn nuôi và Đồng cỏ
Tóm tắt
Cỏ Brachiaria được trồng rộng rãi làm thức ăn cho chăn nuôi. Nghiên cứu tiến hành đánh giá khả năng sản
xuất của 5 giống Brachiaria trên 3 nền phân hữu cơ khác nhau kết hợp với bón phân hóa học. Thí nghiệm thực hiện
tại Ba Vì – Hà Nội từ tháng 4 năm 2008. Thí nghiệm với 2 nhân tố: 5 giống cỏ Brachiaria và 3 mức phân hữu cơ,
thiết kế theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB). Kết quả cho thấy, sản lượng các giống cỏ tăng lên khác nhau khi tăng
mức bón phân hữu cơ từ 10 lên 30 tấn/Ha. Năng xuất vật chất khô cỏ Mulato và Mulato II tăng 41%-43%,
B.ruziziensis tăng 33%. Bón 30 tấn/Ha cỏ Mulato II cho năng xuất 132,2 tấn chất xanh/Ha, vật chất khô là 30,1
tấn/Ha, protein là 13,9 tấn/Ha . Tỷ lệ lá/chất xanh của các giống cỏ khá cao đạt từ 57,4-67,6%. Khi tăng mức phân
bón hữu cơ sản lượng chất xanh của các giống tăng lên: B. Decumbens, B. Brizantha, Mulato II là các giống có khả
năng sản xuất trong mùa khô, sản lượng thu được theo thứ tự là 13,5;13,1;15,7. Tăng mức phân bón đến 30 tấn/Ha
sản lượng thức ăn thu được tăng lên trên đơn vị diện tích nhưng giá thành sản xuất không tăng, chỉ dao động từ 2-7
đồng/Kg thức ăn.
1. Đặt vấn đề
Brachiaria có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ấm châu Phi. Các giống cỏ này được giới thiệu
đầu tiên ở Australia đầu những năm 1960, được đưa đến Nam Mỹ vào đầu những năm 1970.
Nhóm Brachiaria thân đứng mọc thành cụm bao gồm các giống Brachiaria Ruzisiensis,
Brachiaria Decumbens, Brachiaria Brizantha , nhóm thân bò chịu úng gồm các giống Brachiaria
Mutica, Brachiaria humidicola… Brachiaria được trồng rộng rãi nhất ở Nam Mỹ, diện tích lên
đến trên 80 triệu Ha (Boddey et al, 2004) sử dụng làm đồng cỏ chăn thả hoặc thu hoạch làm cỏ
khô.
Một chương trình lai giống của CIAT nhằm tạo ra giống Brachiaria với các đặc tính nông
miền Nam;
Thức ăn xanh thô chủ yếu là các giống cỏ hòa thảo, cỏ tự nhiên chất lượng thấp chưa đáp
ứng được nhu cầu dinh dưỡng của gia súc ăn cỏ, đặc biệt là đối với bò sữa.
Nước ta là nước nông nghiệp nằm trong vùng nhiệt đới, có nguồn thức ăn xanh thô
phong phú. Chúng ta đã nhập nội, tuyển chọn được nhiều giống cỏ/cây thức ăn chăn nuôi, đã
đánh giá thích nghi ở các vùng sinh thái, một số giống đang được áp dụng rộng rãi trong sản
xuất. Mặc dù vậy, việc đánh giá toàn diện, nghiên cứu các giống tiến bộ nhằm phát huy hết tiềm
năng năng xuất, đa dạng hóa nguồn thức ăn xanh thô cho chăn nuôi còn hạn chế. Chính vì vậy
việc nghiên cứu: “Ảnh hưởng của chế độ bón phân hữu cơ đến khả năng sản xuất của một số
giống cỏ Brachiaria” là hết sức cần thiết đáp ứng với yêu cầu đẩy mạnh sản xuất thức ăn xanh
thô, nâng cao chất lượng thức ăn, đa dạng hóa nguồn thức ăn xanh thô cho gia súc ăn cỏ.
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá khả năng sản xuất, chất lượng của các giống
đang phổ biến trong sản xuất: B. Ruziziensis, B. Brizantha, B. Decumbens, các giống tiến bộ
mới nhập nội: Mulato, Mulato II trên các nền phân hữu cơ thường được áp dụng trong sản xuất
hiện nay.
2. Vật liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Nghiên cứu trên 5 giống cỏ nhóm Brachiaria:
Brachiaria Ruziziensis (Cỏ Ruzi), giống cỏ thuần
Brachiaria Decumbens (Cỏ tín hiệu), giống cỏ thuần
Brachiaria Brizantha, giống cỏ thuần
Mulato (B. Hybrid), giống cỏ lai Mulato II, giống cỏ lai
Giống cỏ Mulato và Mulato II là 2 giống lai được đưa vào Trung tâm nghiên cứu Bò và
Đồng cỏ Ba Vì từ 2005, 2007.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 4 năm 2009.
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì-Tản Lĩnh-Ba Vì-Hà
tiến hành trong mùa mưa sau cắt lứa thứ nhất 50 ngày. Đây là thời điểm thu hoạch cỏ, thảm cỏ
phát triển ổn định. Kết quả được trình bày ở bảng 1
Bảng 1. Độ cao thảm cỏ ở các nền phân bón khác nhau
Đơn vị tính (cm)
Phân hữu cơ
10 tấn/Ha
20 tấn/Ha
30 tấn/Ha Giống
B. Ruziziensis
50±3,0
53±3,5
56±4,0
B. Decumbens
45±2,5
46±4,0
46±3,5
B. Brizantha
57±4,0
59±2,5
65±4,0
Mulato
54±3,0
54±4,0
60 ±5,5
Mulato II
51±3,0
53±2,5
97
109,7
96,4
B. Decumbens
92,6
114,6
125,1
110,8
B. Brizantha
89,9
116,7
124,8
110,5
Mulato
89,6
115,3
129
tăng mức phân bón năng xuất của các giống cỏ tăng lên rõ rệt (P<0,05), năng xuất của cỏ B.
Ruziziensis tăng năng xuất 82,6 tấn/Ha lên 109,7 tấn/Ha, tăng mức bón phân hữu cơ từ 10 tấn/Ha
lên 30 tấn/Ha, mức tăng năng xuất là 33%. Giống cỏ Mulato năng xuất tăng từ 89,6 tấn/Ha lên
129 tấn/Ha, khi tăng mức phân hữu cơ từ 10 tấn/Ha lên 30 tấn/Ha, mức tăng năng xuất là 43,9%.
Điều này cho thấy vai trò của phân hữu cơ ảnh hưởng rất quan trọng với năng xuất của các giống
cỏ Brachiaria. Kết quả này phù hợp với kết quả báo cáo hàng năm của CIAT khi nghiên cứu khả
năng sản xuất của Mulato II so với B. Brizantha cv. Toledo, B. Decumbens cv. Basilisk và
Mulato (CIAT, 2006). Qua nghiên cứu cho thấy không có sự tương tác giữa ảnh hưởng của các
mức phân bón với các giống khác nhau (P >0,05).
3.3. Đánh giá tỷ lệ lá/chất xanh của các giống nghiên cứu
Chỉ tiêu lá/chất xanh là một chỉ tiêu rất quan trọng trong chất lượng chất xanh cho gia súc
ăn cỏ, tỷ lệ lá/chất xanh cao biểu hiện chất lượng thức ăn cao, tỷ lệ ăn vào của gia súc cao hơn, ít
lãng phí thức ăn thừa do gia súc bỏ lại. Chỉ tiêu này được đánh giá tại thời điểm thu hoạch chất
xanh của các giống cỏ nghiên cứu ở lứa cắt thứ 2 trong nghiên cứu này. Kết quả được trình bày
tại bảng 3
Bảng 3. Tỷ lệ lá/chất xanh của các giống cỏ nghiên cứu tại thời điểm thu hoach
chất xanh
Đơn vị tính (%)
Phân hữu cơ
Giống
10 tấn/Ha
20 tấn/Ha
30 tấn/Ha
B. Ruziziensis
61,1
62,4
63,5
B. Decumbens
62,2
64,2
3.4. Đánh giá Sản lƣợng chất xanh thu đƣợc của các giống trong mùa khô lạnh
Để đánh giá khả năng sản xuất chất xanh của các giống cỏ Brachiaria trong mùa khô
chúng tôi tiến hành nghiên cứu sản lượng thức ăn xanh thu được trong mùa khô (Mùa khô lạnh
tại Ba Vì).
Mùa mưa và mùa khô là khái niệm tương đối về thời gian, trong mùa khô tại Ba Vì do
ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc thời tiết có mưa phùn nhưng kèm theo gió mùa Đông Bắc lạnh
không thích hợp cho cỏ nhiệt đới phát triển. Trong nghiên cứu này chúng tôi tạm đưa ra khoảng
thời gian mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô lạnh từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.
Trong thời gian nghiên cứu tháng 1/2009 là tháng có nhiệt độ trung bình không khí thấp nhất
(14,7
0
c), cao nhất là 21,2
0
c (2/2009); tháng có lượng mưa thấp nhất vào tháng 2/2009, tổng
lượng mưa trong tháng là 4,4mm. Tổng lượng mưa trong 4 tháng nghiên cứu (12/2008,1/2009,
2/2009, 3/2009) là 95,7mm. Nghiên cứu trong điều kiện độ ẩm tự nhiên, thí nghiệm không có
tưới nước.
Kết quả nghiên cứu đánh giá sản lượng chất xanh thu được của các giống Brachiaria
trong mùa khô lạnh được trình bày trong bảng 4.
Bảng 4. Sản lượng chất xanh thu được trong mùa khô lạnh tại Ba Vì
Đơn vị tính: Tấn/Ha
Phân hữu cơ
Giống
10 tấn/Ha
20 tấn/Ha
30 tấn/Ha
Trung bình
B. Ruziziensis
6,2
7,0
11,3
12,1
10,9
Lsd(CT) = 2,8; Lsd(phân)= 0,8; Lsd(giống)=1,1; Không có tương tác; α = 0.05
Bảng 4 cho ta thấy, khi tăng mức bón phân hữu cơ tỷ lệ chất xanh thu được trong mùa
khô lạnh không tăng về số tương đối, tuy vậy sản lượng chất xanh thu được của các giống tăng lên. Trong các giống nghiên cứu, Mulato 2 là các giống thu được sản lượng chất xanh trong mùa
khô lạnh cao nhất đạt trung bình 13,9 tấn/Ha (P<0,05), B. Decumbens, B. Brizantha có sản lượng
chất xanh thu được tương đương nhau 12,2-12,3 tấn/Ha. Sản lượng chất xanh thu được thấp nhất
là cỏ B. Ruziziensis chỉ đạt 7,1 tấn/Ha ở múc phân bón 30 tấn/Ha. Khi tăng mức phân hữu cơ từ
10 tấn/Ha lên 30 tấn/Ha các giống Brachiaria đều tăng sản lượng chất xanh (P<0,05),
B.Decumbens, B. Brizantha tăng sản lượng chất xanh từ 2,6 đến 3,1 tấn/Ha, Mulato II tăng đến
4,0 tấn/Ha. Hơn nữa các giống này giữ màu xanh trong suốt mùa khô lạnh, đây là đặc điểm quan
trọng để điều chỉnh các lứa thu hoạch nhằm dự trữ thức ăn xanh trên đồng ruộng.
3.5. Đánh giá chất lƣợng thức ăn xanh của các giống nghiên cứu
Phân tích chất lượng thức ăn xanh ở công thức bón 20 tấn phân hữu cơ/Ha được trình bày
tại bảng 5
Bảng 5. Tỷ lệ vật chất khô trong chất xanh và tỷ lệ Protein thô trong vật chất khô
Đơn vị tính %
Chỉ tiêu
Giống
Vật chất khô
Protein thô
B. Ruziziensis
22,8
30 tấn/Ha
VCK
Protein
VCK
Protein
VCK
Protein
B. Ruziziensis
18,8
7,4
22,1
8,7
25,0
9,9
B. Decumbens
22,0
9,7
27,0
11,9
29,5
12,9 B. Brizantha
20,9
8,8
27,1
11,4
29,0
12,2
xanh, chúng tôi tiến hành tính chi phí đầu tư sản xuất thức ăn xanh của các giống cỏ trên các
mức bón phân hữu cơ khác nhau. Trong nghiên cứu này, chi phí sản xuất được tính trên cơ sở
của năm thiết lập đầu tiên bao gồm chi phí giống và chi phí trồng mới được khấu hao hết, không
phân bổ cho các năm sau. Kết quả trình bày tại bảng 7.
Bảng 7
a
. Chi phí đầu tư trồng và chăm sóc 1 Ha cỏ Brachiaria
(Đơn vị tính 1000 đồng)
Mức phân bón
Chi phí
10 tấn
20 tấn
30 tấn
Làm đất (2,5 Triệu/Ha)
2.500
2.500
2.500
Giống (2 tấn x 2.500 đồng)
5.000
5.000
5.000
Chi phí phân hóa học (N,P,K)
6.650
6.650
6.650
Chi phí phân hữu cơ (250.000/tấn)
2.500
5.000
7.500
Công bón phân (14; 18; 22 công)
Đơn vị /Kg cỏ xanhtính: Đồng
Phân hữu cơ
Giống
10 tấn/Ha
20 tấn/Ha
30 tấn/Ha
B. Ruziziensis
490
475
469
B. Decumbens
450
427
430
B. Brizantha
466
429
436
Mulato
467
432
429
Mulato II
456
425
423
Bảng 7
b
cho thấy, giá sản xuất và vận chuyển về 1 kg thức ăn xanh về chuồng gia súc của
- Khi tăng mức bón phân hữu cơ từ 20 tấn/Ha lên 30 tấn/Ha, giá sản xuất thức ăn xanh
của các giống cỏ tăng lên hay giảm đi từ 2-7 đồng/Kg. Vì vậy, trong sản xuất cần đầu tư thâm
canh đến 30 tấn phân hữu cơ/Ha để thu được khối lượng sản phẩm cao trên đơn vị diện tích.
4.2. Đề nghị
- Áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, đa dạng hóa
nguồn thức ăn xanh cho gia súc ăn cỏ.
- Tiếp tục nghiên cứu về khả năng nhân giống vô tính, nhân giống hữu tính của bộ giống
cỏ Brachiaria, đặc biệt là Mulato II nhằm chủ động sản xuất giống trong nước.
Tài liệu tham khảo
1. Boddey, R. M., R. Macedo, R. M. Tarre, E. Ferreira, O. C. de Oliveira, C. de P. Renzende, R.B.
Cantarutti, J.M. Periera, B. J. R. Alves, S. Urquiaga, (2004). Nutrient cycling of Brachiaria pastures: the
key to understanding the process of pasture decline. Agric. Ecosys. & Environ. 103: 389-403.
2. CIAT, (2001). Annual Report 2001. Project IP-5: Tropical gasses and Legumes: Optimizing genetic
diversity for multipurpose use. P. 110-112.
3. CIAT, (2004). (Centro internacional de Agricultura Tropical). Annual report 2003. Project IP-5. Tropical
Grass and Legumes: Optimizing genetic diversity for multipurpose use. 222 p.
4. CIAT, (2006). (Centro internacional de Agricultura Tropical). Annual report 2005. Project IP-5. Tropical
Grass and Legumes: Optimizing genetic diversity for multipurpose use. 266 p.