THÔNG BÁO KHOA HỌC
ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH, KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ SẢN XUẤT TRỨNG CỦA
VỊT LAI F
1
, F
2
(TRIẾT GIANG X VỊT CỎ) NUÔI TẠI BÌNH ĐỊNH
Đồng Thị Diệu Hiền, Nguyễn Thị Huệ
Trung tâm Nghiên cứu và PTCN miền Trung
1. Đặt vấn đề
Vịt Triết Giang có nguồn gốc từ Trung Quốc được nhập vào Việt Nam bằng con đường
tiểu ngạch, năm 2006 giống vịt này mới chính thức được nhập vào Việt Nam và được nuôi nhiều
ở các tỉnh trong cả nước. Đây là giống vịt chuyên trứng có nhiều ưu điểm, vịt có lông màu cánh
sẻ nhạt, một số ít có màu trắng, có tuổi đẻ rất sớm 16 đến 17 tuần, năng suất trứng 52 tuần đẻ
251,3 quả/mái, cao hơn vịt Cỏ và tương đương với vịt Khaki Campbell. Vịt có thể nuôi theo các
phương thức khác nhau như nuôi nhốt trong vườn cây, vườn đồi không cần nước bơi lội, nuôi
nhốt kết hợp cá - vịt…
Mặc dù có ưu điểm là khả năng thích nghi cao, sức đẻ bền. Tuy nhiên Vịt Triết Giang có
nhược điểm là khối lượng trứng nhỏ, trung bình chỉ 61,4gam, nhỏ hơn so với vịt Cỏ (64,3gam).
Mặt khác, vịt Triết Giang là giống có thể trọng nhỏ, khối lượng con mái khi vào đẻ 1083 gam
(Nguyễn Đức Trọng và CS, 2009), do đó, sau khi khai thác trứng, giá trị thu hồi vốn đầu tư từ
bán đàn vịt loại thải cũng thấp hơn so với vịt cỏ hoặc vịt Mốc. Đề tài đã tiến hành lai giống giữa
vịt Cỏ và vịt Triết giang với mục đích: tận dụng ưu thế về năng suất trứng cao của vịt Triết
giang, đồng thời nâng cao khối lượng trứng ở con lai nhằm tăng giá trị hàng hóa.
2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 269 con vịt mái của 3 cặp lai:
- F
Bố trí thí nghiệm:
Bảng 2.1. Bố trí thí nghiệm
Chỉ tiêu
F
2
TTC
F
1
CT
F
1
TC
Phương thức nuôi
Nuôi nhốt chuồng
nền xi măng
Nuôi nhốt chuồng
nền xi măng
Nuôi nhốt chuồng
nền xi măng
Số lượng vịt mái 1
ngày tuổi (con)
132
64
73
Thời gian nuôi
473 ngày
473 ngày
473 ngày
Chế độ dinh dưỡng
Vịt trống có lông ở đầu và đuôi màu xanh đen,
có khoang trắng ở cổ, phần thân có màu nâu đỏ
xen lẫn lông trắng, có 2-3 lông móc cong ở đuôi. Đầu, cổ
Đầu nhỏ, cổ thon và dài
Thân hình
Thon nhỏ, dáng đứng gần vuông góc với mạt đất.
Mỏ và
chân
Màu vàng nhạt có con
hơi xám, xám đen
Vàng, có con hơi xám đen
Kết nghiên cứu cho thấy vịt thí nghiệm ở cả 3 lô có màu lông tương đối giống nhau ở các
giai đoạn tuổi, chỉ riêng lô F
2
TTC có màu lông hơi nhạt hơn, cổ thon và dài hơn và có một số
con có màu lông trắng tuyền. Sự phân loại màu lông như trên chỉ tương đối, vì có sự xen lẫn các
màu khác nhau. Sự phân ly màu lông của con lai gần như là màu trung gian giữa vịt cỏ và vịt
Triết Giang.
3.2. Tỷ lệ nuôi sống
Kết quả nghiên cứu cho thấy vịt lai Triết Giang có khả năng thích ứng rất tốt với điều
kiện khí hậu tại Bình Định. Các lô vịt nghiên cứu đều có sức sống cao, tính chung cho cả giai
đoạn từ sơ sinh đến lúc vào đẻ (16 tuần tuổi), tỉ lệ nuôi sống đạt 100%.
Vịt lai TG nuôi tại Bình Định có tỷ lệ nuôi sống cao hơn các kết quả nghiên cứu trong
nước trước đây. Theo tác giả Nguyễn Thị Minh (2006) cho biết vịt cỏ sau khi chọn lọc có tỷ lệ
214,0
4
540,3
583,0
529,7
6
715,3
761,7
714,0
8
910,0
917,0
875,5
10
1010,3
1025,7
1014,8
12
1067,6
1129,3
1144,0
14
1141,3
1144,7
1170,0
16
1206,8
1247,6
1204,6
F
1
TC
Tuổi đẻ quả trứng đầu
ngày
95
92
93
Tuổi đẻ đạt tỷ lệ 5%
ngày
112
115
113
Tỷ lệ đẻ bình quân
%
76,9
79,5
77,7
Tuần đẻ đỉnh cao
Tuần
28
30
28
Tỷ lệ đẻ đỉnh cao
%
92,9
92,1
92,2
Năng suất trứng/52 tuần đẻ
Quả/mái
quân của lần lượt là 279,8; 289,3 và 282,8 quả/mái/năm là cao hơn cả vịt Triết Giang thuần
(251,3 quả/mái). Kết quả này một mặt có thể là do ưu thế lai, mặt khác do vịt thí nghiệm được
chăm sóc tốt nên đã phát huy tốt về năng suất trứng của giống vịt Triết Giang. Tuy nhiên tuổi đẻ
đỉnh cao ở 28 và 30 tuần đẻ là chưa phản ánh đúng bản chất sinh học của các giống vịt chuyên
trứng. Theo Nguyễn Đức Trọng thì tuổi đẻ đình cao của vịt TG ở tuần đẻ thứ 14 và đạt 98,2%.
Kết quả này có thể là do vịt thí nghiệm bắt đầu đẻ vào mùa mưa năm 2009, giai đoạn này liên
tiếp bị hai cơn bão số 9 và 11 nên đã làm ảnh hưởng đến tỷ đẻ của vịt thí nghiệm.
Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng của vịt lai Triết Giang nuôi tại Bình Định là khá thấp,
ở cặp lai F
1
CT là 2,03kg TĂ F
1
TC là 2,06kg TĂ và F2 TTC là 2,10kg, thấp hơn vịt F
1
(CV2000
x Khaki) tiêu tốn thức ăn là 236g/quả (Hoàng Văn Tiệu, 2004), vịt F
1
(CV2000 x Cỏ) tiêu tốn tốn
thức ăn 239,76g/ - 296g/quả (Doãn Văn Xuân, 2006) và vịt Triết Giang thuần là 223 gam/quả
(Nguyễn Đức Trọng, 2009).
3.3.2. Các chỉ tiêu về chất lượng trứng Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu chất lượng trứng vịt TN trình bày ở bảng 3.5
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng của các cặp vịt lai
Chỉ tiêu
F
2
TTC
F
2
TTC đạt 93,4%, F
1
CT đạt 95,9% và F
1
TC
đạt 94,4%. Cao hơn vịt cỏ (90-92%) , tương đương Vịt Triết Giang (93,46%). Tuy nhiên lại thấp
hơn so với Vịt Mốc nuôi tại Bình Định (95,78%) (Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Đức Trọng, 2009;
Đoàn Trọng Tuấn, Lý Văn Vĩ, 2009)
4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận
- Ở 3 công thức lai (F
1
CT, F
1
TC, F
2
TTC) vịt lai có màu lông khá đồng nhất. Vịt mái có
màu lông cánh sẻ nhạt, có 1-2% trắng tuyền. Vịt trống có lông màu xám và màu xanh đen ở đầu
và đuôi, cổ có khoang màu trắng.
- Con lai giữa vịt Triết Giang và vịt cỏ có khả năng sinh trưởng và phát triển ở mức trung
gian giữa vịt Triết Giang và vịt cỏ, có tỷ lệ nuôi sống rất cao, tỷ lệ trứng có phôi cao.
- Tuổi đẻ bình quân của các cặp lai là 16 tuần; tỷ lệ đẻ bình quân của các cặp lai F
1
CT đạt
84,51%; F
1
TC đạt 79,62% và F
2
TTC đạt 75,5% và năng suất trứng trung bình lần lượt là 289,3;