TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP ĐẾN THAY ĐỔI NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂN NUÔI (KAP) TẠI CÁC HỘ CHĂN NUÔI GIA CẦM NHỎ LẺ NHẰM GIẢM THIỂU NGUY CƠ LÂY LAN DỊCH CÚM GIA CẦM - Pdf 27


TRẦN THỊ MAI PHƯƠNG – Tác động của các biện pháp can thiệp trong dự án IDRC …

57

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP ĐẾN THAY ĐỔI NHẬN THỨC,
THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CHĂN NUÔI (KAP) TẠI CÁC HỘ CHĂN NUÔI GIA CẦM
NHỎ LẺ NHẰM GIẢM THIỂU NGUY CƠ LÂY LAN DỊCH CÚM GIA CẦM
Vũ Chí Cương
1
, Trần Thị Mai Phương
1
, Phùng Đức Tiến
1
, Nguyễn Quý Khiêm
2
,
Nguyễn Thị Nga
2
và Bạch Thị Thanh Dân
2
1
Viện Chăn nuôi;
2
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
Tác giả liên hệ: Trần Thị Mai Phương - Viện Chăn nuôi
Tel: 01682957577; Email:
ABSTRACT
Impact of the interventions on the KAP changes of the poultry backyaders in relation to the reduction and
management of avian influenza risk
The IDRC funded project” Characteristics and dynamic of backyard poultry raising systems in five Asian

nguy cơ của dịch cúm gia cầm trong cộng đồng ở 5 nước châu Á

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 30 - Tháng 6 – 2011

58

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu
400 hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ thuộc 8 xã của 4 tỉnh Hà tây, Thái bình, Thanh hóa và Long
an thuộc sector 4 (theo định nghĩa của FAO) đại diện cho các vùng khác nhau và được lựa
chọn dựa theo các tiêu chí sau: Các xã lựa chọn thuộc vùng cao, vùng thấp, khoảng cách đến ổ
dịch (cả với người và động vật); các xã này có các trang trại chăn nuôi gia cầm thương phẩm
(gà hoặc vịt) hoặc các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có chăn nuôi cả gà và vịt; khoảng cách đến thị
trường thành phố, điều kiện vận chuyển. Những tỉnh này là những địa chỉ cung cấp sản phẩm
gia cầm cho thành phố, thị trấn và có kinh nghiệm trong thực hiện dự án.
Nội dung nghiên cứu
Giai đoạn 1: Điều tra thực trạng tình hình chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ trước và sau khi xảy ra
dịch cúm, tập huấn hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi gia cầm an toàn và phòng chống dịch cúm
gia cầm tại các địa phương tham gia dự án
Giai đoạn 2: Điều tra, phân tích để đánh giá tác động của dự án giai đoạn 1 sau đó tiến hành
lựa chọn giải pháp can thiệp
Giai đoạn 3: Áp dụng giải pháp và tiến hành điều tra để đánh giá tác động của dự án giai đoạn
2 sau can thiệp và thảo luận đề xuất chính sách
Phương pháp nghiên cứu
Lựa chọn 50 hộ nông dân của mỗi xã (trong tổng số 8 xã của 4 tỉnh) là các hộ chăn nuôi nhỏ
lẻ trong sector 4 (theo định nghĩa của FAO) được lựa chọn ngẫu nhiên.
Điều tra thực trạng đặc điểm của hệ thống chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ: Sử dụng phương pháp tiếp
cận sức khỏe sinh thái (Eco-health), (Lebel, 2003); Phương pháp điều tra có sự tham gia quan sát
và thảo luận nhóm chuyên sâu; Phỏng vấn các hộ nông dân: Kết hợp phỏng vấn các hộ nông

khác. Các số liệu kiểu nhị nguyên (có hoặc không) hay các số liệu không phân bố chuẩn tức là
không liên tục trên trục số dùng kỹ thuật hồi quy logic nhị nguyên.
Địa điểm phân tích tại Bộ môn nghiên cứu đa dạng sinh học & động vật quý hiếm, Bộ môn
Hệ thống nông nghiệp Viện Chăn nuôi.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm của hệ thống chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ
Số lượng gia cầm bình quân/hộ
Số lượng gia cầm hay qui mô đàn gia cầm có biến động nhẹ qua các giai đoạn của dự án
(Bảng 1). Số lượng gia cầm (vịt, gà) bình quân sau khi có tác động của dự án pha 1 tăng hơn
so với trước dự án, số lượng gà bình quân/hộ tăng từ 37,13 con lên 65,06 con; vịt tăng từ 6,52
con lên 15,02 con. Sau tác động pha 2, qui mô đàn không có biến động nhiều so với pha 1 của
dự án: qui mô đàn gà bình quân là 62,46 con ; vịt 12,31con .
Bảng 1. Số lượng gia cầm trong các hộ
Số lượng gà bình quân (con/hộ) Số lượng vịt bình quân (con/hộ)
Địa điểm triển
khai
Trước dự
án
Tác động
pha 1
Tác động
pha 2
Trước dự
án
Tác động
pha 1
Tác động
pha 2
Tân Hội 33,16 49,00 26,40 0,00 0,00 0,00
Tản Lĩnh 40,08 62,28 39,73 1,62 1,24 0,31

Bảng 2. Tỷ lệ hộ chăn nuôi các loại gia cầm
Trước dự án Tác động pha 1 Tác động pha 2 Giống gia
cầm
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Gà 249 63,7 267 67,3 277 73,7
Vit 10 2,6 10 2,5 13 3,5
Gia cầm khác 2 0,5 1 0,3 1 0,3
Nuôi lẫn 130 33,2
a
119 30,0
b
85 22,6
c

Tổng 391 100 397 100 376 100

Ghi chú: Theo hàng ngang những số có chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê.
Nguồn gốc gia cầm
Gia cầm giống được mua từ nhiều nguồn khác nhau: Nguồn cung cấp giống gà cho chăn nuôi
nhỏ lẻ từ 5 nguồn: Thương lái, từ chợ quê, từ người chăn nuôi khác trong làng, từ vùng khác
và từ trạm ấp trứng nhân tạo
Bảng 3. Nguồn gốc gia cầm
Trước dự án Tác động pha 1 Tác động pha 2
Loại
gia
cầm
Nguồn gốc
Số
lượng
Tỷ

con giống được bán ở chợ là từ nhiều nguồn khác nhau. Trong khi đó tỷ lệ các hộ chăn nuôi
mua con giống vịt ở chợ có chiều hướng giảm dần sau tác động giai đoạn 1, tuy nhiên sau đó
tỷ lệ này lại tăng lên. Có thể do chủ quan vì sau nhiều năm dịch cúm gia cầm tạm lắng xuống.
Thực trạng trước dự án, tỷ lệ các hộ dân mua giống gà từ lò ấp chiếm 22,68%, sau khi có tác
động của dự án IDRC nhận thức của người dân có thay đổi theo hướng tăng cường mua giống
từ lò ấp 24,66% (pha 1) và 36,29% (pha 2). Tương tự đối với giống vịt, lò ấp cũng là nơi cung
cấp giống theo xu hướng tăng dần.
Chuồng trại chăn nuôi
Một trong những đặc điểm của chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ là điều kiện chuồng trại. Có rất nhiều
lý do cho việc không xây dựng chuồng trại hoặc làm chuồng trại tạm bợ: Nuôi số lượng ít,
không có tiền; không cần thiết, vv. Kết quả điều tra về tình hình xây dựng chuồng trại cho gia
cầm qua 3 giai đoạn được thể hiện ở Bảng 4.
Bảng 4. Tỷ lệ số hộ có chuồng nuôi gia cầm
Gà Vịt
Giai đoạn
Chuồng
nhốt
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Có 257 70,41
a
66 68,04
a
Trước dự án

Không 108 29,59
a
31 31,96
a

Có 350 90,44

nhiều lý do để giải thích cho việc này: Sợ mất trộm, thói quen, không thấy có gì bất tiện….
Tuy vậy sau khi tham gia vào dự án, tình trạng này đã được cải thiện (Bảng 5).
Thời điểm trước và sau dịch cúm, tỷ lệ hộ xây dựng chuồng nuôi gà gần nhà chiếm 94,27%;
chuồng nuôi vịt gần nhà 96,7%. Sau 3 năm tham gia dự án, các hộ đã có ý thức hơn trong việc
xây dựng chuồng trại cách xa nhà ở, đảm bảo sức khỏe cho gia đình. Tỷ lệ này chỉ còn
61,76% đến 43,20% đối với gà và 46,75% đến 26,09% đối với vịt. Sự sai khác này có ý nghĩa
thống kê P<0,001. Tác động của các giải pháp can thiệp của dự án là rất rõ ràng, nhận thức
của các hộ chăn nuôi đã tăng lên rõ rệt và hành vi của họ đã bắt đầu thay đổi.

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 30 - Tháng 6 – 2011

62

Bảng 5. Tỷ lệ các hộ có chuồng nuôi gia cầm xa nhà ở
Gà vịt
Giai đoạn
Cách xa?
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Không 296 94,27
a
88 96,70
a
Trước dự án
Có 18 5,73
a
3 3,30
a

Không 218 61,76

Trước dự án 70-100% 43 12,04 14 14,89
40-69% 91 25,49 27 28,72
<40% 223 62,46 53 56,38
Tác động pha 1
70-100% 7 1,96 2 2,22
40-69% 49 13,73 8 8,89
<40% 301 84,31 80 88,89
Tác động pha 2
70-100% 7 1,91 3 3,57
40-69% 30 8,20 1 1,19
<40% 329 89,89 80 95,24

TRẦN THỊ MAI PHƯƠNG – Tác động của các biện pháp can thiệp trong dự án IDRC …

63

Biện pháp phòng ngừa dịch bệnh
Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh trong chăn nuôi nhỏ lẻ còn rất hạn chế (Bảng
7). Trước dự án có rất nhiều hộ chăn nuôi không tiêm phòng vaccine cho gia cầm (55,76% đối
với gà và 37,37% đối với vịt). Sau 3 năm tham gia dự án, tỷ lệ này giảm đi đáng kể p<0,001,
cụ thể như sau: sau tác động của dự án pha 1 tỷ lệ này chỉ còn 8,07% đối với gà và 13,83%
đối với vịt. Sau khi kết thúc pha 2 của dự án ta thấy số hộ không sử dụng vaccine chỉ còn 1,09%
đối với gà và không còn hộ dân nào không tiêm phòng cho vịt.
Mặt khác người dân đã biết kết hợp sử dụng thuốc và vaccine để phòng bệnh cho gia cầm.
Điều này chứng tỏ rằng dự án đã đi đúng hướng, người chăn nuôi nhỏ lẻ đã biết tự bảo vệ đàn
gia cầm của mình, giảm thiểu khả năng lây lan dịch bệnh.
Bảng 7. Biện pháp phòng ngừa dịch bệnh

Dùng thuốc phòng 68 18,58 10 11,76
Sử dụng vac xin 18 4,92 2 2,35
Sử dụng vac xin, dùng thuốc 276 75,41 73 85,88
Ghi chú: Theo cột dọc những số có chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê.
Thực hành của người chăn nuôi ( tỷ lệ số hộ)
Trong chăn nuôi nhỏ lẻ, người dân thường ít được quan tâm và đầu tư (tiền vốn, công lao
động), chăn nuôi thường mang tính tận dụng, chính vì vậy việc thực hành các biện pháp vệ
sinh là điều mà họ ít quan tâm nhất.
Cụ thể, trước dự án, tỷ lệ những người không bao giờ rửa tay bằng xà phòng chiếm 34,725%
- 54,00%. Sau khi tham gia dự án, ý thức người chăn nuôi được nâng cao, tỷ lệ này giảm đi
chỉ còn 7,63%-10,98%, sự sai khác giữa 3 giai đoạn là đáng kể p< 0,001.

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 30 - Tháng 6 – 2011

64

Bảng 8. Thực hành rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với gia cầm (%)
Trước dự án Tác động pha 1 Tác động pha 2
Thực hành
gà vịt gà vịt gà vịt
Luôn luôn 4,92 1,00 12,47 10,53 8,17 3,66
Thường xuyên 20,47
a
10,00 32,73
b
35,79 41,14
c
43,90
Thỉnh thoảng 29,53 27,00 23,38 22,11 31,34 19,51

b
19,15 22,01
c
26,83
Thỉnh thoảng 13,05 10,89 21,30 20,21 44,29 24,39
Hiếm khi 27,42 27,72 34,29 27,66 17,12 28,05
Không bao giờ 45,69
a
54,46 24,42
b
24,47 11,68
c
17,07
Ghi chú: Theo hàng ngang những số có chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
* Quần áo riêng để dùng khi lao động (không nhất thiết là bộ quần áo bảo hộ màu xanh)
Thực hành thay dép, ủng của người chăn nuôi cũng diễn biến theo chiều hướng tích cực (Bảng
10). Trước dự án, tỷ lệ các hộ không bao giờ thay ủng hay sử dụng dày dép riêng trong chăn
nuôi chiếm tới 46,60% - 56,44%. Kết thúc pha 1 của dự án tỷ lệ này là 21,2-29,35%. Đặc biệt
sau khi kết thúc 3 năm của dự án, tỷ lệ này chỉ còn 10,9% - 14,81%. Sự sai khác giữa 3 giai
đoạn là rất rõ p<0,001.
Bảng 10. Sự thay đổi hành vi thay dép, ủng của người chăn nuôi
Trước dự án Tác động pha 1 Tác động pha 2
Thực hành
gà vịt gà vịt gà vịt
Luôn luôn 2,62 1,98 8,31 9,57 6,81 3,70
Thường xuyên 13,87 4,95 17,40 21,28 24,25 30,86
Thỉnh thoảng 8,64 8,91 17,40 14,89 38,69 22,22
Hiếm khi 28,27 27,72 27,53 32,98 19,35 28,40
Không bao giờ 46,60
a

có 355 95,43
b
78 90,70
b

Tác động pha 1

không 17 8
có 362 98,91
c
83 100,00
c

Tác động pha 2

không 4 - 0
Ghi chú: Theo cột dọc những số có chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê.
Xử lý phân gia cầm
Không dọn phân và vệ sinh chuồng trại thường xuyên cũng là một trong những đặc điểm của
chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ, vì số lượng gia cầm ít, gia cầm thả tự do lượng phân thải ra không
nhiều cho nên người dân không quan tâm đến việc dọn phân. Kết quả điều tra được thể hiện ở
Bảng 12.
Bảng 12. Xử lý phân gia cầm
Trước dự án Tác động pha 1 Tác động pha 2
Xử lý
Số hộ % Số hộ % Số hộ %
Xử lý để làm phân bón 154 40,00 209 56,95 232 60,42
Đưa đi nơi khác 158 41,58 130 35,42 115 29,95
Không bao giờ dọn 68 17,89 28 7,63 37 9,64
Trước dự án có đến 17,89% số hộ không bao giờ dọn phân gia cầm, sau khi có sự tác động bằng


Đốt 19 5,07 20 5,22 14 3,83
Nấu chín 33 8,80 28 7,31 12 3,28
Vứt bỏ 38 10,13
a
10 2,61
b
4 1,09
c

Ghi chú: Theo hàng ngang những số có chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê.
Các biện pháp giảm thiểu nguy cơ nhiễm cúm gia cầm
Nguồn thông tin về dịch cúm
Người dân nhận được thông tin về dịch cúm gia cầm từ nhiều nguồn: TV, đài, báo, truyền
thông, tờ rơi, quảng cáo….Tuy nhiên nguồn chủ yếu vẫn là từ phương tiện thông tin đại chúng
(Bảng 14)
Bảng 14. Nguồn thông tin về dịch cúm gia cầm
Trước dự án Tác động pha 1 Tác động pha 2
Nguồn thông tin
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Thông tin đại chúng 368 74,80 374 72,06 367 64,27
Cơ quan thú y 41 8,33 54 10,40 157 27,50
Người thân, hàng xóm 58 11,79 82 15,80 44 7,71
Khó trả lời 25 5,08 9 1,73 3 0,53
Qua bảng trên ta thấy, nguồn thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng có giảm dần qua
các giai đoạn, điều này có thể được giải thích như sau: hiện nay, dịch cúm gia cầm ở Việt nam
đã cơ bản được khống chế. Các ổ dịch chỉ còn xuất hiện lẻ tẻ, chính vì vậy công tác truyền
thông cũng không còn được tiến hành rầm rộ như trước nữa.
Nhận biết kiến thức phòng dịch cúm gia cầm từ thông tin đại chúng
Người chăn nuôi đã có những kiến thức nhất định trong phòng chống dịch cúm gia cầm như:

Rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với gia cầm 13,67 23,46 21,28
Nấu chín kỹ thịt gia cầm 29,72 26,76 21,28
Bảng 16. Hành động phòng chống dịch cúm gia cầm lây sang người
Thực hiện
Trước dự
án (%)
Tác động
pha 1 (%)
Tác động
pha 2 (%)
Nấu chín kỹ thịt gia cầm 37,72 28,84 29,68
Rửa tay bằng xà phòng 11,52 23,30 22,44
Tránh tiếp xúc với GC/chim chết 8,93 13,41 14,12
Tránh tiếp xúc với GC bị nhiễm bệnh 22,56 10,99 16,38
Không cho phép trẻ tiếp xúc với GC 11,05 7,01 10,41
Đến khám bác sỹ nếu phát hiện thấy triệu chứng của
bệnh cúm 1,41 2,81 1,72
Khó trả lời 4,70 1,40 0,09
Tránh tiếp xúc với GC nói chung 0,71 0,70 1,99
Gọi số máy khẩn ngay khi phát hiện gia cầm chết 0,47 0,55 3,17
Hành động của người dân chăn nuôi phòng chống dịch cúm gia cầm đã được thể hiện rõ khi
có tác động các giai đoạn của dự án.
Hành động khi nhìn thấy gia cầm chết
Sự thay đổi hành vi của người chăn nuôi khi thấy gia cầm chết (Bảng 17) thể hiện qua các giai
đoạn rất rõ: tỷ lệ người sử dụng găng tay cầm gia cầm chết trước dự án là 26,7%, sau pha 1
là 35,56% và sau pha 2 là 53,32%
Hành động khi đàn gia cầm bị ốm

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 30 - Tháng 6 – 2011

Bảng 18. Hành động của người chăn nuôi khi đàn gia cầm của gia đình bị cúm
Trước dự án Tác động pha 1 Tác động pha 2
Hành động
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
Nhốt - quây 55 13,48 239 49,48 285 79,17
Bán chạy 184 45,10 152 31,47 1 0,28
Cho người khác 6 1,47 1 0,21 0 0,00
Vứt ra mương máng 51 12,50 48 9,94 7 1,94
Báo thú y 0 0,00 1 0,21 18 5,00
Đốt, chôn 11 2,70 6 1,24 48 13,33
Cho gia súc khác ăn 101 24,75 36 7,45 1 0,28
Biện pháp bảo vệ đàn gia cầm khi có dịch cúm
Bảng 19. Các biện pháp bảo vệ đàn gia cầm khi có dịch cúm
Trước dự án Tác động pha 1 Tác động pha 2
Biện pháp
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Nuôi nhốt 74 34,74 237 38,47 232 43,45

TRẦN THỊ MAI PHƯƠNG – Tác động của các biện pháp can thiệp trong dự án IDRC …

phòng dịch cho đàn gia cầm khi có dịch sảy ra.
Can thiệp cộng đồng là biện pháp tác động có hiệu quả làm thay đổi căn bản nhận thức, thái
độ và hành vi của hộ chăn nuôi nhỏ lẻ theo hướng bền vững và giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Niên giám thống kê 2006 -Tổng cục thống kê
Bugos. S, J. Hinrich, J. Otte, D. Pfeiffer, and D. Roland Holts (2008), poulty, HPAI and livelihoods in Vietnam
– A review, Pro-poor, HPAI risk production – Implemented by FAO, Rome, July - 2008
Lebel.J (2003), Health and Ecosystem Approach, Ottawa: IDRC
Maltsoglou, I.; Rapsomanikis, G. (2005), “The Contribution of livestock to household income in Viet Nam: A
household typology based analysis.” FAO PPLPI Working paper No. 21

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -
Số 30 - Tháng 6 – 2011

70

Người phản biện: TS. Đinh Xuân Tùng; ThS. Lê Thị Hồng Thảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status