BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH VÕ THANH SƠN
ĐỀ TÀI:
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA CỘNG
ĐỒNG DÂN CƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP: TRƯỜNG HP NGHIÊN CỨU TẠI TỈNH
BẾN TRE.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ THANH SƠN
ĐỀ TÀI:
2.2 Một số khái niệm 7
2.2.1 Cộng đồng 7
2.2.2 Cộng đồng bền vững 9
2.2.3 Sự hài lòng của cộng đồng 11
2.3 Những nghiên cứu trước đây về sự hài lòng của cộng đồng 11
2.4 Tóm tắt lý thuyết sự hài lòng của cộng đồng 18
2.5 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 24
2.6 Tóm tắt 24
Chương 3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Thiết Kế Nghiên Cứu 26
3.1.1 Giới Thiệu 26
3.1.2 Xác đònh thang đo và thiết kế bảng khảo sát 28
3.1.3 Phương pháp chọn mẫu khảo sát, cỡ mẫu và cách thức thu thập thông tin.32
3.1.4 Kỹ thuật phân tích dữ liệu 33
3.2 Kết Quả Nghiên Cứu 35
3.2.1 Giới thiệu 35
3.2.2 Dữ liệu và phân tích thống kê mô tả 35
3.2.2.1 Phân theo số năm sinh sống tại đòa phương, đòa bàn xã, và KCN 35
3.2.2.2 Phân theo giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp 38
3.2.2.3 Phân theo quy mô hộ gia đình 43
3.2.2.4 Phân theo chi tiêu bình quân và nguồn thu nhập chính 43
3.2.2.5 Phân theo đối tượng kiếm thu nhập chính trong gia đình 46
3.2.2.6 Phân theo tình trạng điều kiện sinh hoạt, cơ sở hạ tầng 46
3.2.2.7 Phân theo tình trạng đất đai – nhà ở 50
3.2.2.8 Tóm tắt kết quả phân tích thống kê mô tả dữ liệu mẫu 51
3.2.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 53
3.2.3.1 Mô tả thang đo lường và số biến quan sát 53
3.2.3.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 54
3.2.3.3 Giải thích các nhân tố sau khi phân tích EFA 58
Phụ Lục DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Mô hình khái niệm thể hiện sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài
lòng của cộng đồng 19
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 27
Hình 3.2: Đồ thò phân tán (Scatter) 70
Hình 3.3: Biểu đồ Q-Q plot 70
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các thành phần ảnh hưởng đến sự hài lòng của cộng đồng 20
Bảng 3.1: Thang đo các yếu tố tác động đến sự hài lòng của cộng đồng 29
Bảng 3.2: Đòa bàn nghiên cứu, cỡ mẫu khảo sát và tỷ lệ chọn mẫu 32
Bảng 3.3: Mô tả dữ liệu mẫu phân theo số năm sinh sống tại đòa phương, đòa bàn
xã và KCN 36
Bảng 3.4: Mô tả mẫu dữ liệu dùng cho các phân tích 37
Bảng 3.5: Mô tả dữ liệu mẫu phân theo giới tính 38
Bảng 3.6: Mô tả dữ liệu mẫu phân theo nhóm tuổi của chủ hộ 38
Bảng 3.7: Mô tả dữ liệu mẫu phân theo trình độ học vấn của chủ hộ 39
Bảng 3.8: Mô tả dữ liệu mẫu phân theo nghề nghiệp của chủ hộ 40
Bảng 3.9: Nghề nghiệp và trình độ học vấn của chủ hộ 41
Bảng 3.10: Kiểm đònh mối quan hệ giữa trình độ học vấn và nghề nghiệp của
chủ hộ 42
Bảng 3.11: Mô tả dữ liệu mẫu phân theo quy mô hộ gia đình 43
Bảng 3.12: Mô tả dữ liệu mẫu phân theo chi tiêu bình quân/tháng 43
dụng như một phương thức hiệu quả nhất huy động các nguồn lực trong và ngoài
nước, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách so với các nước
phát triển, tạo động lực thúc đẩy quá trình hội nhập. Là một quốc gia thuộc
nhóm nước chậm phát triển, Việt Nam không nằm ngoài xu hướng phát triển nói
trên. Hơn 20 năm qua, cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện nền kinh tế, quá
trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp đã tạo ra một hệ thống kết
cấu hạ tầng mới hiện đại, góp phần từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dòch cơ cấu kinh tế, giải quyết
hàng triệu việc làm, tạo thu nhập và giảm tình trạng nghèo đói [8].
Trong xu hướng chung cùng các tỉnh, thành khác trong khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long, tỉnh Bến Tre cũng đã và đang lựa chọn con đường chuyển đổi cơ
cấu kinh tế từ một tỉnh thuần nông sang hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dòch
vụ thông qua đẩy mạnh phát triển các Khu công nghiệp là nhân tố tạo động lực
cho phát triển kinh tế xã hội, giải quyết công ăn việc làm và sinh kế cho cư dân
đòa phương. Cho đến nay, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu trong nước đã chỉ ra nhiều vấn đề còn tồn tại như: phát
triển KCN chưa gắn kết với quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; nhiều
KCN được hình thành nhưng rất ít hỗ trợ trực tiếp cho phát triển nông nghiệp,
nông thôn; tình trạng nóng vội trong thu hút đầu tư dẫn đến chất lượng quy
2
hoạch thấp, công tác đền bù giải phóng mặt bằng còn nhiều yếu kém bất cập, đã
đẩy người nông dân vào hoàn cảnh thiếu việc làm, không có nơi ở ổn đònh, làm
nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, không
đảm bảo phát triển hài hòa giữa phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc
sống của cộng đồng đòa phương. Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu cũng
chỉ dừng lại ở mức độ mô tả hoặc thiếu những bằng chứng dựa trên nền tảng
phân tích đònh lượng từ những số liệu khảo sát thực tế, cũng như chưa phân tích
đầy đủ và có hệ thống về mối quan hệ nhân quả này. Ngoài ra, hiện nay vẫn
còn thiếu những công trình đi sâu nghiên cứu về tác động của quá trình phát
triển của các khu công nghiệp đối với cộng đồng dân cư xung quanh là những
nhà hoạch đònh chính sách, các cấp quản lý tập trung giải quyết và cải thiện về
những vấn đề mà cộng đồng dân cư đòa phương quan tâm để hướng đến sự dung
hoà của việc phát triển kinh tế, xã hội với lợi ích và sự hài lòng của những đối
tượng vừa chòu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, vừa thụ hưởng lợi ích từ
những chính sách này.
1.3 Câu Hỏi Nghiên Cứu
- Những yếu tố nào tác động đến sự hài lòng của cộng đồng dân cư gắn với KCN
từ những tác động phát triển các KCN?
- Kết quả đánh giá mức độ hài lòng của cộng đồng dân cư gắn với KCN sẽ gợi ý
những chính sách nào cho các cấp quản lý cũng như đóng gópï gì đến quá trình
phát triển các KCN ở tỉnh Bến Tre?
1.4 Mục Tiêu Nghiên Cứu
1. Hệ thống hoá các mô hình lý thuyết về sự hài lòng của cộng đồng.
2. Xác đònh các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của cộng đồng dân cư
gắn với KCN.
3. Gợi ý giải pháp, chính sách phù hợp với lợi ích và gia tăng sự hài lòng của
cộng đồng dân cư đòa phương gắn với KCN.
4
1.5 Đối Tượng Và Phạm Vi Nghiên Cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những đối tượng được khảo sát trong đề tài nghiên cứu này là những cá
nhân/chủ hộ của những hộ gia đình tại đòa phương phân theo đòa giới hành chính
cấp xã đã có KCN của tỉnh Bến Tre.
- Thêm vào đó, thông tin và dữ liệu điều tra sẽ được tiến hành chọn lọc
đối với những cá nhân/hộ gia đình có số năm sống tại đòa phương từ 5 năm trở
lên trước khi tiến hành cuộc khảo sát (tức đã sinh sống tại đòa phương từ trước
năm 2005 là thời gian bắt đầu có quyết đònh thành lập và xây dựng KCN tại đòa
phương) và không phân biệt dân nhập cư hay dân đòa phương. Việc giới hạn đối
Quyết đònh thành lập: 1934/QĐ-UB của UBND tỉnh Bến Tre ngày 06/10/2008.
Tổng diện tích: 72 ha. Diện tích đất công nghiệp: 48,73 ha (giai đoạn 2 mở rộng
thêm 120 ha). Diện tích đã cho thuê: 34,86 ha. Đòa điểm: xã An Hiệp, huyện
Châu Thành, cách trung tâm thành phố Bến Tre 12km; cách Tp.HCM 90km;
nằm cạnh sông Hàm Luông.
Ngành nghề thu hút đầu tư: Chế biến các sản phẩm từ thủy hải sản, chế
biến hàng nông sản của đòa phương; sản xuất thức ăn thủy sản, gia súc và các
ngành công nghiệp khác.
1.6 Phương Pháp Nghiên Cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua 2 giai đoạn:
§ Giai đoạn 1: Nghiên cứu đònh tính nhằm xây dựng và phát triển hệ thống
khái niệm/thang đo lường và các biến nghiên cứu từ đó tiến hành xây
dựng bảng câu hỏi điều tra khảo sát.
6
§ Giai đoạn 2: Nghiên cứu đònh lượng: tiến hành thu thập khảo sát, phân
tích dữ liệu, ước lượng và kiểm đònh các mô hình nghiên cứu thông qua
các kỹ thuật: thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá (EFA), ước
lượng và kiểm đònh mô hình hồi quy bội, và các phân tích khác bằng phần
mềm SPSS for Window 16.0.
1.7 Kết Cấu Của Đề Tài: gồm 4 chương
§ Chương 1: Phần mở đầu
Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, ý nghóa thực tiễn của đề tài,
câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, xác đònh đối tượng và phạm vi
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.
§ Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Trình bày hệ thống hoá các cơ sở lý thuyết và các kết quả của những
nghiên cứu trước đóù có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài. Qua
đó xác đònh các thang đo; phát triển các giả thuyết nghiên cứu và xác lập
mô hình nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của cộng đồng dân cư gắn
với Khu công nghiệp trong thực tế.
- Theo Tô Duy Hợp; Lương Hồng Quang (2000) [4]: “cộng đồng” là một
khái niệm xã hội có nhiều tính chất khác nhau. Cũng như nhiều khái niệm xã
hội học khác như cơ cấu xã hội, khuôn mẫu, văn hóa, gia đình hay thiết chế xã
hội…tình trạng đa nghóa của khái niệm cộng đồng đã làm cho khái niệm này
không được hiểu một cách rõ ràng. Khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách
tương đối rộng rãi trong đời sống xã hội. Ý nghóa phổ biến nhất là mang ý niệm
8
về cộng đồng dân tộc, các liên minh rộng hơn như cộng đồng thế giới, cộng đồng
các quốc gia, cộng đồng khu vực đòa lý. Ở quy mô nhỏ hơn, khái niệm cộng đồng
được hiểu như là một dạng xã hội căn cứ vào những đặc tính sắc tộc, tôn giáo,
chủng tộc…Nhỏ hơn nữa, khái niệm cộng đồng được sử dụng cho các đơn vò xã
hội cơ bản như: hộ gia đình, làng, xóm, hay một nhóm xã hội nào đó có những
đặc tính chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính, tập quán …
- Wilkinson (1991): [33] trong lónh vực nghiên cứu về cộng đồng đã tranh
luận rằng cộng đồng là một cấu trúc chòu sự tương tác, ảnh hưỡng lẫn nhau mà
thông qua đó những cư dân có thể đáp ứng được những nhu cầu và lợi ích của
họ.
- Theo Ron Shaffer, Steve Deller, Dave Marcoiller (2006) [29]: “Cộng
đồng” là một khái niệm không đònh hình, thường được đònh nghóa là một nhóm
hay một đơn vò có chung một số đặc điểm hay mối quan tâm nhất đònh. Tuy
nhiên, yếu tố không gian ở đây đóng vai trò then chốt. Có tối thiểu 03 cách khác
nhau để đònh nghóa về một cộng đồng có không gian của nó. Cách thứ nhất là
đònh nghóa cộng đồng mà yếu tố không gian đóng vai trò chủ đạo. Cách thứ hai,
đònh nghóa cộng đồng như là một nhóm có chung mối quan tâm mà ở đó không
gian đóng vai trò rất nhỏ. Cách thứ ba, cộng đồng là một đơn vò ra quyết đònh
logic có thể có hoặc không nhất thiết phải có yếu tố không gian. Cách thứ ba
bao hàm cả hai đònh nghóa ban đầu nhưng nhấn mạnh đặc điểm rằng một cộng
đồng có thể đưa ra và thực hiện quyết đònh. Nói chung, cách đònh nghóa này
nhắm tới các thực thể chính trò, với các hành động tập thể được tiến hành thông
qua một khu vực dân cư, họ hàng, xóm giềng, hay những tổ chức.
10
cung cấp những dòch vụ tốt cho tất cả mọi người. Họ đạt được điều này bằng
cách thức sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, cải thiện môi trường,
thúc đẩy sự gắn kết xã hội, tăng cường sự thònh vượng về kinh tế”. Để cộng
đồng đó được gọi là bền vững phải đáp ứng được: Nhà ở khang trang với mức
giá cả mà mọi người dân đủ khả năng tiếp cận; Hệ thống giao thông công cộng
tốt; có trường học; bệnh viện; cửa hàng dòch vụ; và môi trường trong sạch an
toàn.
Với cách hiểu này, báo cáo đã đúc kết 8 thành phần trọng tâm cấu thành một
“cộng đồng bền vững” như sau:
1. Chính quyền quản lý: Đóng vai trò điều hành và quản lý cộng đồng hiệu
quả, trong đó có sự tham gia, đại diện và lãnh đạo.
2. Giao thông và liên lạc: Cộng đồng phải được liên kết tốt bằng hệ thống
truyền thông và dòch vụ giao thông tốt để kết nối người dân với công việc,
y tế và các dòch vụ khác.
3. Mọi người dân có thể sử dụng được các dòch vụ tình nguyện, dòch vụ cộng
đồng, dòch vụ công, dòch vụ tư nhân.
4. Môi trường: cung cấp nơi ở cho dân cư được sinh sống trong một môi
trường trong lành, thân thiện.
5. Bình đẳng: Công bằng cho tất cả mọi người, cho cộng đồng hiện tại và
trong tương lai.
6. Kinh tế: nền kinh tế đòa phương tăng trưởng và thònh vượng.
7. Nhà ở và xây dựng môi sinh (đất, nước, không khí, sông ngòi) chất lượng
cao.
8. Hoạt động văn hoá – xã hội: có văn hoá lành mạnh mang bản sắc đòa
phương, và các hoạt động chia sẽ khác trong cộng đồng.
11
2.2.3 Sự hài lòng của cộng đồng (Community satisfaction)
hi đề cập về khái niệm sự hài lòng của cộng đồng, Knop và Steward
(1973) [19]:
- Jesser (1967) [16] tranh luận rằng nghề nghiệp của người dân sẽ ảnh
hưởng đến sự hài lòng của cộng đồng. Dựa trên nghiên cứu trước đây của Davies
(1945), Jesser đã xây dựng chỉ số hài lòng của cộng đồng để nghiên cứu về mức
độ hài lòng giữa những người có tay nghề trong các vùng nông thôn. Jesser kết
luận rằng, mức độ tham gia xã hội của người dân, số lượng dân cư di chuyển, và
quy mô cộng đồng là những yếu tố tác động đến sự hài lòng của cộng đồng.
Trong khi đó, những yếu tố khác như thu nhập, giáo dục, giới tính, tuổi tác và nơi
sinh thì có ảnh hưởng không đáng kể đến mức độ hài lòng.
- Johnson và Knop (1970) [17]
đã tiến hành phân tích nhân tố lồng ghép
các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong các nghiên cứu trước đó của Davies
(1945) và Jesser (1967). Họ nhận thấy rằng sự hài lòng là một biến số đa chiều/
đa khía cạnh. Johnson và Knop đã thừa nhận rằng khu vực thành thò tạo cơ hội
lợi thế chắc chắn về nghề nghiệp, chăm sóc y tế, và các dòch vụ thương mại;
ngược lại khu vực nông thôn thì có điều kiện thuận tiện trong các mối quan hệ
xã hội và cộng đồng. Đó là những yếu tố tác động đến sự hài lòng của người dân
đối với cộng đồng của mình phân theo khu vực thành thò và nông thôn.
- Marans và Rodger (1975) [21] đề xuất rằng sự hài lòng của cộng đồng
có thể được xem như là một bộ phận của khái niệm rộng hơn, đó là chất lượng
cuộc sống. Các tác giả đưa ra gợi ý: nếu khái niệm sự hài lòng về cuộc sống là
một khái niệm đầy đủ ý nghóa và hữu ích, thì mối quan hệ của sự hài lòng với
cộng đồng để đo lường sự hài lòng trong cuộc sống sẽ là một lợi ích đáng để
quan tâm. Trong sự so sánh với những khía cạnh khác của cuộc sống đã trải
13
nghiệm qua, cộng đồng và những thành phần của nó là đối tượng có tiềm năng
chi phối đến những người làm chính sách. Ở một mức độ nhất đònh, sự hài lòng
của một cá nhân đối với cộng đồng có thể tác động đến sự hài lòng không những
về đòa vò xã hội của cá nhân đó, mà còn ảnh hưởng đến sự hài lòng về mọi mặt
đời sống của họ. Vì vậy cần phải nhân rộng hơn nữa tầm quan trọng của các
phương pháp đo lường về sự hài lòng của cộng đồng. Trong nghiên cứu của
hệ nhóm cơ bản, sự cam kết của cộng đồng, khả năng tồn tại/sinh sống, tính
không đồng nhất trong cộng đồng, sự phân chia quyền lực, và niềm tự hào về
cộng đồng của người dân. Bên cạnh đó, mô hình của Goudy còn được bổ sung
thêm các yếu tố về đặc điểm cá nhân. Goudy (1977) kết luận rằng hầu hết
những cư dân tìm thấy sự hài lòng với cộng đồng của mình, đó là nơi mà họ cho
rằng có những mối quan hệ họ hàng, quan hệ nhóm cơ bản tốt và bền vững, nơi
mà người dân đòa phương được tham gia và tự hào với tư cách một công dân, nơi
mà việc ra quyết đònh được chia sẽ, nơi mà những người dân nhận được sự quan
tâm và cam kết từ phía cộng đồng.
- Howard Ladewig và Glenn C. MC. Cann (1980) [20] trong nghiên cứu
về lý thuyết và đánh giá mức độ hài lòng của cộng đồng đã đưa ra mô hình nhân
quả xác đònh 20 yếu tố tác động đến sự hài lòng của người dân về cộng đồng.
Bằng kỹ thuật phân tích nhân tố xác đònh được 3 nhóm nhân tố chính gồm: khả
năng tiếp cận các cơ hội của người dân (accessibility); trách nhiệm của các tổ
chức, thể chế (institutional function); và tính hiệu quả của chính quyền đòa
phương (political efficacy) [xem phụ lục 1]. Các tác giả kết luận rằng yếu tố khả
năng tiếp cận là yếu tố tác động trực tiếp nhiều nhất đến sự hài lòng của người
dân, cụ thể hơn đó là những đánh giá của người dân về những cơ hội được tiếp
15
ục học hành; có được công việc và nghề nghiệp ổn đònh; việc làm và những cơ
hội dành cho những người trẻ tuổi, người lớn tuổi và cả những người thiếu may
mắn; thu nhập tiền lương; sự tiện lợi của giao thông và đường sá; những tiện ích
công cộng; nhà ở tốt…là những yếu tố đóng góp tích cực cho hầu hết những trải
nghiệm đánh giá chủ quan của người dân về mức độ hài lòng của họ. Ngoài ra,
các tác giả còn cho rằng yếu tố phương tiện truyền thông đại chúng cũng ảnh
hưởng đến sự hài lòng của người dân, bởi khi tiếp cận được nhiều thông tin, được
quan tâm và chia sẽ những mối bận tâm chung về cộng đồng và nơi mà họ đang
sinh sống thì những nhận thức đánh giá về cộng đồng của người dân cũng sẽ gia
tăng độ hài lòng tương ứng với những thông tin mà họ tiếp cận được.
- Wilkinson (1991) [33]
nghiên cứu của Brown chỉ ra rằng sự hài lòng về việc làm là biến số kinh tế
quan trọng nhất trong việc xác đònh mức độ hài lòng và gắn kết với cộng đồng,
trong khi yếu tố hài lòng về thu nhập thì không có ý nghóa tác động đến mức độ
hài lòng và gắn kết với cộng đồng.
- Robert Nurick và Victoria Johnson (1998) [23]
trong một nghiên cứu
đánh giá tác động của hoạt động công nghiệp dựa trên cộng đồng đã xây dựng
các chỉ tiêu cho việc đònh lượng và đánh giá tác động của hoạt động công nghiệp
đến các cộng đồng dân cư gần kề các khu công nghiệp [xem phụ lục 3]. Những
cư dân xung quanh được phỏng vấn về tác động của công nghiệp đến các khía
cạnh cụ thể về môi trường, xã hội, và kinh tế đối với cộng đồng dân cư lân cận.
Kết quả thu được từ một phần nghiên cứu về những mối quan tâm đến chất
lượng cuộc sống, trong đó những người được khảo sát đã cho biết nhận thức của
họ và liệt kê ra những yếu tố mang tính tích cực và tiêu cực từ những tác động
17
của hoạt động công nghiệp. Nghiên cứu này rất có ích cho việc xác đònh và đánh
giá những tác động tiềm tàng của các khu công nghiệp đến cộng đồng xung
quanh.
- Theo Rebeca Filkins, John C. Allen, Sam Cordes (1999)
[14]: sự hài lòng
của cộng đồng thường được liên kết bởi mức độ hài lòng của cư dân về các yếu
tố như cơ sở hạ tầng của cộng đồng; các cơ hội việc làm và thu nhập; các mạng
lưới hỗ trợ xã hội, và các mối quan hệ ràng buộc xã hội với bạn bè, người thân
họ hàng, và những người dân nói chung trong cộng đồng; Trong nghiên cứu của
mình, các tác giả sử dụng mô hình hồi quy để đánh giá các nhân tố tác động đến
sự hài lòng của cộng đồng dựa trên 4 nhóm nhân tố: sự thoả mãn về tinh
thần/quan hệ cá nhân; sự thoả mãn về kinh tế của cá nhân (thu nhập cá nhân,
việc làm, đảm bảo tài chính khi nghỉ hưu); các đặc điểm cá nhân của người khảo
sát (tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, thu nhập hộ gia đình, số năm sống tại đòa
phương); các thuộc tính chung của cộng đồng (các thuộc tính xã hội: thân thiện,