1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế giới này luôn tồn tại nghững vấn đề gây tranh cãi, và môi trường
không phải là ngoại trừ. Nhân loại đang thay đổi khí hậu của trái đất quá nhanh.
Môi trường rất cần thiết cho cuộc sống của con người. Môi trường cung cấp
cho con người những điều kiện sống (như ăn ở,mặc hít thở….) Nếu không có
điều kiện đó con người không thể sống tồn tại và phát triển được. Môi trường là
một vấn đề lớn và một trong những vấn đề quan trọng nhất đang xảy ra trên thế
giới của chúng ta. Như chúng ta đã biết, hiện nay sự nóng lên của trái đất bởi
các chất gây “hiệu ứng nhà kính” đã trở thành vấn đề môi trường có tính nóng
của toàn cầu.
Trong bối cảnh toàn cầu nói chung môi trương đang bị ô nhiễm trầm
trọng đặc biệt là ở các nước đang phát triển, Việt Nam cũng nằm trong tình
trạng này trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế. Do vậy, bảo vệ môi
trường là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng và nhà nước ta rất
quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp
hóa và hiện đại hóa đất nước. Để có một sự phát triển bền vững cần phải có
một chương trình hành động thống nhất và có thể bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa
phát triển sản xuất với công tác bảo vệ và kiểm soát môi trường. Nếu không có
một chính sách đúng đắn về bảo vệ môi trường, nền kinh tế sẽ bị thiệt hại về
trước mắt và lâu dài cũng như ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống sinh hoạt của
người dân. Đồng thời sự phát triển của đất nước cũng thiếu bền vững. Nhất là
trong những năm gần đây do nền kinh tế phát triển nước ta đang đi lên con
đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đã đẩy mạnh quá trình đô thị hóa dẫn đến
tình trạng môi trường đô thị ngày càng ô nhiễm.
Trong những năm gần đây tốc độ phát triển đô thị cũng như công nghiệp
hóa trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh diễn ra rất nhanh chóng, trong khi đó các
công trình hạ tầng kỹ thuật như giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, xử lý
nước thải, thu gom và xử lý rác thải… không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu
phát triển đô thị và sự gia tăng dân số. Do nguồn ngân sách của nhà nước có
4.1. Đối tưọng nghiên cứu
Thực trạng ô nhiễm môi trường ở thành phố Hà Tĩnh và một số giải pháp
khắc phục
3.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu trên 10 phường, xã của thành phố Hà Tĩnh và một số vùng lân
cận xung quanh thành phố Hà Tĩnh.
5. Giả thuyết khoa học
Với sự cố gắng không hề mệt mỏi nghiên cứu đề tài này. Chúng tôi hy
vọng nếu đề tài thành công và đi vào cuộc sống thì sẽ phần nào giải quyết được
cơ bản tình hình ô nhiễm môi trường ở thành phố Hà Tĩnh góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống cho người dân sống nơi đây.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nguyễn Thị Tý
4
6.1. Hệ thống hoá các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài nghiên
cứu: Thực trạng ô nhiễm môi trường của thành phố Hà Tĩnh.
6.2. Khảo sát đánh giá thực trạng ô nhiêm môi trương ở thành phố Hà
Tĩnh và các yếu tố ảnh hưởng tình trạng ô nhiễm môi trường ở thành phố Hà
Tĩnh
6.3. Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện tình trạng ô
nhiễm môi trường ở đây.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Vì điều kiện thời gian không cho phép nên đề tài chỉ được tiến hành
nghiên cứu trên 10 phường xã và một số vùng lân cận của thành phố Hà Tĩnh.
- Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lí luận về thực trạng ô
nhiễm môi trường và khảo sát thực trạng, bước đầu đề xuất một số biện pháp
tác động.
8. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các nhóm phương pháp sau :
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Phương pháp phân
động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để
xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài
Nguyễn Thị Tý
6
nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá
các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người
thêm phong phú.
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như:
Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã
hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên
sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người
khác với các sinh vật khác.
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao
gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong
cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên
nhân tạo.
1.1.2.Khái niệm ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường: Là sự làm thay đổi không có lợi cho môi trường
sống về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của không khí, đất, nước mà có
thể gây tác dụng tức thời hoặc trong tương lai nguy hại đến sức khỏe con
người, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, tài sản văn hóa, tổn thất hủy hoại tài
nguyên dự trữ. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trương là kết quả của 3 yếu tố:
Quy mô dân số, mức tiêu thụ tính theo đầu người, tác động của môi trường.
Trong đó quy mô dân số là quan trọng nhất.
Độ ô nhiễm = quy mô dân số x mức tiêu thụ / người x tác động môi
trường
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải
hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe
dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển
khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa
làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được. Kết quả là
làm cho hàm lượng oxi trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ
Nguyễn Thị Tý
8
đục của nước, gây suy thoái thủy vực. Ở các đại dương nguyên nhân chính gây
ô nhiêm môi trường đó la sự cố tràn dầu ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các
loại chất thải và chất thải công nghiệp được thải ra các con sông mà chưa qua
khâu xử lý đúng mức, các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu ngấm dần vào
nguồn nước ngầm và nước ao hồ nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu
dân cư sống ven sông.
1.2.3. Ô nhiễm môi trường không khí: Ô nhiễm môi trường không khí
là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần
không khí, làm cho không khí mất trong lành hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi
khó chịu, giảm tầm nhìn xa do khói bụi. Hiện nay, ô nhiễm môi trường khí
quyển là vấn đề thời sự rất nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải của riêng
một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có
ảnh hưởng xấu đến con người và hệ sinh vật trên trái đất này. Hàng năm con
người khai thác và sữ dụng hàng tỉ tấn than đá, đầu mỏ, khí đốt. Đồng thời
cũng thải ra môi trường một khối lượng rất lớn các chất thải khác nhau như:
Chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng
các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.
1.2.4. Ô nhiễm phóng xạ: Ô nhiễm phóng xạ do các chất phóng xạ gây
ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
1.2.5. Ô nhiễm tiếng ồn: Ô nhiễm tiếng ồn bao gồm tiếng ồn do xe cộ,
máy bay, tiếng ồn công nghiệp và các loại máy móc cơ khí khác.
1.2.6. Ô nhiễm sóng: Là do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền
hình…. Tồn tại với mật độ lớn.
2. Thực trạng về môi trường ở thành phố Hà Tĩnh.
trên địa bàn Tp Hà Tĩnh cũng bị rác thải hành hạ. Ở các khu tập trung đông
người như chợ, trường học, bệnh viện, điểm chờ xe buýt… đều xuất hiện các
đống rác lớn. Rác lâu ngày không được bốc đi, lại gặp thời tiết nắng nóng, mưa
nên bốc mùi hôi bao trùm lên hầu hết các khu dân cư trong Tp. Để đối phó với
rác người dân phải đóng kín cửa suốt ngày. Bên cạnh đó, các hộ dân phải tự xử
lý các đống rác bằng cách gom lại đem đốt, khói bốc mù mịt nhưng đỡ hôi hơn.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, nguyên nhân dẫn đến thời gian gần đây Tp Hà
Nguyễn Thị Tý
12
Tĩnh ngập chìm trong rác là do người dân khối Văn phúc (p.Văn Yên) tập trung
ra đường chặn không cho các xe chở rác của Cty Quản lý công trình đô thị Hà
Tĩnh đưa rác vào bãi rác Đập Chùa trên địa bàn phường để xử lý. Có mặt tại
phố Văn phúc, rất nhiều người dân từ trẻ con đến người già tập trung tại những
chiếc lán nhỏ dựng tạm bên đường để chặn xe. “Bãi rác nằm ngay cạnh nhà, họ
đổ rác rồi xử lý rất sơ sài gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường sống.
Rác thải và xử lý rác thải là một đề tài quen thuộc của người dân và
chính quyền các cấp tại tỉnh Hà Tĩnh nhiều năm nay. Người dân bức xúc vì
hàng ngày phải chung sống với ô nhiễm, còn chính quyền thì loay hoay nhiều
năm nay mà vẫn chưa tìm được vị trí để xây nhà máy xử lý rác. Dây chuyền
nhà máy xử lý rác được nhập về lại phải chịu một nghịch lý là nằm “đắp chiếu”
năm này qua năm khác do không có địa điểm lắp đặt. Còn bãi chôn lấp rác Đập
Chùa tại p.Văn Yên chỉ là phương án “chữa cháy” mà chính quyền Tp Hà Tĩnh
đưa ra trong quá trình chờ xây dựng nhà máy xử lý rác mới.
Tuy nhiên, sau gần 10 năm hoạt động, bãi chôn lấp này đã rơi vào tình
trạng quá tải, gây ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của
hàng ngàn hộ dân. Bởi vậy mới dẫn đến việc người dân chặn xe vào bãi chôn
lấp rác làm Tp Hà Tĩnh trở bãi chứa rác thải trong thời gian qua. Rõ ràng những
nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng trên chính lại là do sự thiếu tầm nhìn
trong quy hoạch xây dựng nhà máy xử lý rác của chính quyền tỉnh Hà Tĩnh.
Hiện tại trên địa bàn 10 phường xã trong thành phố mới chỉ có rất ít bãi
vận chuyển rác. Đối với những trường hợp cố tình vi phạm sẽ có biện pháp xử
lý nghiêm.
Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm nhưng ô nhiễm môi trường mà nó để
lại trên địa bàn Hà Tĩnh còn khá nặng nề và không biết bao năm nữa mới xử lí
xong. Theo báo cáo từ ngành chức năng, xăng dầu bị vỡ đường ống do bom
đạn trong chiến tranh đã ngấm sâu vào lòng đất, gây ô nhiễm môi trường đất,
nước, không khí.
Nguyễn Thị Tý
14
Thêm vào đó, các tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật độc hại trong thời kỳ
chiến tranh với số lượng khoảng trên 10 tấn và 1000 lít dạng nước (DDT, 666)
tại các vùng ven thành phố như: Thạch Lưu (Thạch Hà), Cẩm Thành (Cẩm
Xuyên), Vĩnh Lộc (Can Lộc)… đã gây ô nhiễm nặng nề đến môi trường đất,
nguồn nước, làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và đời sống sinh hoạt hàng
ngày, hàng giờ của người dân.
Một đoạn đường vắng nhà trở thành bãi rác
Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ các khu công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, các cở sản xuất, các làng nghề, các dự án… trên địa bàn là sự đầu
tư xây dựng chưa đồng bộ, chưa thoả đáng hệ thống xử lí chất thải; nhiều cơ sở
sản xuất có công nghệ cũ kỹ, lạc hậu chưa được thay thế hay ngại tốn kém mà
bỏ qua khâu xử lí đang gây bất bình tại nhiều khu dân cư cũng góp phần đáng
kể đến tình trạng ô nhiễm môi trường trong và ngoài tỉnh.
Đồng hành với những khó khăn, thách thức trong việc giải quyết tình
trạng ô nhiễm môi trường do thiên tai, bão lũ… hằng năm, chất thải y tế chưa
được xử lí đang thật sự làm đau đầu các ngành chức trách. "Ô nhiễm môi
trường do chất thải y tế chưa được xử lí gây ra dù chưa có thống kê nào nhưng
Nguyễn Thị Tý
15
thật sự không thể xem thường" - một cán bộ ngành y tế cảnh báo. Toàn thành
phố hiện có 2 bệnh viện lớn và một số bệnh viên tư nhân và rất nhiều trạm y tế
hàng chục tấn rác thải các loại, làm ô nhiễm thành phố ảnh hưởng đến sức khỏe
và đời sống của nhân dân. Thực trạng trên đã kéo dài từ hàng nhiều năm qua và
đã được các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương nhận thấy nhưng vẫn
chưa đưa ra được giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn hoặc làm hạn chế mức độ ô
nhiễm. Với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, nhu cầu trao đổi, mua bán tại các
khu chợ diễn ra mạnh mẽ, lượng hàng ngày càng lớn và lượng rác thải cũng
theo đó mà tăng lên.
3.3. Ô nhiễm không khí do khí thải
Những năm gần đây, số lượng phương tiện giao thông cơ giới ở thành
phố Hà Tĩnh tăng lên chóng mặt. Trung bình lượng tăng ô tô hàng năm là 5
-10%, xe máy xấp xỉ 15%. Sự gia tăng về số lượng các phương tiện tham gia
giao thông là nguyên nhân làm gia tăng lượng khí thải vào không khí, gây ra
tình trạng ô nhiễm khí thải giao thông càng trở nên trầm trọng.
Theo kết quả quan trắc những năm gần đây lượng khí CO
2
, SO
2
, C
6
H
6
,
CO và các khí thải độc hại khác vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép và ngày
càng gia tăng, có tác động tiêu cực tới con người và môi trường.
Mặt khác thành phố Hà Tĩnh có quốc lộ 1A đi qua vì thế hằng ngày
thành phố Hà Tĩnh phải đón nhận hàng nghìn xe ô tô và xe máy đi qua vì thế
môi trường không khí ở đây đã ô nhiễm lại càng ô nhiễm thêm trầm trọng. Đặc
biệt là đoạn đường Hà Huy Tập và đường Trần Phú có hiện tượng xe chở đất đá
không phủ bạt vì thế rơi vãi đầy đường làm cho không khí ở đây bị ô nhiễm
nghiêm trọng
Nguyễn Thị Tý
18
ta gây ra. Trong vòng 10 năm trở lại đây, các thảm hoạ tự nhiên như bão xoáy,
lụt lội, hạn hán…ngày càng tăng nhanh cả về tần suất lẫn cường độ như: Trận
lũ lịch sử xẩy ra vào năm 2002 ở Hương Sơn đã cướp đi hơn 100 sinh mạng và
thiệt hại về kinh tế hàng ngàn tỷ đồng, trận hạn hán lịch sữ ở miền Trung nói
chung và ở Hà Tĩnh nói riêng vào tháng 6/2010 nhiệt độ trung bình > 37
0
C
nhiệt độ trong ngày có lúc lên tới gần 41
0
C đã gây rất nhiều khó khăn cho cho
người dân và thiệt hại về kinh tế là rất lớn, lũ lụt lịch sử ở 3 tỉnh Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình vào tháng 10/2010 đã cướp đi gần 100 con người và thiệt hại
không dưới 10 ngàn tỷ đồng. Đó là những con số thống kê sơ bộ trong phạm vi
hẹp.
4.1 Tác hại của ô nhiễm môi trường về mặt tự nhiên.
Mỗi khi mùa mưa, nước từ các cống ven đường người dân lội phải nước
ấy thì về nhà bị nhứa ngáy rất khó chịu, phải rửa ngay bằng xà phòng diệt
khuẩn. Một số trẻ em ở đây bị bệnh về tai mũi họng về phổi và đường hô hấp.
Người già không bao giờ ngủ ngon giấc vì cái mùi hôi và tiếng ồn của xe cộ. Ai
cũng lo lắng cho sức khỏe của mình vì thế mỗi khi ra đường người dân phải
luôn mang theo khẩu trang rất bất tiện. Nước giếng cho mùi hôi tanh, bỏ giếng
này khoan giếng khác nhưng vẫn không thoát khỏi mùi hôi. Ví dụ như hộ bà
Nguyễn Thị Hường ở số nhà 12 khối phố 5 phường Đại Nài đã khoan đến 3 cái
giếng nhưng nước giếng vẫn không sử dụng được. Về lâu dài nếu tình trạng ô
nhiễm không được khắc phục thì không ai giám khẳng định là nhiều người dân
ở cạnh khu vực ô nhiễm không bị mắc phải các chứng bệnh hiểm nghèo. Ô
nhiễm môi trường không những gây tác hại đến nguồn nước ngầm, hơi nước từ
kênh, sông, nơi gần khu vực bị ô nhiễm bốc lên tạo nên sức tàn phá các vật
A/H1N1), thúc đẩy quá trình đột biến của virut gây bệnh cúm A/H1N1, H5N1
nhanh hơn. Các hoạt động của con người đã gây biến đổi hệ sinh thái cả ở trên
cạn và dưới nước, săn bắn trái phép làm giảm đáng kể, thậm chí gây diệt vong
Nguyễn Thị Tý
20
một số loài thú hiếm, phát thải khí nhà kính ngày càng tăng là nguyên nhân chủ
yếu của xu thế ấm lên toàn cầu, tầng ozon bị phá huỷ dẫn đến sự tăng cường độ
bức xạ tử ngoại trên mặt đất, là nguyên nhân gây bệnh ung thư da và các bệnh
về mắt.
4.3. Tác hại của ô nhiễm môi trường đối với hệ sinh thái
• Điôxít lưu huỳnh và các ôxít nitơ có thể gây mưa axít làm giảm độ pH
của đất.
• Đất bị ô nhiễm có thể trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng.
Điều này sẽ ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn.
• Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để
thực hiện quá trình quang hợp.
• Các loài xâm lấn có thể cạnh tranh chiếm môi trường sống và làm nguy
hại cho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học.
Khí CO
2
sinh ra từ các nhà máy và các phương tiện qua lại còn làm tăng
hiệu ứng nhà kính. Trái Đất ngày một nóng dần lên. Phá hủy dần các khu du
lịch tự nhiên mà nó sẵn có.
4.4. Tác hại của ô nhiễm môi trường đối với kinh tế.
Môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí bị ô nhiễm sẽ
tác động rất lớn đến nền kinh tế của thành phố Hà Tĩnh. Nhiệt độ tăng nhanh
làm ảnh hưởng đến khu hệ sinh VSV đất phân giải chất hữu cơ và nhiều trường
hợp làm đất chai cứng, mất chất dinh dưỡng nhiệt độ tăng làm giảm lượng O
2
và quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ tiến hành theo kiểu ky khí tạo ra nhiều
thuật tổng hợp (nông học, sinh học, hóa học, cơ học ) và đầu tư thâm canh sử
dụng đất theo chiều sâu; trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế, thương mại cao
nhưng ít phải xới xáo đất và thực hiện các hệ thống nông - lâm - súc kết hợp ở
vùng đất dốc, giữ cân bằng sinh thái và điều hòa các tác động lẫn nhau giữa
đồng bằng và miền núi; tái tạo lớp phủ thực vật bằng cây rừng hoặc tổ hợp
nông lâm kết hợp để bảo vệ độ phì nhiêu của đất.
Giải pháp ưu tiên bảo vệ môi trường nước: tiếp tục xây dựng các chính
sách, các quy định và quy trình kỹ thuật về sử dụng, bảo vệ và quản lý nguồn
nước; nâng cao năng lực cho các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng
dân cư trong việc quản lý, giám sát sử dụng nguồn nước; huy động sự tham gia
rộng rãi của người thụ hưởng nước vào quá trình lập kế hoạch, vận hành và tài
Nguyễn Thị Tý
22
trợ cho các cơ sở hạ tầng về nước; xây dựng cơ chế quản lý tổng thể các nguồn
nước quốc gia nhằm xem xét các nhu cầu khác nhau về nước, như tiêu thụ nước
trong sinh hoạt của con người, tưới tiêu trong nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải
sản, du lịch và giải trí để cân đối những nhu cầu này với tính lợi ích của nước
tự nhiên và tiêu chí quản lý hệ sinh thái. Đặc biệt, chú ý quy hoạch tổng thể
nguồn cung cấp nước cho các đô thị lớn, trung bình và các khu công nghiệp;
kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Xây dựng cơ
sở dữ liệu phục vụ quản lý và bảo vệ tài nguyên nước; xây dựng và thực hiện
các chương trình, dự án quản lý tổng hợp các lưu vực sông, các vùng đầu
nguồn, nước ngầm; mở rộng và nâng cấp hệ thống thủy lợi, nâng cao hiệu quả
sử dụng và tái sử dụng nước; xây dựng các đơn giá về phí dịch vụ theo nguyên
tắc "người sử dụng nước phải trả tiền" và "trả phí gây ô nhiễm"; tu bổ các sông
ngòi và nâng cấp các hệ thống tưới tiêu bị xuống cấp trầm trọng. Đẩy mạnh áp
dụng các công nghệ xử lý nước thải, khuyến khích sử dụng các công nghệ sạch
trong sản xuất để giảm lượng chất thải, tái sử dụng nước thải. Nâng cao nhận
thức của cộng đồng dân cư về việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ tài
nguyên nước; khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia các hoạt động bảo vệ
lâm nghiệp; khuyến khích trồng các loài cây bản địa trong tất cả các hoạt động
trồng rừng và tái trồng rừng, nghiên cứu áp dụng các giải pháp kỹ thuật phòng
và chống cháy rừng và các thảm họa môi trường liên quan tới việc mất rừng
Thường xuyên xem xét, bổ sung và điều chỉnh lại kế hoạch hành động đa dạng
sinh học quốc gia nhằm bảo đảm sự phù hợp của kế hoạch này với các chiến
lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xúc tiến xây dựng hệ thống bảo
tàng thiên nhiên, từ cấp quốc gia đến cấp cơ sở để phục vụ các hoạt động đào
tạo, nghiên cứu khoa học, phổ biến kiến thức, tham quan, học tập, tuyên truyền,
giáo dục về bảo tồn đa dạng sinh học; xuất bản phổ biến rộng rãi các “sách đỏ”
Việt Nam về các giống, loài quý hiếm để có chính sách bảo tồn nghiêm ngặt;
khuyến khích việc nghiên cứu và áp dụng các tri thức bản địa trong việc sử
dụng và thực hiện những quy ước chung của cộng đồng, kết hợp tăng cường
Nguyễn Thị Tý
24
hợp tác quốc tế và khu vực để bảo vệ tốt nhất đa dạng sinh học vì lợi ích lâu
dài.
5.2. Các giải pháp bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên
nhiên.
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, sử dụng tiết kiệm và có hiệu
quả nguồn tài nguyên khoáng sản trong giai đoạn biến đổi khí hậu, cần thực
hiện những hoạt động ưu tiên như: xây dựng chiến lược quốc gia về thăm dò,
khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản trên lãnh thổ vùng ven thành phố
và vùng ven biển. Sử dụng các công cụ kinh tế, hành chính và chế tài pháp luật
nhằm thực hiện kiên quyết và có hiệu quả hơn Luật Khoáng sản; kiện toàn hệ
thống tổ chức quản lý tài nguyên khoáng sản ở Trung ương và các địa phương,
tổ chức trình tự khai thác mỏ một cách hợp lý; áp dụng các công nghệ tiên tiến
để sử dụng các loại quặng có hàm lượng thấp nhằm triệt để sử dụng khoáng
chất trong các mỏ; đồng thời, giảm khối lượng đất đá thải, thu hẹp diện tích bãi
thải; thực hiện bồi hoàn các dạng tài nguyên sau khai thác và tái sử dụng chất
thải ở những vùng mỏ đã khai thác để sử dụng hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ tài
phát triển bền vững, đồng thời sẵn sàng phối hợp với các nước phát triển trong
việc xây dựng và thực hiện các dự án CDM tại Việt Nam phục vụ phát triển
bền vững và giảm phát thải khí nhà kính; tiếp tục đẩy mạnh hợp tác tài chính,
công nghệ và xây dựng năng lực trong thời kỳ “hậu” Ky-ô-tô, xây dựng danh
mục các dự án thuộc lĩnh vực biến đổi khí hậu để kêu gọi tài trợ và tiếp nhận
chuyển giao công nghệ từ các nước công nghiệp và các nước phát triển; hợp tác
quốc tế trong đào tạo, nâng cao năng lực thông qua đầu tư trực tiếp, tư vấn và
xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm; tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc
tế về biến đổi khí hậu để nghiên cứu xây dựng và thực hiện có hiệu quả.
Nguyễn Thị Tý