LUẬN VĂN: Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến việc mất khả năng thanh khoản và giải pháp để lượng hoá được nó, là vấn đề sống còn của một ngân hàng potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến việc mất khả năng
thanh khoản và giải pháp để lượng hoá được nó, là vấn
đề sống còn của một ngân hàng

A. Lời mở đầu

Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng bao
gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính
nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài
sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Là một trong những mắt xích quan trọng của bất

1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Quốc tế
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam( tên gọi tắt là Ngân hàng quốc tế-VIB Bank)
được thành lập theo quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/10/1996 của thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc Tế bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam,
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, các cá nhân và doanh nhân
thành đạt tại Việt Nam và trên trường quốc tế.
Ngân hàng Quốc Tế đang tiếp tục củng cố vị trí của mình trên thị trường tài chính
tiền tệ Việt Nam. Từ khi bắt đầu hoạt động ngày 18/9/1996 với số vốn điều lệ ban đầu là50
tỷ đồng Việt Nam Ngân hàng Quốc Tế đang phát triển thành một trong những tổ chức tài
chính dẫn đầu thị trường Việt Nam. Là một Ngân hàng đa năng, Ngân hàng Quốc Tế- với
nền tảng công nghệ hiện đại tiếp tục cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính đa năng, trọn
gói cho khách hàng với nòng cốt là những doanh ngiệp vừa và nhỏ hoạt động lành mạnh
và những cá nhân và những gia đình có thu nhập ổn định tại các vùng kinh tế trọng điểm
trong cả nước.
Sau 9 năm hoạt động, đến 31/12/005 vốn điều lệ của ngân hàng là 510 tỷ đồng đạt
tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 113%. Tổng tài sản Có đạt trên 8.967 tỷ đồng,
tăng gấp hơn 2 lần so với cuối năm 2004 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt
là 177%. Lợi nhuận thuế đạt trên 95 tỷ đồng - đạt trên 230% so với 2004. Tỷ lệ lợi nhuân
trên vốn tự có bình quân đạt trên 20% và mức độ cổ tức chia cho các cổ đông tăng đều
hàng năm. Tỷ lệ về khả năng chi trả luôn lớn hơn 1, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu luôn lớn
hơn 8% .
Nguồn lực quản lý và hoạt động không ngừng được tăng cường với việc bổ nhiệm
nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực tài chính ngân hàng và một đội ngũ
chuyên viên kinh nghiệm giàu nhiệt huyết.
Hình ảnh của ngân hàng trong lòng công chúng và khách hàng được cải thiện đáng kể
bằng nhiều chương trình đổi mới và nhiều năng lực phục vụ, tăng cường quảng bá hình
ảnh Ngân hàng.

Ngân hàng Quốc tế được ngân hàng Việt Nam xếp loại A theo các tiêu chí đánh giá


Ngân hàng Quốc Tế cung cấp dịch vụ cho các cá nhân bao gồm : dịch vụ tiết kiệm,
dịch vụ tín dụng tiêu dùng, dịch vụ thanh toán, dich vụ xác nhận năng lực tài chính, dịch
vụ thẻ, dịch vụ mua bán ngoại tệ. Các khoản cho vay tiêu dùng nhắm đến các mục đích sử
dụng vốn cụ thể như: mua sắm, sửa chữa nhà đất, mua sắm xe hơi, vật dụng gia đình, đi
du học, đầu tư cổ phiếu,…
2.3. Dịch vụ ngân hàng định chế
Ngân hàng Quốc Tế cung cấp dịch vụ cho các ngân hàng tổ chức tài chính và tổ chức
phi tài chính bao gồm: dịch vụ tiền gửi dịch vụ quản lí tài sản dịch vụ cho vay, dịch vụ
đồng tài trợ dich vụ mua bán ngoại tệ…
3. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng
3.1. Hoạt động huy động vốn
Trong 2006 hoạt động nguồn vốn của ngân hàng Quốc Tế đạt mức tăng trưởng kỷ
lục. Tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2006 đạt 8.967 tỷ đồng tăng 117% so với năm trước
và vượt 49,6% kế hoạch năm.
Cơ cấu nguồn vốn được điều tiết hợp lý, tương thích với tỷ trọng của cơ cấu đầu tư
tín dụng và đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh nguồn vốn phát
triển tốt, hiệu quả, đảm bảo khả năng thanh khoản và đủ vốn, ngoại tệ phục vụ khách hàng.
Ngân hàng Quốc Tế đã chủ động trong việc điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn nhằm mang
lại lợi ích tối ưu cho các cổ đông nhưng vẫn đảm bảo nguồn vốn khi mở rộng cho vay
trung và dài hạn và nhu cầu tiền gửi không kỳ hạn. Vốn chủ sở hữu đạt 529,787 tỷ đồng
tăng 104,7% so với cuối năm 2005 vốn điều lệ tăng lên 510 tỷ đồng không những tạo thêm
nguồn vốn đáp ứng yêu cầu kinh doanh của Ngân hàng Quôc Tế, đặc biệt là nguồn vốn
trung dài hạn và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn khi mở rộng kinh doanh, mà còn tạo điều kiện
để đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn giảm từ 7,3% trong năm 2005 xuống còn
6,9% trong 2006- chứng tỏ khả năng mở rộng qui mô các cấu thành khác đặc biệt là tiền
gửi từ và các tổ chức kinh tế .
Vốn huy động của các tổ chức tài chính đạt tại thời điểm 31/12/2006 đạt 2852,872 tỷ,
bằng 176,6% so với đầu năm và chiếm 31,7% tổng nguồn vốn. Trong đó tiền gửi của các

tế là đối tượng khách hàng chủ yếu của Ngân hàng Quốc Tế. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
là một bộ phận rất quan trọng trong chuỗi sản xuất xã hôị nhưng hiện nay các doanh
nghiệp này đang gặp khó khăn trong việc tăng cường khả năng cạnh tranh, hiện đại hoá
công nghệ và tiếp cận các nguồn vốn tín dụng. Chính sách của Ngân hàng Quốc Tế đã giúp

các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn với chi phí hợp lý để đầu tư tăng
năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh và mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài ra trong
năm 2006, Ngân hàng Quốc Tế tiếp tục đẩy mạnh cho vay tài trợ hoạt động xuất khẩu
hàng hoá như cho vay để doanh nghiệp sản xuất, thu mua hàng hoá xuất khẩu, cho vay
chiết khấu bộ chứng từ hàng xuắt khẩu. Dư nợ tín dụng doanh nghiệp tại thời điểm
31/12/2006 là 3.904 tỷ, tăng152% so với đấu năm và vượt 29,75% so với kế hoạch năm.
Năm 2006, Ngân hàng Quốc Tế tập trung đẩy mạnh cho vay tiêu dùng cá nhân bằng
việc tung ra và đổi mới một loạt các sản phẩm tín dụng cá nhân bám sát nhu cầu của khách
hàng như cho vay mua, sửa chữa nhà đất, căn hộ chung cư, cho vay mua ô tô, cho vay du
học, cho vay mua săm vật dung gia đình. Một loạt các sản phẩm tín dụng nhắm đến những
nhóm khách hàng cụ thể như cho vay tín chấp Cán bộ quản lý điều hành, Cho vay đối với
cán bộ công nhân viên… dư nợ tín dụng cá nhân tại thời điểm 31/12/2006 là10351 tỷ, tăng
106% so với đầu năm.
Hoạt động tín dụng được hoạt động theo phương thức phê duyệt tập trung, chú trọng
chất lượng tín dụng luôn được kiểm soát tốt do hoạt động tín được tổ chức chặt chẽ, tuân
thủ đúng các quy định của pháp luật và các quy định, quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng
Quốc Tế
Tỷ lệ nợ quá hạn tính đến tời điểm cuối năm chỉ chiếm 0.87% tổng dư nợ, giảm so
với mức 1.11% của năm 2005.
3.3. Hoạt động dịch vụ
Trong năm 2006, song song với việc gia tăng các hoạt động huy động vốn và tín
dụng, hoạt động dịch vụ đã được quan tâm đặc biệt và được quán triệt từ Hội sở chính đến
từng đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Quốc Tế cả về chất và lượng. Tổng dịch vụ tăng
11.98% và tổng thu thuần dịch vụ tăng gấp 4 lần so với năm 2005.
Năm 2006, hoạt động thanh toán quốc tế được tăng cường theo cả chiêù rộng lẫn

nguồn ngoại tệ huy động thông qua các nghiệp vụ hoán đổi lấy VND đáp ứng yêu cầu tín
dụng, hợp lý hoá kỳ hạn để tăng khả năng sinh lời.
Số dư đầu tư chứng từ có giá tại thời điểm cuối năm 2004 đạt 524 tỷ đồng, tăng 73%
so với đầu năm, là do Ngân hàng đã chủ động mở rộng danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu
rủi ro và tăng khả năng sinh lời.

3.5. Hoạt động quảng cáo, khuyếch trương và quan hệ công chúng

Trong năm 2006, việc đẩy mạnh quảng bá hình ảnh, thương hiệu của ngân hàng đến
công chúng được hoạch định ngay từ đầu năm với các chương trình hành động cụ thể. Các
hoạt động xây dựng thương hiệu được duy trì tốt trong năm và phân bố đều trong phạm vi
toàn quốc. Sự ổn định về chất lượng dịch vụ và tình hình tài chính, tổ chức, hoạt đông
cùng khả năng phát triển bền vữnglà những yếu tố quan trọng giúp thương hiệu Ngân hàng
Quốc Tế ngày càng lớn mạnh. Bộ nhận diện thương hiệu Ngân hàng Quốc Tế, hoàn chỉnh
trong năm 2005, tiếp tục được áp dụng thống nhất trên toàn hệ thống ngân hàng đã tạo ra
hình ảnh mới trong mọi hoạt động giao tiếp của ngân hàng và là một bước phát triển mang
tính chuyên nghiệp trong quản lý hình ảnh của Ngân hàng.
Cũng trong năm 2006, với hàng loạt sản phẩm,dịch vụ gắn bó thiết thực với đời sống
cộng đồng được đưa ra phục vụ khách hàng, nhiều báo đài trung ương và địa phương đã
tham gia viết bài và đưa tin về Ngân hàng và các sản phẩm cua Ngân hàng như: báo Lao
Động, Hà Nội mới, thời báo Kinh tế Việt Nam, Sài Gòn giải phóng, Thanh Niên, Vietnam
Net, VnExpress … các chuyên trang, chuyên mục được các báo cáo Đầu tư, Thời báo
Ngân hàng xây dựng nhằm cung cấp các thông tin về tiện ích sản phẩm tài chính ngân
hàng cho bạn đọc cũng liên tục viết bài về sản phẩm của Ngân hàng Quốc Tế.
Với mong muốn được hoà nhập vào cộng đồng xã hôị, trong năm 2006 Ngân hàng
Quốc Tế đã tham gia nhiều chương trình văn hoá, vui chơi giải trí bổ ích và thu hút nhiều
người quan tâm như : “ Hãy chọn giá đúng”, “ở nhà chủ nhật”, “Điểm hẹn âm nhạc” phát
sóng trên kênh VTV3 Đài truyền hình Việt Nam.
Ngoài ra, với trách nhiệm cùng xã hôị, Ngân hàng Quốc Tế tổ chức các chương trìng
có ý nghĩa xã hội sâu sắc như: “ Triệu tấm lòng đồng cảm” ủng hộ trẻ em chất độc màu

Năm 2006 cũng là thời điểm để Đề án tập trung hoá dữ liệu và giao dịch trực tuyến
của Ngân hàng phát huy tác dụng mạnh mẽ. Tính an toàn dữ liệu và khả nămg đối chiếu
giao dịch đã tăng đáng kể. Cũng trong năm 2006, Ngân hàng Quốc Tế chính thức ký
hợp đồng mua hệ thống Chuyển mạch tài chính và Quản lý thẻ từ Công ty Card Tech
Limited (CTL) - Vương quốc Anh. Đây là Giải pháp công nghệ thẻ hiện đại, toàn diện,
linh hoạt được thiết kế theo phân hệ phù hợp với mọi quy mô của tổ chức tài chính, bao
gồm quản lý phát hành thẻ, quản lý thanh toán thẻ, chuẩn chi, chuyển mạch tài chính và
bảo mật. Giải pháp công nghệ thẻ này sẽ hỗ trợ VIBank đột phá trong lĩnh vực thẻ thông
qua việc cung ứng hàng loạt sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu và phù hợp với từng
nhóm khách hàng. Việc triển khai thành công Dự án công nghệ thẻ VIBank sẽ tạo ra hàng

loạt các sản phẩm dịch vụ thanh toán chất lượng cao mang lại nhiều lợi ích và giá trị gia
tăng cho khách hàng.
3.8. Hoàn thành đề án tái cơ cấu Ngân hàng Quốc tế
Năm 2004 là năm Ngân hàng chú trọng đến việc củng cố tổ chức bộ máy, triển khai
một số chương trình nhằm xây dựng nền tảng và nâng cao năng lực trong công tác tổ chức
và quản lý.
Cuối năm 2004, Ngân hàng Quốc tế hoàn thành Đề án tái cơ cấu theo định hướng
ngân hàng đa năng, tạo sự thuận lợi cho giao dịch khách hàng,tập trung cho phát triển lĩnh
vực sinh lời, hình thành những cơ cấu có chức năng quản lý rủi ro và hỗ trợ hiệu quả cho
hoạt động kinh doanh.
3.9. Phát triển nguồn nhân lực
Nguồn lực quan trọng nhất của ngân hàng là nguồn lục con người và lợi thế cạnh
tranh của ngân hàng cũng là nguồn lực con người, do đó Ngân hàng luôn cố gắng xây
dựng một môi trường làm việc cho phép khuyến khích mọi cán bộ nhân viên phát huy hết
khả năng của mình. Ngân hàng Quồc Tế xây dưng một chương trình phát triển kỹ năng
toàn diện cho cán bộ nhân viên nhằm tăng khả năng thích nghi trước những biến đổi của
môi trường kinh doanh.
Chính sách tiền lương của Ngân hàng trong năm 2006 có nhiều cải thiện đáng kể theo
chiều hướng kết hợp hài hoà giữa lợi ích của ngân hàng và người lao động. Chính sách thu

sản xuất. Ngân hàng là một trong những trung gian tài chính thực hiện chức năng ấy. Hoạt
động kinh doanh của ngân hàng mang tính đặc thù và có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ
nền kinh tế và ảnh hưởng của nó mang tính dây truyền, lây lan và sâu rộng.
Để hiểu được chức năng đặc biệt của ngân hàng trong nền kinh tế, ta thử hình dung
một thế giới không có hoạt động ngân hàng. Trong một thế giới như vậy, những khoản tiền
tiết kiệm của dân cư chỉ có thể được sử dụng hoặc dưới dạng tiền mặt hoặc tiếp đầu tư vào
các chứng khoán công ty. Trong thế giới không có ngân hàng qui mô luân chuyển các
dòng tiền này giữa người tiết kiệm và các nhà đầu tư là rất thấp. Lí do đó là:
* Chi phí để giám sát trực tiếp hoạt động của công ty là rất tốn kém. Khi mua chứng
khoán công ty, người mua chứng khoán phải được đảm bảo rằng tình hình kinh doanh của
công ty là có hiệu quả, tình hình tài chính của công ty là lành mạnh,…Để giám sát được
hoạt động của công ty, những người đầu tư chứng khoán phải mất rất nhiều chi phí về thời
gian cung như tiền bạc vào việc thu thập thông tin, phân tích và xử lí thông tin. Nếu như có

một tổ chức chuyên nghiệp đứng ra hay họ làm công việc giám sát hoạt động của công ty
thì sẽ tiết kiệm được chi phí và hiệu quả hơn nhiều. Việc giám sát công ty khó khăn và tốn
kém như vậy khiến việc nắm vững chứng khoán kém hấp dẫn.
* Với đặc tính dài hạn của cổ phiếu và trái phiếu đã làm nản lòng của những nhà đầu
tư. Bởi tâm lí ngại mạo hiểm, những người có tiền tiết kiệm ưu tiên nắm giữ tiền mặt để
tiêu dùng hơn là đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu.
* Đầu tư chứng khoán là hình thức đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro do giá cả của chúng
luôn biến động. Điều này ảnh hưởng đến nhà đầu tư và cả nhà phát hành.
Trong một thế giới không có ngân hàng, quy mô luân chuyển tiền tiết kiệm giữa
người dân và nhà đầu tư là rất thấp.Tuy nhiên trong xã hội ngày nay hệ thống ngân hàng
phát triển mạnh mẽ và được coi như bộ xương sống của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng
cung cấp một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những người tiíet kiệm đến những người có nhu
cầu về vốn.
Ngân hàng thực hiện hai chức năng cơ bản sau :
+ Chức năng luân chuyển tài sản.
+ Chức năng cung cấp các dịch vụ thanh toán, môi giới, bảo lãnh…

Lãi suất là giá cả của sản phẩm ngân hàng, nên mọi tác động trực tiếp đến giá trị tài
sản nợ và tài sản có của ngân hàng. Mọi sự thay đổi của lãi suất đến việc tăng, giảm thu
nhập, chi phí và lợi nhuận của Ngân hàng. Nếu thu nhập từ lãi không lớn hơn chi phí về lãi
thì ngân hàng sẽ chịu thua lỗ.
Lãi suất là yếu tố thay đổi trên thị trường, rát khó có thể dự báo trước rủi ro lãi suất
xảy ra khi lãi suất thay đổi làm giảm thu nhập của Ngân hàng. Đối với nguồn vốn huy
động khi lãi suất tăng sẽ làm chi phí vốn vay của ngân hàng tăng, đối với các khoản tín
dụng, khi lãi suất giảm sẽ làm giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng. Và do đó làm giảm thu
nhập của ngân hàng.
Nguyên nhân chính gây ra rủi ro lãi suất là do sự không cân xứng giữa các kỳ hạn của
tài sản nợ và tài sản có. Nếu ngân hàng dùng tài sản nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có
dài hạn thì khi lãi suất ngắn hạn tăng lên, trong khi lãi suất đầu tư vẫn giữ nguyên, ngân
hàng sẽ gặp rủi ro. Ngược lại nếu ngân hàng dùng tái sản nợ dài hạn để đầu tư vào tài sản
có ngắn hạn thì khi lãi suất đầu tư giảm Ngân hàng cũng có nguy cơ bị rủi ro.
Ngoài ra rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra do các nguyên nhân khác như: do bất lợi
trong cạnh tranh, buộc ngân hàng phải tăng lãi suất huy động và hạ lãi suất cho vay để thu
thút khách hàng, do đó làm tăng chi phí và giảm thu nhập của ngân hàng: Do cung tiền tệ

nhỏ hơn cầu tiền tệ nên ngân hàng phải tăng lãi suất để huy động vốn: Do chính sách ưu
đãi cho vay của nhà nước, nên Ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay.
2.2. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro do ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các
khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng thời hạn.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt
động mang tính chất tín dụng khác của Ngân hàng như hoạt động bảo lãnh, tài trợ ngoại
thương, cho thuê tài chính.
Rủi ro tín dụng là rủi ro cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại, do những nguyên
nhân sau:
- Người vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính nên không có khả năng
thanh toán nợ cho Ngân hàng.

2.5. Rủi ro môi trường
Rủi ro môi trường là rủi ro do hoạt động của Ngân hàng gây nên, bao gồm: rủi ro do
sự biến động của thiên nhiên (lũ lụt, động đất), rủi ro về kinh tế (khủng hoảng, suy thái),
rủi ro do sự thay đổi chính sách pháp luật của Nhà nứơc gây nên bất lợi cho Ngân hàng.
Rủi ro môi trường là rủi ro mà Ngân hàng khó kiểm soát được chúng có thể làm suy
yếu khả năng chịu đựng rủi ro của Ngân hàng hoặc gây cho Ngân hàng những thiệt hại về
tài chính.

2.6. Rủi ro trong công nghệ
Rủi ro trong công nghệ thường xảy ra trong các trường hợp: Ngân hàng đã đầu tư rất
lớn vào phát triển công nghệ nhưng hiệu quả sử dụng lại không cao, không tiết kiệm chi
phí cho Ngân hàng theo như mong muốn hoặc hệ thống công nghệ của Ngân hàng trục trặc
làm ảnh hưởng đến việc điều hành hoạt động kinh doanh của Ngân hàng gây ra những tổn
thất nhất định.
2.7. Các rủi ro khác
Như rủi ro hoạt động, rủi ro quốc gia, rủi ro pháp lí…

Chương 3: Lý thuyết về rủi ro thanh khoản

1. Khái quát rủi ro thanh khoản đối với hoạt động Ngân hàng
Đối với các tổ chức nói chung, thì rủi ro thanh khoản gây ra đối với các ngân hàng là
thường xuyên và nghiêm trọng hơn cả. Nguyên nhân chính xuất phát từ đặc điểm mang
tính đặc thù của bảng cân đối tài sản là: Ngân hàng đã dùng các nguồn vốn ngắn hạn bên
tài sản nợ để tài trợ cho các tài sản có. Ngoài ra, khi những người gửi tiền nhận thấy Ngân
hàng gặp rắc rối về thanh khoản thì đồng loạt rút tiền ngay lập tức ra khỏi Ngân hàng, hơn
nữa hành động rút tiền của những người gửi tiền có tính lây lan và phản ứng dây chuyền
nhanh chóng và rộng khắp.
Các rủi ro như lãi suất, tỷ giá, tín dụng… Có thể đe doạ đến khả năng thanh toán cuối
cùng của Ngân hàng, nhưng rủi ro thanh khảon chỉ là vấn đề thông thường xảy ra hàng
ngày đối với hoạt động Ngân hàng . Chỉ trong trường hợp đặc biệt hạn hữu, rủi ro thanh

tuần hoàn chúng để sử dụng cho vay với thời hạn dài hơn. Do đó, nhiều Ngân hàng phải
đối mặt với sự không trùng khớp về thời hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ. Thực tế
là Ngân hàng thường có một tỉ lệ đáng kể tài sản nợ, có đặc điển là phải được hoàn trả tức
thời nếu người gửi có nhu cầu, như tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn có thể rút
trước thời hạn, tài khoản NOW… do đó Ngân hàng luôn phải sẵn sàng thanh khoản.
Nguyên nhân thứ hai: Sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi lãi suất.
Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tiềm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất
cao hơn. Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín
dụng với mức lãi suất thấp đã thoả thuận. Như vậy thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến luồng
tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoản của Ngân hàng. Ngoài
ra lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thị giá của các tài sản mà Ngân hàng đem bán để
tăng thanh khoản, và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ của
Ngân hàng.
Nguyên nhân thứ ba: Ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách
hoàn hảo. Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm sói mòn niền tin của dân chúng vào Ngân
hàng. Nếu như vào một buổi sáng các quầy chi trả tiền hay các máy trả tiền tự động của
Ngân hàng đóng cửa với lí do là thiếu tiền mặt tạm thời, và không thể thanh toán các tờ séc
chuyển đến cũng như những khoản tiền gửi đến hạn thì Ngân hàng đó đứng trước nguy cơ
phá sản và nếu có vực lại được thì một phần nào đó cũng giảm bớt lòng tin gửi tiền của

khách hàng. Một trong những việc quan trọng đối với nhà quản lí Ngân hàng là luôn liên
hệ chặt chẽ với những khách hàng có số dư tiền gửi lớn và những khách hàng đang còn
hạn mức tín dụng lớn chưa sử dụng để biết được kế hoạch của họ, khi nào thì rút tiền và
rút bao nhiêu để có phương án thanh khoản thích hợp.
2.2. Nguyên nhân từ hoạt động
Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ hoạt động bên tài sản nợ hay bên tài sản có của
Ngân hàng.
Nguyên nhân bên tài sản nợ: rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ lúc nào khi
những người gửi tiền thực hiện rút tền ngay lập tức. Khi những người gửi rút tiền đột ngột,
buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung hoặc bán bớt tài sản thanh khoản để đáp ứng nhu cầu

tổng số ít trong tổng số những người gửi tiền có nhu cầu rút tiền hằng ngày. Do đó phần
lớn số tiền dư gửi hằng ngày trở thành số tiền dư gửi thường xuyên hằng ngày, cung cấp
nguồn vốn dài hạn cho Ngân hàng. Đồng thời, những nhu cầu rút tiền gửi hằng ngày, được
cân đối chủ yếu bằng các khoản tiền gửi mới, và các khoản thu nhập từ hoạt động Ngân
hàng.

Có hai phương án chính để Ngân hàng giải quyết rủi ro thanh khoản là:
(1). Thông qua quản lí tài sản nợ.
(2). Là thông qua quản lí tài sản có.
Theo truyền thống, Ngân hàng thường dựa vào quản lí tài sản có, nhưng ngày nay
các Ngân hàng, đặc biệt là các Ngân hàng lớn thường sử dụng phương án quản lí tài sản nợ
thông qua việc tiếp cận thị trường tiền để tăng nguồn vốn tín dụng tức thời đáp ứng nhu
cầu thanh khoản của Ngân hàng.
2.3.2. Phương pháp quản lí tài sản nợ
Phương pháp quản lí tài sản nợ là việc ngân hàng tiếp cận với thị trường tiền tệ để
tăng vốn tức thời bằng các khoản tín dụng ngắn hạn, bao gồm thị trường chính thức (giao
dịch với NHTW), thị trường Interbank và hợp đồng mua lại. Ngoài ra, Ngân hàng có thể
thực hiện một phương án khác là Ngân hàng có thể phát hành kì phiếu ngắn hạn, hay phát
hành một số trái phiếu có thời hạn dài. Nhưng phương pháp này có một hạn chế là chi phí
của nó rất cao. Vì trên thị trường Iterbank là thị trường bán buôn nên lãi suất của nó cao
hơn so với lãi suất trên thị trường bán lẻ.
Biện pháp quản lí tài sản nợ không làm thay đổi quy mô bảng cân đối tài sản và kết
cấu tài sản có, mà chỉ làm thay đổi kết cấu tài sản nợ. Do đó, nếu Ngân hàng có một

phương pháp quản lí, tài sản nợ hiệu quả thì bên tài sản nợ sẽ không bị ảnh hưởng khi
khách hàng rút tiền bất thường. Đây là lí do tại sao ngày nay, các kĩ thuật quản lí tài sản nợ
lại phát triển nhanh và nhiều đến vậy. Đặc biệt với sự phát triển của thị trường chứng
khoán là nguồn cung cấp nguồn vốn huy động cho Ngân hàng khi cần.
2.3.3. Phương pháp quản lí tài sản có (chuyển hoá tài sản)
Thay vì vay trên thị trường bán buôn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, ngân hàng có

các thị trường bán lẻ. Những khoản tiền bán lẻ (các khoản tiền gửi của khách hàng cá nhân
và tổ chức kinh tế) là nguồn vốn chiến lược chính hình thành sức mạnh của Ngân hàng,
bởi vì chúng có đặc điểm là ổn định trong dài hạn và có chi phí thấp hơn trong thị trường
bán buôn.
Xét về mặt kì hạn, nguồn vốn bán lẻ bao gồm nhiều tiền gửi không kì hạn, tiền gửi
tiết kiệm, tiền gửi không kì hạn có thể rút ra bất kì lúc nào, tiền gửi có kì hạn là ngắn hoặc
có thể rút ra trước hạn. Nhưng trong thực tế, phần lớn số dư của nguồn vốn bán lẻ lại ổn
định thường xuyên như nguồn vốn dài hạn vì người gửi tiền chỉ rút tiền trong những
trường hợp bất thường.
Bên cạnh những ưu điểm và có chi phí thấp, chiến lược này có nhược điểm là phải
chịu chi phí cơ sở hạ tầng cao. Để thu hút được nguồn vốn khách hàng, thì Ngân hàng
phải có mạng lưới chi nhánh rộng khắp, cung cấp được những dịch vụ tốt nhất, có hệ thống
thông tin điện tử để duy trì và phát triển thị trường bán lẻ. Ngoài ra cuộc chiến tranh lãi
xuất với các Ngân hàng đòi hỏi Ngân hàng phải luôn có những phương án khả thi để đối
phó với những thay đổi trên thị trường.
Và Ngân hàng luôn luôn thường xuyên đầu tư mở rộng đúng mức đối với thị trường
bán lẻ.
3.2. Chiến lược đa dạng hoá nguồn vốn
Việc đa dạng hoá nguồn vốn nhằm giảm sự phụ thuộc vào bất kì một thị trường nào,
khu vực địa lí nào, công cụ huy động nào, kỳ hạn nào, khách hàng nào hay đồng tiền nào.
Khi thị trường biến động, việc phụ thuộc vào một số ít nguồn huy động sẽ làm cho Ngân
hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn tại thời điểm đó. Khi nguồn vốn của ngân
hàng được đa dạng hoá cao, Ngân hàng được đảm bảo tốt hơn về thanh khoản trong mọi
điều kiện của thị trường. Tuy nhiên chi phí vốn cũng cao hơn.

Ngày nay, ngày càng có nhiều công cụ cho các ngân hàng huy động vốn trong một
thời gian ngắn như:
- Nguồn vốn huy động có thể từ thị trường liên ngân hàng, các tổ chức phi tín dụng
như bảo hiểm, tài chính, bưu điện…
- Huy động từ nhiều loại khách hàng: khách hàng cá nhân, công ty vừa và nhỏ, công

- Ngân hàng vẫn đạt được mục đích kinh doanh có lãi bình thường, tức là có sự đánh
đổi giữa một bên là chi phí vốn tăng và bên kia là giảm được tài sản dự trữ thu nhập thấp,
giảm được nguồn vốn ngắn hạn và giảm được rủi ro thanh khoản.
Một phương án khác là tăng mức lãi suất đối với nguồn gửi không kì hạn để ổn định
số dư của con số này. Tuy nhiên, trong thực tế các Ngân hàng thường không áp dụng
phương pháp này, trừ khi nguồn vốn này giảm sút nghiêm trọng. Lý do là lãi suất tiền gửi
không kì hạn tăng, làm tăng chi phí lãi suất đối với cả số dư không kì hạn hiện hành và số
dư huy động mới tăng thêm, trong khi đó lãi suất tiền gửi có kì hạn chỉ làm tăng chi phí lãi
suất đối với các khoản huy động mới.
Trên thị trường bán buôn mỗi Ngân hàng có thể tăng nguồn vốn dài hạn có lãi suất cố
dịnh bằng cách phát hành trái phiếu. Để thông vốn thông qua phát hành trái phiếu Ngân
hàng phải được xếp hạng tín nhiệm cao, hay phải có danh tiếng trên thị trường.
Như vậy vấn đề quản lí tài sản thanh khoản và quản lí tài sản nợ đối với Ngân hàng
có một quan hệ với nhau. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn số lượng tài sản có
làm dự trữ thanh khoản. Một Ngân hàng có quyền quản lí tài sản nợ để tác động tới rủi ro
rút vốn. Tuy nhiên, để giảm rủi ro rút vốn thì chi phí của ngân hàng thường tăng, vì những
nguồn vốn có rủi ro rút vốn thấp thường có chi phí cao, và các nguồn vốn có rủi ro cao thì
có chi phí thấp.
Các chiến lược quản lí tài sản nợ đều thể hiện một quy luật đánh đổi: thu nhập và khả
năng thanh khoản.
4. Lượng hoá rủi ro thanh khoản
4.1. Phương pháp tiếp cận cung cầu thanh khoản
Một trong những phương pháp ước lượng yêu cầu thanh khoản là phân tích mô hình
cung cầu thanh khoản.
4.1.1. Cầu thanh khoản
* Khách hàng rút tiền gửi: đây là nhu cầu thanh khoản có tính thường xuyên, tức thòi,
bao gồm các loại tiền gửi không kì hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kì hạn có thể rút

Trích đoạn Kiểm định sự thiếu biến của mô hình( kiểm định Ramsey)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status