tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới tình trạng kém hiệu lực của chính quyền cơ sở - Pdf 14

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
TRƯƠNG THỊ HIỀN

TÌM HIỂU NHỮNG NGUYÊN NHÂN
DẪN TỚI TÌNH TRẠNG KÉM HIỆU LỰC CỦA
CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
(Nghiên cứu trường hợp: Xã Eatrul - huyện KrôngBông - tỉnh ĐăkLăk)

Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC
Mã số: 60.31.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM ĐỨC TRỌNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2008

Lêi C¶m ¥n
Lêi C¶m ¥nLêi C¶m ¥n
Lêi C¶m ¥n

Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Dữ liệu
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và kết quả nêu trong luận văn chưa từng
ñược công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.

TÁC GIẢ TRƯƠNG THỊ HIỀN

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………… 1

1. Lý do chọn ñề tài……………………………………………………… … 1
2. Lịch sử về tình hình nghiên cứu…………………………………………… .3
3. Mục tiêu nghiên cứu của ñề tài………………………………………….… 10
4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu………………………………………… 10
5. Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu……………………………………… 10
6. Giả thuyết nghiên cứu và các biến số……………………………………… 11

2.2.3. Nguyên nhân từ phía ñội ngũ cán bộ chính quyền xã………………… 58
2.2.4. Nguyên nhân từ quá trình tương tác giữa ñội ngũ cán bộ chính quyền xã
Eatrul với nhân dân…………………………………………………………….70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……………………………………………………79
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………… 85
PHỤ LỤC…………………………………………………………………………… 88
1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn ñề tài
Dưới sự lãnh ñạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta ñang xây dựng Nhà
nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong tình hình ñó, xây
dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực ñang là một yêu cầu bức thiết ở
nước ta hiện nay. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu ñó, một trong những nhiệm vụ cấp
bách hiện nay là phải nâng cao hiệu lực của chính quyền cấp xã. Cơ sở khoa học và
thực tiễn của vấn ñề trên thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, nhìn theo chiều từ trên xuống, xét về quy mô và cấp ñộ tổ chức thì
chính quyền cấp cơ sở là cấp chính quyền thấp nhất trong hệ thống quản lý nhà nước.
Trong chừng mực nào ñó, chính quyền xã tồn tại với tư cách là “cái vi mô” của nhà
nước, của xã hội nhưng ñồng thời cũng là “cái vĩ mô” của ñời sống của nó. Xã là một
tế bào, làm nên sự sống cho chính cơ thể nó ñồng thời ñem lại sự sống cho cả cơ thể
lớn hơn là xã hội. Để xã hội phát triển ổn ñịnh thì nhất thiết cần tới sự hoàn thành tốt
chức năng của chính quyền xã.
Thứ hai, xét theo chiều từ dưới lên thì xã chính là cơ sở, là nền tảng của nhà
nước và xã hội. Nói tới cơ sở là nói tới dân và cuộc sống của dân. Sự ổn ñịnh bắt ñầu
từ ổn ñịnh ở cơ sở. Đó là tiền ñề của sự phát triển. Sự mất ổn ñịnh cũng bắt ñầu từ mất
ổn ñịnh ở cơ sở. Đó là dấu hiệu ñầu tiên của tình huống mất ổn ñịnh trên quy mô xã
hội. Chính quyền cấp cơ sở là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp giải quyết các
công việc của người dân nên bộ máy chính quyền cơ sở phải nắm bắt và phản ánh tâm
tư nguyện vọng của nhân dân, huy ñộng mọi khả năng phát triển kinh tế xã hội, tổ chức

Nghiên cứu những vấn ñề lý luận và thực tiễn của chính quyền cơ sở, ñặc biệt là
chính quyền cơ sở ở những nơi tập trung ñồng bào dân tộc thiểu số là cần thiết ñể góp
phần nhận diện thực trạng và những vấn ñề mà bộ máy chính quyền ñang phải trải
nghiệm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của
3

chính quyền cơ sở dưới nhãn quan Triết học, Chính trị học, Văn hóa học Tuy nhiên,
chưa có công trình nghiên cứu xã hội học nào ñi sâu tìm hiểu những nguyên nhân dẫn
tới tình trạng kém hiệu lực của chính quyền cơ sở. Do ñó, nghiên cứu về vấn ñề này
còn bỏ ngỏ, luận cứ khoa học còn ít.
Chúng tôi chọn xã Eatrul - huyện KrôngBông - tỉnh ĐăkLăk là ñịa bàn nghiên
cứu. Là một ñịa phương có ñông ñồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và không có
nhiều khác biệt so với các xã khác trên ñịa bàn tỉnh ĐăkLăk. Trong tình trạng chung,
công tác quản lý, ñiều hành của chính quyền ñịa phương ñang tồn tại nhiều bất cập.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng ủy xã Eatrul năm 2007 ñã thừa nhận tình
trạng kém hiệu lực của chính quyền xã [1]. Vậy, thực trạng kém hiệu lực của chính
quyền xã như thế nào? Những nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng kém hiệu lực của
chính quyền xã Eatrul? Giải pháp nào ñể nâng cao hiệu lực của chính quyền xã?
Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi nhận thấy, việc nghiên cứu những nguyên
nhân dẫn tới tình trạng kém hiệu lực của chính quyền cơ sở nhằm ñề xuất một số giải
pháp nâng cao hiệu lực của chính quyền cơ sở hiện nay là cần thiết. Do ñó, chúng tôi
chọn ñề tài “Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới tình trạng kém hiệu lực của
chính quyền cơ sở; Nghiên cứu trường hợp xã Eatrul - huyện KrôngBông - tỉnh
ĐăkLăk ” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử về tình hình nghiên cứu
Chính quyền cơ sở là cấp chính quyền thấp nhất nhưng lại có vị trí và vai trò
quan trọng bởi chính quyền cơ sở là nơi trực tiếp tổ chức vận ñộng nhân dân thực hiện
các ñường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trên mọi lĩnh
vực. Đồng thời chính quyền cơ sở cũng là nơi gần dân nhất, có trách nhiệm chăm lo
phát triển mọi mặt ñời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Chúng tôi chưa thấy ñề tài tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới tình trạng kém
hiệu lực của chính quyền cơ sở, ñặc biệt ở những nơi có ñông ñồng bào dân tộc thiểu
5

số sinh sống. Các nghiên cứu trước ñây thường theo hai hướng: 1) Nghiên cứu về tổ
chức và hoạt ñộng của bộ máy chính quyền cơ sở; 2) Nghiên cứu một trong nhiều yếu
tố ảnh hưởng chất lượng hoạt ñộng của chính quyền cơ sở.
Những nghiên cứu về tổ chức và hoạt ñộng của bộ máy chính quyền cơ sở ñã
chỉ ra ñược thực trạng chất lượng hoạt ñộng của bộ máy chính quyền cơ sở hiện nay.
Kết quả khảo sát 20 xã của 5 tỉnh Tây Nguyên cho thấy thực trạng chất lượng
cán bộ, công chức xã vùng ñồng bào dân tộc thiểu số. Về chính trị, 58, 72 % cán bộ
công chức cấp xã ñược hỏi chưa ñược ñào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị. Điều này
ñã làm hạn chế về nhận thức cũng như công tác tuyên truyền vận ñộng quần chúng. Về
kiến thức quản lý hành chính nhà nước, căn cứ tiêu chuẩn ñối với cán bộ, công chức
cấp xã ñược quy ñịnh tại quyết ñịnh số 04/2004/QĐ- BNV ngày 16-1-2004 của Bộ Nội
vụ thì cán bộ, công chức cấp xã phải qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước
từ sơ cấp trở lên. Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 7,2 % cán bộ, công chức xã ñã qua
ñào tạo trung cấp, so với tiêu chuẩn ñề ra có trên 90% cán bộ, công chức xã vùng ñồng
bào dân tộc chưa ñược trang bị kiến thức quản lý hành chính nhà nước. Có 3,4% cán
bộ, công chức xã có trình ñộ văn hóa tiểu học, 37,4% cán bộ, công chức xã có trình ñộ
văn hóa trung học cơ sở và ở bậc trung học phổ thông là 56,2%. Trình ñộ văn hóa trung
học phổ thông của Chủ tịch Hội ñồng nhân dân là 55%, Phó Chủ tịch Hội ñồng nhân
dân là 45%; Chủ tịch Ủy ban nhân dân 50%; phó chủ tịch Ủy ban nhân dân 50%. Như
vậy, so với tiêu chuẩn thì có tới 50% cán bộ chủ chốt xã vùng ñồng bào dân tộc chưa
ñạt chuẩn về văn hóa. Về chuyên môn, có 64, 68% cán bộ, công chức cấp xã chưa qua
ñào tạo, trong ñó cán bộ chủ chốt chưa qua ñào tạo chiếm 76,67%, công chức chưa qua
ñào tạo là 59,31% [Trần Thái Học, 2008].
Theo ñánh giá của Hồ Tấn Sáng [2007], thực trạng yếu kém của chính quyền cơ
sở hiện nay biểu hiện ở:
- Hội ñồng nhân dân phần nhiều hoạt ñộng có tính hình thức, chưa hội ñủ ñiều

quan chức năng ñể phát hiện, xử lí những trường hợp sản xuất hàng giả, làm ăn phi
pháp, trốn thuế, các tụ ñiểm ma tuý, cờ bạc, mại dâm.
- Thủ tục hành chính còn rườm rà, gây phiền nhiễu cho nhân dân.
7

- Một số chính quyền cơ sở xã, phường còn thiếu tính chủ ñộng, sáng tạo trong
việc tiếp thu các kiến thức khoa học kĩ thuật và công nghệ mới trong việc phổ biến,
tuyên truyền giáo dục pháp luật, trong việc hướng dẫn các công dân, tạo ñiều kiện
thuận lợi cho họ trong việc tiếp xúc, giải quyết các thủ tục, hành chính ñể ñược hưởng
các lợi ích mà nền khoa học, kĩ thuật, công nghệ hiện ñại có thể mang lại
Cũng theo nghiên cứu của Thái Vĩnh Thắng [2003], do trình ñộ văn hoá còn
thấp, thiếu ñào tạo chuyên môn về quản lí hành chính nên không ít cán bộ ñã xử lí, giải
quyết công việc, áp dụng pháp luật sai. Ở một số xã vùng sâu, vùng xa, cán bộ cấp xã
còn áp dụng luật tục ñể giải quyết các vụ việc như tranh chấp ñất ñai, li hôn, tranh chấp
dân sự, tự ñặt ra các quy ñịnh xử phạt, quy ñịnh ñóng góp của nhân dân và chi tiêu
không ñúng nguyên tắc, không phù hợp với quy ñịnh của pháp luật. Có nơi, ngay cả
các tỉnh ñồng bằng, trưởng công an xã tuỳ tiện không cho con em trong xã ñi học, chủ
tịch xã giải quyết li hôn, ñặt ra lệnh nội bất xuất, ngoại bất nhập giữa làng này và làng
khác sau 11 giờ ñêm. Số liệu thống kê tại tỉnh DăkLăk trong nhiệm kì Hội ñồng nhân
dân năm 1999 – 2004 cho thấy trình ñộ của cán bộ chính quyền cấp xã như sau: Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn: Cấp tiểu học: 4,9%, cấp trung học cơ sở:
36%, cấp trung học phổ thông: 59,1%. Đối với chủ tịch Hội ñồng nhân dân: Cấp tiểu
học chiếm 5,5,%; cấp trung học cơ sở chiếm 47,0%; cấp trung học phổ thông chiếm
47,5%. Như vậy, cán bộ chủ chốt của chính quyền cấp xã ở DăkLăk chủ yếu có trình
ñộ văn hóa ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông. Ở các xã vùng sâu, vùng xa,
nơi 100% dân số là ñồng bào dân tộc, trình ñộ văn hoá còn thấp hơn. Ví dụ, ở xã
Eayông của huyện Krôngpak, Đắk Lắk có 2/3 cán bộ xã ñạt trình ñộ trung học cơ sở,
1/3 cán bộ xã có trình ñộ văn hóa ở bậc tiểu học. Nghiên cứu cũng cho rằng cấp xã là
nơi cần những cán bộ trẻ ñể tạo nguồn cho cán bộ chính quyền cấp trên, tốt nhất là ở ñộ
tuổi từ 31 ñến 40 nhưng tỉ lệ này hiện nay còn thấp, khó có thể tạo nguồn cho cán bộ

hỏi cao của nhiệm vụ với chế ñộ ñãi ngộ cán bộ cơ sở còn thấp; 4/ Mâu thuẫn giữa ñòi
9

hỏi về chất lượng, hiệu quả hoạt ñộng của các tổ chức với những yếu kém, bất cập về
bộ máy và cơ chế vận hành. Giải quyết tốt 4 mâu thuẫn ñã chỉ ra sẽ là ñiều kiện ñể
nâng cao hiệu lực của chính quyền cơ sở.
Từ kết quả phân tích tài liệu, chúng tôi thấy những nghiên cứu trước ñây về
chính quyền cơ sở ñều kết luận rằng hiệu lực của chính quyền cơ sở hiện nay còn yếu
kém. Song chưa có công trình nghiên cứu nào ñi sâu tìm hiểu những nguyên nhân dẫn
tới tình trạng yếu kém của chính quyền cơ sở.
Với cách tiếp cận xã hội học, chúng tôi không nghiên cứu tình trạng kém hiệu
lực của chính quyền cơ sở nhằm mục ñích “phê phán” mà cố gắng lý giải những
nguyên nhân dẫn tới tình trạng yếu kém ñó. Để ñạt ñược mục tiêu cơ bản trên, chúng
tôi sẽ tiếp cận bộ máy chính quyền xã với tư cách là một bộ máy hành chính, theo ñó
một bộ máy kém hiệu lực có thể sẽ do nguyên nhân từ phía cấu trúc (cơ cấu tổ chức bộ
máy chưa phù hợp hoặc thiếu sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố cấu thành nên bộ máy
cũng như sự không hoàn thành chức năng của từng yếu tố dẫn tới sự không hoàn thành
chức năng của bộ máy); nguyên nhân từ phía ñội ngũ cán bộ cơ sở (trình ñộ chuyên
môn yếu kém, chế ñộ ñãi ngộ không phù hợp, ñiều kiện nơi làm việc thiếu thốn khiến
ñội ngũ cán bộ cơ sở không thể hoàn thành vai trò xã hội dẫn tới sự trì trệ, yếu kém của
cả bộ máy), có thể hệ thống văn bản pháp luật liên quan tới bộ máy chính quyền cơ sở
chưa phù hợp khiến cho sự vận hành của bộ máy không thể diễn ra suôn sẻ ñược. Và
có thể còn có nguyên nhân khác nữa là trong ñiều kiện kinh tế - xã hội thấp kém ở một
số vùng nông thôn, ñặc biệt ở vùng có ñông ñồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, hàng
loạt các ñiều kiện cần có ñể tương tác giữa ñội ngũ cán bộ chính quyền với nhân dân
không thể ñạt ñược mức ñộ thích ứng cao. Ví dụ như trình ñộ dân trí thấp, ñặc ñiểm
tâm lý, sự phong phú ña dạng về văn hóa giữa các dân tộc, nguy cơ tiềm ẩn mất ổn
ñịnh chính trị…trên ñịa bàn khảo sát có thể là những nguyên nhân dẫn tới quá trình
tương tác giữa ñội ngũ cán bộ cơ sở và quần chúng nhân dân diễn ra với mức ñộ thích
10

ngũ cán bộ xã cũng như của quần chúng nhân dân về bộ máy chính quyền xã, nếu ñiều
tra bằng bảng hỏi, rất có thể sẽ không thu ñược những thông tin khách quan. Vì vậy,
phỏng vấn sâu ñược chọn là phương pháp thu thập thông tin chủ yếu giúp chúng tôi có
ñược những thông tin sâu, khách quan và chân thực.
*. Phân tích tài liệu:
- Các công trình, ñề tài nghiên cứu, sách, tạp chí có liên quan ñến ñề tài của
luận văn.
- Tài liệu do ñịa phương cung cấp.
*. Phỏng vấn sâu:
60 trường hợp:
- 32 người là cán bộ chính quyền, tổ chức cơ sở Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức thành viên ở ñịa phương;
- 28 người dân ñịa phương (là chủ hộ) trong ñó có 18 người là dân tộc thiểu số
và 10 người là dân tộc Kinh.
6. Giả thuyết nghiên cứu và các biến số
Các giả thuyết
Giả thuyết 1
Cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở theo quy ñịnh không phù hợp với ñặc
thù ñiều kiện kinh tế - xã hội của xã Eatrul khiến chính quyền xã không thể thực hiện
tốt các quyền hạn.
Giả thuyết 2
Hiện nay, một số văn bản, quy ñịnh pháp luật về chính quyền cơ sở chưa phù
hợp với thực tiễn xã hội dẫn tới ñội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở gặp khó khăn trong
quá trình thực hiện vai trò xã hội của mình.
12

Giả thuyết 3
Năng lực chuyên môn yếu, chế ñộ ñãi ngộ thấp, ñiều kiện làm việc chưa ñáp
ứng ñược sự ñòi hỏi của công việc là những nguyên nhân của tình trạng cán bộ chính
quyền xã không hoàn thành tốt vai trò xã hội.
7. Nội dung nghiên cứu của ñề tài
Để ñạt ñược mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ phải tiến hành khảo sát ñịa bàn xã
Eatrul nhằm thực hiện các nội dung nghiên cứu sau:
- Nhận diện thực trạng kém hiệu lực của chính quyền xã Eatrul – huyện
KrôngBông – tỉnh DăkLăk
- Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới tình trạng kém hiệu lực của chính quyền
xã.
+ Nguyên nhân từ phía cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở
+ Nguyên nhân từ phía văn bản pháp luật
+ Nguyên nhân từ phía ñội ngũ cán bộ xã Eatrul
+ Nguyên nhân từ quá trình tương tác giữa chính quyền xã Eatrul với nhân dân.
Bối cảnh kinh tế - xã hội
Hệ thống luật
pháp,văn
bản quy ñịnhCơ cấu tổ chức của
bộ máy chính

2.2.4. Nguyên nhân từ quá trình tương tác giữa ñội ngũ cán bộ xã Eatrul
với nhân dân
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 15

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1. Phương pháp luận
Luận văn ñược thực hiện dựa trên cơ sở các nguyên tắc phương pháp luận của
xã hội học, các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử:
- Nguyên tắc của xã hội học: Tập trung vào khuôn mẫu quan hệ giữa các cá
nhân hơn là vào bản thân các cá nhân.
Một vụ gây rối trật tự công cộng xảy ra ở ñịa phương chẳng hạn, chỉ là một vụ
gây rối, song người nghiên cứu có thể ñưa ra những nhận ñịnh về nguyên nhân của nó,
ví dụ như: sự phản ñối của người dân với chính quyền cơ sở; mức sống của người dân
quá thấp; trình ñộ dân trí và sự hiểu biết pháp luật của người dân kém; có những nhóm
và phe phái trong nội bộ quần chúng; năng lực quản lý của chính quyền cơ sở yếu kém;
năng lực vận ñộng quần chúng của các tổ chức chính trị - xã hội có vấn ñề Người
nghiên cứu không tập trung vào hành vi có vẻ nhất thời ấy của những người tham gia
vào vụ gây rối mà có thể ñưa ra những nhận ñịnh có liên quan tới cả hệ thống xã hội.
- Nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử:

cho chúng ta biết rằng, ñể hệ thống xã hội tồn tại và phát triển ổn ñịnh thì các yếu tố
cấu thành phải ñược ñảm bảo ñể hoàn thành vai trò, thực hiện ñúng chức năng. Đồng
thời sự thực hiện chức năng của các yếu tố cấu thành nên hệ thống cũng có sự ảnh
hưởng tác ñộng qua lại với nhau. Vấn ñề của một trong các yếu tố cũng sẽ trở thành
vấn ñề chung cho toàn bộ hệ thống xã hội. Trên cơ sở ñó, chúng ta tiếp cận chính
quyền cơ sở như là một hệ thống ñược tạo thành bởi một số các thành phần có quan hệ
tác ñộng qua lại với nhau và tác ñộng với môi trường bên ngoài.Trong ñề tài, chính
quyền xã ñược cấu thành bởi Hội ñồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã, ñồng thời
17

chính quyền xã cũng luôn tác ñộng qua lại với các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
hệ thống như Đảng ủy xã, Mặt trận Tổ quốc xã và các tổ chức thành viên, quần chúng
nhân dân, chính quyền cấp trên…Nếu trung ương và toàn quốc ñược xem là chỉnh thể,
hệ thống của cái vĩ mô thì cơ sở thường ñược xem là một bộ phận hợp thành của hệ
thống quản lý nhà nước, ñứng ñầu là nhà nước trung ương. Cơ sở thường ñược hình
dung là cái vi mô, là một tế bào, là một phần tử hợp thành của cái vĩ mô- cả nước và
toàn quốc như một cơ thể sống. Xã vừa là bộ phận cấu thành của một chỉnh thể quản lý
nhà nước và xã hội, vừa là chỉnh thể của bản thân nó. Xã là một chỉnh thể trong hoạt
ñộng vận hành, tổ chức và ñiều chỉnh như tự nó ñã là một cơ thể sống, dù nó vẫn là
một tế bào hợp thành toàn bộ cơ thể sống của nhà nước, một cấu kiện tạo
nên tòa nhà xã hội.

Xã, trong một chừng mực nào ñó mà xét, nó là “vi mô” của nhà nước và xã hội
nhưng tự nó ñã là “cái vĩ mô” với một môi trường, một không gian xác ñịnh, với vô số
các quan hệ xã hội nhiều chiều ñan xen nhau vô cùng phức tạp. “Cái xã hội” và “cái
nhà nước” thu nhỏ ấy, trong hình thái của xã ñã làm cho xã là vi mô nhưng mang tầm
của vĩ mô khi hàng ngày, hàng giờ phải lo chuyện an sinh – an ninh, ñồng thuận và hòa
hợp ñể phát triển cho hàng nghìn, hàng vạn con người. Xã là một tế bào, làm nên sự
sống của chính cơ thể nó và ñem lại sự sống cho cơ thể lớn hơn là xã hội


Mỗi thành viên phải hiểu công việc của mình và có một tập hợp các nhiệm vụ. Mỗi
người phải có tiềm năng cần thiết ñể thực hiện công việc bao gồm cả quyền ra lệnh cho
người khác và mỗi vị trí phải có giới hạn, quyền lực xác ñịnh.
- Những ñiều luật ñể quản lý văn phòng có thể là những quy ñịnh có tính kỹ
thuật hoặc những chuẩn mực. Nếu nhà quản lý mong muốn hoàn thiện một cách hợp lý
việc quản lý văn phòng thì ñiều cần thiết là nhân viên phải ñược ñào tạo chuyên
19

nghiệp, bài bản. Sự hiểu biết và kỹ năng lao ñộng của nhân viên hành chính là ñiều cơ
bản ñể khẳng ñịnh tính hợp pháp của họ.
- Các mối quan hệ của tổ chức ñược giữ riêng biệt. Tài sản của tổ chức hoàn
toàn tách biệt với tài sản của các thành viên của nó. Nơi ở của các nhân viên hành
chính cũng cách xa tổ chức. Điều này giúp cho một người với cương vị hành chính
không bị lẫn với cương vị của họ trong nhóm xã hội khác.
- Các quan chức không “sở hữu” văn phòng của họ.
Dựa trên quan ñiểm của Max Weber, chúng ta có thể tiếp cận bộ máy chính
quyền cơ sở với tư cách là bộ máy hành chính. Thông qua việc ñối chiếu với sáu ñặc
ñiểm của bộ máy hành chính mà Max Weber ñưa ra, chúng tôi cho rằng những nguyên
nhân dẫn tới tình trạng kém hiệu lực của chính quyền cơ sở có thể là do:
- Do hệ thống văn bản pháp luật quy ñịnh về chức năng, quyền hạn của chính
quyền cơ sở chưa rõ ràng và chưa phù hợp.
- Trình ñộ chuyên môn của ñội ngũ cán bộ cấp cơ sở có thể yếu kém dẫn tới
việc không hoàn thành vai trò xã hội.
- Do ñặc ñiểm của chính quyền ở cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính
quyền bốn cấp, là cấp gần dân nhất do ñó những mối quan hệ dòng họ, quan hệ thân
quen, văn hóa ứng xử truyền thống có thể ảnh hưởng ñáng kể tới bản thân cấu trúc của
bộ máy và hiệu lực của chính quyền cơ sở.
*2. Theo Max Weber, một tổ chức hành chính cần phải thực hiện bốn ñiều như
sau [20]:
- Hoạt ñộng của tổ chức dựa vào các văn bản pháp quy, quy ñịnh có từ trước

Blumer khẳng ñịnh rằng các yếu tố của hệ thống xã hội, cấu trúc xã hội, tổ chức
xã hội, văn hóa, vị thế, vai trò xã hội, truyền thống, giá trị, chuẩn mực xã hội là những
ñiều kiện của tình huống xã hội trong ñó con người hành ñộng và tương tác với nhau.

Trích đoạn Chớnh quyền Bộ mỏy hành chớnh Nguyờn nhõn từ phớa văn bản phỏp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status