Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chè Than Uyên - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chè là một loại cây công nghiệp dài ngày có vị trí quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Chè đã khẳng định vị trí của mình không chỉ thỏa mãn nhu cầu
tiêu dùng trong nước mà còn phục vụ cho xuất khẩu thu ngoại tệ.
Chè được biết như là một thức uống hàng ngày của rất nhiều nước trên
thế giới như ở Anh, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nga… Theo điều
tra thì Châu Âu có 30 nước biết uống chè, ở Châu Mỹ là 32 nước, ở Châu Á là
21 nước. Điều này bởi một nguyên nhân trong chè tổng hợp nhiều cafein và các
chất teofilin, teobromon. Các chất trên kích thích sự làm việc của tim và các cơ
quan khác của cơ thế, giảm mệt mỏi, phục hồi khả năng làm việc của các cơ
quan khác của cơ thể con người. Ngày nay thì con người biết nhiều hơn các chất
khác có trong chè như các loại vitamin, các chất khoáng và các hợp chất khác.
Chè là cây công nghiệp dài ngày có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
xã hội nước ta. Uống chè từ lâu đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống
hàng ngày, một tập quán mang nét văn hoá của người Việt Nam. Chè còn là sản
phẩm xuất khẩu quan trọng trong ngành nông nghiệp nước ta. Hiện nay, trên thế
giới có 39 nước trồng và chế biến chè thì Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và
đứng thứ 8 về sản lượng.
Chè được trồng ở rất nhiều nơi trên đất nước ta như : Yên Bái, Tuyên
Quang, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Sơn La, Hà Giang...Đối với Lai Châu, cây chè
phát triển còn tạo công ăn việc làm cho một lượng lao động rất lớn ở các vùng
nông thôn, đem lại thu nhập cho họ, góp phần xoá đói giảm nghèo, giúp nông
thôn rút ngắn khoảng cách về kinh tế với thành thị, thiết lập công bằng xã hội.
Thế nhưng cho đến nay năng suất chè của Lai Châu còn thấp, việc mở rộng diện
tích còn chậm so với nhiều vùng chè khác của cả nước. Khí hậu, điều kiện tự
nhiên của Lai Châu rất thích hợp cho trồng chè. Nhân dân các dân tộc tỉnh Lai
Châu có kinh nghiệm nhiều năm trong việc trồng và chế biến các sản phẩm về
chè. Phát triển ngành chè có ý nghĩa thiết thực, giúp xoá đói giảm nghèo, làm
Website: Email : Tel : 0918.775.368

nên trong chuyên đề thực tập của em còn nhiều khiếm khuyết nhất định. Em
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mong thầy và các cán bộ trong công ty chè Than Uyên chỉ bảo thêm, để làm cơ
sở cho việc học tập và làm việc của em sau này.
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
- Hệ thống và phân tích các cơ sở khoa học và những vấn đề trong
sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh
vực nông nghiệp mà cụ thể ở đây là doanh nghiệp thực hiện chế
biến biến nông sản.
- Đánh giá thực trạng về hoạt động sản xuất và kinh doanh và nâng
cao hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh của công ty chè Than
Uyên. Rút ra những nguyên nhân và những vấn đề kinh tế trong
sản xuất và kinh doanh của công ty.
- Kiến nghị phương hướng cho việc chăm sóc, sản xuất và kinh
doanh của công ty và những kiến nghị đối với các cơ quan thực
hiện quản lí nhà nước có liên quan đến ngành chè của tỉnh.
3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để đảm bảo tính khoa học, logic và thực tiễn thì trong chuyên đề có sử
dụng những phương pháp sau đây :
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp của các môn học Quản trị kinh doanh nông nghiệp,
môn Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh.
4.KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ.
Phần I. Cơ sở lí luận của nâng cao hiệu quả và trong sản xuất chè ở công ty chè
ở công ty chè Than Uyên.
Phần II. Thực trạng hiệu quả kinh tế .
Phần III. Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản
xuất chè ở công ty chè Than Uyên.

tai, hạn hán. Nhìn chung đây là loại đất trồng đứng về mặt kinh doanh tương đối
ổn định.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Cây chè có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ môi sinh. Hiện nay bình
quân độ che phủ trong cả nước chỉ còn 29,1%, trong đó nếu không kể hai vùng
Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long chỉ đạt 4,7% và 6,1% còn ở vùng núi
như vùng Tây Bắc chỉ còn 20,7%, Đông Bắc 19,4%... Bởi vậy, ở những nơi này
nếu được trồng chè chắc chắn sẽ nâng cao hệ số che phủ tốt hơn.
-Trồng chè thu hút một lượng lao động đáng kể (mỗi ha trồng chè bình
quân cần 2,2 lao động) ngoài ra chưa kể lao động cho chế biến và tiêu thụ.
1.2. Sản xuất chè với phát triển ngành công nghiệp chế biến
Phát triển cây chè Việt Nam luôn gắn liền với sự phát triển của ngành
công nghiệp chế biến nước ta. Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, sản xuất chè
công nghiệp bắt đầu bằng việc xây dựng nhà máy chè đầu tiên vào năm 1923.
Chế biến chè thời kỳ này bộ phận cối vò chè, máy sấy và máy phát điện. Những
năm 60, ở miền Bắc đã xây dựng hàng loạt nhà máy chè đen OTD lớn (12-43
tấn/ ngày) với thiết bị công nghệ chè đen và chè xanh của Trung Quốc và Liên
Xô. Những năm 90 lại có chè túi nhúng của Ý, thiết bị chế biến chè CTC của Ấn
Độ, chè xanh dẹt bán tự động của Nhật Bản. Hiện nay ngành công nghiệp chế
biến của ta đã phát triển theo hướng không ngừng đổi mới thiết bị và công nghệ
chế biến chè, đặc biệt là chế biến chè đặc sản và nghiên cứu các sản phẩm mới
theo dự báo của thị trường tiêu thụ chè tương lai.
1.3. Sản xuất chè với ngành xuất khẩu
Cây chè Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường của hơn 40 nước trên
thế giới, gồm có Liên Xô cũ và Đông Âu, Trung Cận Đông, Bắc Phi và gần đây
bước đầu đưa vào các thị trường khó tính như Tây Âu và Nhật Bản, do đó đã
đem lại một nguồn kim ngạch xuất khẩu đáng kể cho đất nước. Mỗi năm bình
quân chúng ta xuất khẩu được khoảng 50 nghìn tấn đem lại cho đất nước khoảng
50 triệu USD. Trong 10 tháng đầu năm 2006 xuất khẩu chè đã đạt khoảng 76

người nên cây chè đã được ghi vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà
nước Việt Nam, trong chương trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và
chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.Hiệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp
nông nghiệp
2.1. Các khái niệm
2.1.1Khái niệm, ý nghĩa của chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát
triển theo chiều sâu, nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình
tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó các chỉ tiêu biểu hiện mối
tương quan giữa kết quả sản xuấ so với chi phí sản xuất (chỉ tiêu hiệu quả thuận)
hoặc ngược lại (chỉ tiêu hiệu quả nghịch).
2.1.2 Nâng cao hiệu quả kinh tế là sử dụng hợp lí hơn các yếu tố của quá
trình sản xuất, với chi phí không đổi nhưng tạo ra được nhiều kết quả hơn. Như
vậy, phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sản xuất kinh doanh sẽ làm
giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.1.3.Phân loại chỉ tiêu hiệu quả
- Theo phạm vi tính toán, có thể phân thành:
+ Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả được xem xét trên phạm vi xã hội về
mặt kinh tế và xem xét cả các cơ sở kinh doanh và phạm vi về phạm vi xã
hội về các mặt môi trường, an ninh quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã
hội…
+ Hiệu quả tài chính là hiệu quả xem xét trong phạm vi cơ sở kinh
doanh.
Trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải phấn đấu đồng thời các
loại hiệu quả trên, song trong thực tế khó có thể đạt đồng thời các mục tiêu hiệu
quả tổng hợp đó.
- Theo nội dung tính toán, phân thành:

c. Suất hao phí
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các yếu tố đầu vào bình quân
Suất hao phí=
Đầu ra
Đầu ra có thể là đầu ra phản ánh lợi nhuận hoặc đầu ra phản ánh kết quả
sản xuất.
Chỉ tiêu suất hao phí phản ánh một đơn vị kết quả đầu ra cần bao nhiêu
đơn vị yếu tố đầu vào.
2.3.Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản
Khi phân tích hiệu quả dưới góc độ tài sản, các nhà phân tích thường tính ra
và so sánh giữa kì phân tích với kì gốc trên các chỉ tiêu “Sức sản xuất”, “Sức
sinh lợi”, “Suất hao phí” của tài sản và dựa vào sự biến động của các chỉ tiêu cụ
thể để đánh giá. Các chỉ tiêu này được tính cho tổng tài sản bình quân, tổng tài
sản cố định và tổng tài sản lưu động, cụ thể như sau.
* Hiệu quả sử dụng tổng tài sản
a. Sức sản xuất của tổng tài sản.
Søc s¶n xu©t cña
tæng tµi s¶n
=
Tæng doanh thu thuÇn
Tæng tµi s¶n b×nh qu©n
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản bình quân đem lại mấy đơn vị
doanh thu thuần. Sức sản xuất của tổng tài sản càng lớn, hiệu quả sử dụng tổng
tài sản càng tăng và ngược lại, nếu sức sản xuất của tổng tài sản càng nhỏ, hiệu
quả sự dụng tổng tài sản càng giảm. Tổng tài sản bình quân trong kì được tính
như sau:
Tæng tµi s¶n
b×nh qu©n

2.4. Phõn tớch hiu qu ca ngun vn
Ngoi vic xem xột hiu qu s dng vn di gúc ti sn, hiu qu s
dng vn cũn c xem xột c di gúc ngun vn. Di gúc ny, hiu
qu s dng vn c cỏc nh phõn tớch nhỡn nhn kh nng sinh li. õy l
mt trong nhng ni dung phõn tớch c cỏc nh u t, cỏc nh tớn dng v
cỏc c ụng quan tõm c bit vỡ nú gn lin li ớch ca h c v hin ti v
tng lai. ỏnh giỏ kh nng sinh li ca vn, ngi ta thng tớnh ra v so
sỏnh nhng ch tiờu sau:
H s doanh li ca vn kinh doanh: Ch tiờu ny cho bit mt ng vn
kinh doanh em li bao nhiờu ng li thun. Cỏch tớnh nh sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
HÖ sè doanh lîi
cña vèn kinh doanh
=
Lîi nhuËn
Vèn kinh doanh
Chỉ tiêu này càng lớn so với các kì trước hay so vơi các doanh nghiệp
khác, chứng tỏ khả năng sinh lợi của doanh nghiệp ngày càng cao, hiệu quả
kinh doanh càng lớn và ngược lại.
• Hệ số doanh lợi doanh thu thuần: Hệ số doanh lợi doanh thu thuần
phản ánh một đồng doanh thu thuần đem lại mấy đồng lợi nhuận. Trị số của
chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng cao hiệu quả
kinh doanh càng lớn. Chỉ tiêu này được tính như sau:

HÖ sè doanh lîi
cña doanh thu thuÇn
=
Lîi nhuËn
Doanh thu thuÇn

với mặt biển là 500-800m. Ở cùng một vùng sinh thái, cây chè trồng ở nơi
cao thường cho chất lượng chè nguyên liêu cũng như chè thành phẩm cao
hơn. Vào mùa khô chè ở vùng cao cho chất lượng cao hơn chè trồng vào mùa
mưa trồng ở vùng thấp. Cây chè có khả năng phát triển bình thường ở những
nơi khá cao tới 2000m so với mực nước biển. Ở độ cao này mây mù nhiều,
ánh sáng tán xạ, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cao nên ảnh hưởng,
tới sự tích luỹ chất lượng và hình thành nên nhiều hương thơm tự nhiên của
chè.
So với một số cây trồng khác cây chè yêu cầu về đất không nghiêm ngặt
lắm. Nhưng để cây chè sinh trưởng tốt, có tiềm năng cho năng suất cao và ổn
định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu là: tốt, nhiều bùn, có độ sâu,
chua, khả năng thoát nước. Độ Ph thích hợp là từ 4,5 -6, đất phải có độ sâu
thích hợp là 60cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét. Ở Trung Quốc người ta
cho rằng: những hương vị riêng của mỗi loại chè ở mỗi vùng chính là do sự
khác nhau của chất đất. Điều này phù hợp với điều kiện của Việt Nam, nếu
những người sành điều uống chè cũng thấy ngay được hương vị và chất
lượng chè ở các vùng khác nhau là khác nhau.
b.Thời tiết khí hậu
Cùng với địa hình đất đai, các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm trong không khí,
lượng mưa, thời gian chiếu sáng và sự thay đổi của mùa đều ảnh hưởng trực
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiếp đến năng suất, sản lượng và chất lượng chè. Cây chè bắt đầu sinh trưởng
ở nhiệt độ trên 10
0
C. Nhiệt độ trung bình hằng năm để cây chè sinh trưởng
và phát triển bình thường là 12,5
0
C. Cây chè sinh trưởng và phát triển tốt ở
nhiệt độ từ 15

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng thích ứng với các biện pháp kĩ thuật làm giảm tính thời vụ. Để có
cơ cấu giống chè hợp lý, việc chọn tạo là rất quan trọng trong công tác
giống. Ở Việt Nam đã chọn tạo được nhiều giống chè tốt bằng các
phương pháp chọn lọc cá thể : PH1, TRI777, 1A, TH-3, LDP
1
,LDP
2

Giống PH1 là giống có năng suất cao nhất từ trước tới nay. Trong
sản xuất đại trà từ 8-10 tấn, tại vườn chè cao sản Phú Hộ đạt 30 tấn
búp/ha. Giống PH1 cho chất lượng chè đen khá tốt, chị được hạn và gió
bão, khả năng chống sâu bệnh tương đương với chè trung du. Năm 1987
được cấp bằng sáng chế của uỷ ban khoa học kĩ thuật của Nhà nước và
Bộ nông nghiệp công nhận giống quốc gia.
Giống chè TRI-777 có nguồn gốc từ Việt Nam đưa sang Srilanca, cuối
năm 1977 lại trở lại Việt Nam. tại Việt Nam chè TRI-777 có hàm lượng
tanin và hoà tan khá, chế biến chè xanh có chất lượng cao, hương thơm
được biệt mùi hoa hồng, làm chè đen tại Srilanca đặt chất lượng loại I,
được thị trường Trung Đông và Tây Âu ưa chuộng.
Giống chè A1 có nguồn gốc từ Ấn Độ nhập nội năm 1923. Được
chọn lọc cá thể trong giống chè Maripur lá đậm. Giống chè cho phép chế
biến chè xanh đặc sản. Nhưng giống này không có quả, phải nhân giống
bằng phương pháp giâm cành, tỷ lệ xuất vườn thấp (50%). Giống chè TH-
3 có nguồn gốc từ Trung Quốc thuộc dòng chè Trung Quốc lá to, được
trồng tại xí nghiệp chè Tuyên Quang và Tân Trào( 1989-1993), năng xuất
cao hơn chè trung du (153,2%), có thể chế biến cả chè xanh, chè đen có
chất lượng khá tốt, kháng bệnh tốt, tỷ lệ sống cao.
Bên cạnh đặc tính của các giống chè, phương pháp nhân giống

Hàm lượng chất tanin và chất hoà tan ở chè đốn phớt liên tục thì
cao hơn ở chè đốn phớt cách năm. Ngoài phương pháp đốn, thời
vụ đốn cũng ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng chè. Kết quả
nguyên cứu tại Bắc Thái cho rằng: Trong điều kiện tưới nước nếu
đốn chè vào tháng 2 và tháng 4 không làm giảm sản lượng chè so
với đốn vào tháng 12 mà còn làm tăng sản lượng chè vụ đông
xuân ( tháng 10 đến tháng 3) từ 61,1% đến 124% so với đốn tháng
12 không tưới nước. Hơn nữa còn có tác dụng tạo thêm việc làm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cho người làm chè vụ đông-xuân (sản lượng chè vụ động xuân đạt
32,2% đến 50,73% so với sản lượng cả năm).
 Che nắng: cây chè tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện
ánh sáng tán xạ. Ở nhiều nước trên thế giới: Ấn Độ, Srilanca, Nhật
Bản thường áp dụng biện pháp trồng cây tạo bóng mát cho chè,
việc che bóng mát thích hợp sẽ làm giảm 30% ánh sáng mặt trời
gay gắt thì tăng 34% sản lượng búp. Cường độ ánh sáng cũng ảnh
hưởng lớn đến sinh trưởng và phẩm chất chè.
 Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện
pháp kĩ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè,
tăng năng suất, và chất lượng cây chè. Chè là cây thích ứng với
điều kiện dinh dưỡng rất rộng rãi, nó có thể sống ở nơi đất màu
mỡ, song cũng có thể sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt
dinh dưỡng mà vẫn cho năng suất nhất định. Muốn nâng cao năng
suất và chất lượng tất nhiên là phải bón phân đầy đủ.
Các tài liệu của Ấn Độ, Nhật Bản, và Việt Nam đều cho rằng bón
đạm không hợp lý hoặc bón phân đơn độc sẽ làm giảm chất lượng
chè đặc biệt là đối với sản xuất chè xanh.
Bón lân làm cho năng suất rõ rệt, đặc biệt là bón trên nền N,K. Đất
thiếu N,K là hiệu quả của lân đối với chè thấp. Bón K cũng ảnh

thời gian nhanh nhất, chi phí thấp nhất để đạt được lợi nhuận tối đa. Mục tiêu mà
doanh nghiệp quan tâm nhất là lợi nhuận, vì lợi nhuận mà doanh nghiệp phải đổi
mới kĩ thuật, quy trình sản xuất để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản
phẩm.
Cuối cùng vấn đề sản xuất cho ai?. Ở đây muốn đề cập đến khâu phân
phối hàng hoá. Ai là người sẽ được tiêu dùng những hàng hoá đó, với khối lượng
là bao nhiêu.
Thực tế cho thấy, trong cơ chế thị trường thì thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển sản xuất của người trồng chè, doanh nghiệp chế biến và toàn bộ ngành
chè. Do vậy mà việc ổn định giá cả và ổn định thị trường là việc hết sức cần thiết
cho ngành chè, góp phần vào công cuộc hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
e.Cơ cấu sản xuất
Đa dạng hoá sản phẩm là quan điểm có ý nghĩa thực tiễn rất cao. Vừa có ý
nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa xã hội. Đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng nhu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cầu khác nhau của thị trường, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá nhưng
đồng thời phải phát huy được những mặt hàng truyền thống đã có kinh nghiêm
sản xuất và chề biến, được thị trường chấp nhận.
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp thường dẫn đến sự không ổn định
về giá cả. Vì thế mà sản xuất kinh doanh tổng hợp là yêu cầu khách quan để hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực của tính thời vụ và ảnh hưởng của thiên tai. Nếu
không hạn chế được thì những ảnh hưởng trên sẽ làm giảm sản lượng và chất
lượng chè tươi từ đó ảnh hưởng đến doanh nghiệp chế biến.
Để có một cơ cấu sản phẩm hợp lý thì doanh nghiệp cần dựa trên những
yếu tố như sau:
 Nhu cầu của thị trường về sản phẩm
 Căn cứ vào điều kiện tự nhiên của vùng
 Căn cứ vào hiệu quả kinh tế xã hội của sản phẩm
 Khả năng của doanh nghiệp, trang thiết bị máy móc của doanh

trung học dạy nghề thì chính các doanh nghiệp chế biến phải mở thêm các lớp
tập huấn để huấn luyện kĩ thuật cho đội ngũ này và cho cả những người lao động
trong công ty và cả những người trồng chè để nâng cao năng suất lao động cũng
như nâng cao năng suất và phẩm chất của cây chè.
h.Hệ thống chính sách vĩ mô
Thành tựu đổi mới kinh tế Việt Nam qua 20 năm qua do nhiều nguyên nhân
tác động. Trong đó có sự đóng góp tích cực của đổi mới kinh tế vĩ mô. Sự đổi
mới kinh tế này được diễn ra ở tất cả các ngành, lĩnh vực và trong cả đời sống.
Trong nền kinh tế thị trường các chính sách vĩ mô có ảnh hưởng đến sự phát
triển của ngành chè kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Có cả một hệ thống chính sách
của Nhà nước nhưng những chính sách quan trọng nhất là: chính sách thuế,
chính sách thị trường, chính sách đầu tư và tín dụng.
Đối với người trồng chè nói riêng và ngành chè nói riêng, việc đưa ra chính
sách thuế phù hợp sẽ khuyến khích ngành chè phát triển. Trong nền kinh tế việc
xác định mức thuế phù hợp là điều cần thiết. Nếu mức thuế thấp, không khuyến
khích được ngành chè tăng cường đổi mới công nghệ trong sản xuất và chế biến.
Nếu mức thuế cao, sẽ làm giảm lợi nhuận của ngành, không khuyến sản xuất
phát triển.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ phải có mức thuế phù hợp với
từng loại hình sản phẩm khác nhau thì mới khuyến khích doanh nghiệp phát
triển.
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn với sự ra đời và phát triển của sản
xuất và trao đổi hàng hoá nói chung, ngành chè nói riêng. Thị trường thừa nhận
sản phẩm của người lao động và thực hiện giá trị của sản phẩm. Thị trường tiêu
thụ sản phẩm chè cũng như một số thị trường nông sản khác là một thị trường đa
cấp:
- Thương nhân mua sản phẩm thô của nông dân ở cấp hộ gia đình.
- Nhà máy chế biến mua sản phẩm thương nhân ở cấp bán muôn

Ngoài vị trí địa lí thuận lợi, đặc điểm thổ nhưỡng của đất đai rất phù hợp với
sự phát triển của cây chè. Mặc dù là 2 xã miền núi nhưng 2 xã Thân Thuộc và
Mường Khoa có một diện tích rộng lớn rất thích hợp cho cây chè phát triển.
Theo sở Khoa học công nghệ và môi trường Lai Châu thì đất đai Than Uyên
được hình thành trên các trầm tích, phiến sa thạch phiến thạnh sét và phiếm
mica, có độ dốc dưới 25
0
, tầng dày trên 70cm, độ PH thích hợp từ 3,5-6, hàm
lượng NPK thuộc loại trung bình. Một địa hình rất thích hợp với yêu cầu về đất
đai thổ nhưỡng của cây chè như đã nói ở các phần trước. Ngoài diện tích đất phù
hợp với cây chè thì Than Uyên có một lượng lớn đất đai chưa được khai thác.
Đây là tiềm năng rất lớn để Than Uyên mở rộng diện tích trồng chè, từ đó mở
rộng quy mô của nhà máy chế biến trong thời gian tới. Để thấy được thấy được
tình hình sử dụng đất đai ta có bảng sau:
Bảng 1. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT Ở THAN UYÊN NĂM 2006
( đơn vị: ha )
Mục đích sử dụng, loại đât Diện tích(ha) Tỉ lệ(%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 169.095,73 100
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. Đất nông nghiệp
1.Đất sản xuất nông nghiệp
-Đất trồng cây hằng năm
-Đất trồng cây lâu năm
2.Đất lâm nghiệp
-Đất rừng sản xuất
-Đất rừng phòng hộ
-Đất rừng đặc rụng
3.Đất nuôi trồng thuỷ sản
4.Đất nông nghiệp khác

Than Uyên 1.381 1.431 1.460
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Lai Châu năm 2006
Than Uyên có tổng diện tích tự nhiên là 169.095,73ha. Trong đó đất sản
xuất nông nghiệp là 65735,56ha chiếm 38,87% diện tích đất tự nhiên. Đất trồng
cây lâu năm là 2.2527,42ha chiếm 1,49% diện tích đất tự nhiên. Đất trồng chè có
sản phẩm là 1.460ha. Chiếm 57,76% có thể nói rằng cây chè là cây chiếm phần
lớn trong diện tích trồng cây lâu năm. Với tỉ lệ là 57,76% thì cây chè còn có thể
mở rộng thêm nữa trong phần diện tích của cây công nghiệp. Đó là chưa kể phần
diện tích đất chưa sử dụng chiếm 58,59%, đây cũng là một phần diện tích có
thểm mở rộng của cây chè trong tương lai.
1.1.2.Đặc điểm thời tiết khí hậu
a. Độ ẩm và lượng mưa
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chè là loại cây thu hoạch búp tươi và lá non, nên cây ưa ẩm và cần nhiều
nước, yêu cầu lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1500mm phân bố đều
trong năm là 100mm trở lên. Độ ẩm không khí cao trong thời kì trong suốt
thời kì sinh trưởng là 85%.
Bảng 3. ĐỘ ẨM TRUNG BÌNH TẠI THAN UYÊN.( đơn vị: %)
2004 2005 2006
Cả năm 84 83 82
Tháng 1 81 80 73
Tháng 2 78 83 79
Tháng 3 80 78 72
Tháng 4 83 78 74
Tháng 5 86 79 81
Tháng 6 86 91 90
Tháng 7 89 90 92
Tháng 8 91 90 89
Tháng 9 89 81 84

thấy về mặt tự nhiên thì Than Uyên rất thuận lợi cho việc phát triển cây chè là
cây trồng mũi nhọn của huyện cũng như của tỉnh trong tương lai.
b. Nhiệt độ không khí.
Than Uyên có hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh.
Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Tháng 6 đến tháng 9 là các tháng
có nền nhiệt độ cao, xong nền nhiệt độ đó chỉ dao động trong khoảng 19
0
C đến
23
0
C.
Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 sang năm. Nhiệt độ biến động
trong khoảng 13
0
C đến 19
0
C. Nhiệt độ trung bình của huyện cũng chỉ dao động
trong khoảng 19
0
C đến 20
0
C.
Bảng 5: NHIỆT ĐỘ TRUNG BÌNH CỦA THAN UYÊN (đơn vị:độ C)
Nhiệt độ trung bình của huyện Than Uyên
2004 2005 2006
Trung bình cả năm 19,1 19,6 19,9
Tháng 1 13,7 13 13,9
Tháng 2 15,3 17,8 16,6
Tháng 3 18 16,5 18,7
Tháng 4 20,4 21,1 21,9

Xípxoongpảnnả (Vân Nam- Trung Quốc), nơi có những cây chè đại cổ thụ.
" Hàng ngày những đoàn thồ lớn 100-200 con lừa, chất đầy muối và gạo khi
đi và nặng chĩu chè khi về. Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà
cống nộp cho Hoàng đế Trung Hoa. Loại chè cao cấp này không bán ngoài
thị trường..; và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng
trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm
những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai
Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xíp xoongpảnnả ".
Ngay từ thời đó thì người dân tộc ở Lai Châu đã biết hái ngọn và cành bánh tẻ
về uống, không sao khô. Nhưng theo thời gian họ đã biết sao khô để uống và
mang để trao đổi lấy các vật phẩm khác như muối, gạo hay đem làm cống vật
cho các trưởng tộc địa phương. Sau giải phóng thì chè đã trở thành một mặt hàng
có giá trị kinh tế cao, được sản xuất để xuất khẩu sang các Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa anh em. Chè Lai Châu trong đó có chè Than Uyên và chè Tam
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Trích đoạn CễNG TY CHẩ THAN UYấN 1.Tỡnh hỡnh tiờu thụ chố 2.Mục tiờu phỏt triển ngành chố Việt Nam đến năm 2010 2.1 Mục tiờu chung Chớnh sỏch vốn Giải phỏp về giống chố Thị trường trong nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status