BÁO CÁO-PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM, CẤU TRÚC CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT - Pdf 27

PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM, CẤU TRÚC CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT

I. Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, phản ánh
trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết phải kể đến các quan hệ
sản xuất được thể hiện trong các luật lệ của nhà nước. Ý thức pháp luật xuất
hiện xuất hiện cùng với sự xuất hiện của pháp luật. Nó là sản phẩm của quá
trình phát triển của xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các hệ tư tưởng, quan
điểm và quan niệm trong xã hội. Ý thức pháp luật dần dần trở thành yếu tố
không thể thiếu trong đời sống xã hội.
Xung quanh khái niệm ý thức pháp luật còn có những quan niệm, cách
hiểu khác nhau, cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học cũng như trong thực tế
cuộc sống hằng ngày.
Theo quan niệm thông thường, ý thức pháp luật được hiểu một cách đơn
giản, gắn liền với một trong những biểu hiện cụ thể của nó, như ý thức chấp
hành pháp luật của một cá nhân hay tập thể nào đó, phản ứng của con người
trước một sự kiện pháp lý, thái độ của người dân đối với một văn bản pháp
quy. Thước đo trình độ ý thức pháp luật của một đối tượng cụ thể trong xã
hội phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi mà chủ thể bộc lộ ra trong
quá trình tuân thủ các nguyên tắc, quy định của pháp luật. Tuy còn đơn giản,
cảm tính song cách hiểu này góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh hành
vi pháp luật của các cá nhân trong xã hội.
Trong nghiên cứu lý luận, vấn đề ý thức pháp luật được quan tâm nghiên
cứu từ góc độ của nhiều ngành khoa học khác nhau như triết học, luật
học.v.v. và còn có những quan điểm khác nhau. Điều đó cũng dễ hiểu, vì
mỗi khoa học đều có cách tiếp cận nghiên cứu riêng, làm nên sự khác biệt
giữa các khoa học.
Dưới góc độ triết học, ý thức pháp luật được tiếp cận nghiên cứu trước
hết với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bên cạnh các hình thái ý thức
xã hội khác như ý thức chính trị, ý thức đạo đức.v.v. Trong các giáo trình
triết học Mác Lênin, ý thức pháp luật (còn gọi là ý thức pháp quyền) được

và thái độ đối với pháp luật. Một quan niệm khác đề cập đến ý thức pháp
luật một cách khá đầy đủ và chi tiết, theo đó. "ý thức pháp luật là tổng thể
những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội,
thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật
đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay
không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức
và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội" (Trường đại
học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2004). Như vậy, dưới góc độ luật học, bên cạnh việc tiếp
thu quan điểm triết học, coi ý thức pháp luật như một hình thái ý thức xã hội,
là toàn bộ những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm của một giai
cấp về bản chất và vai trò của pháp luật.v.v. các nhà luật học chủ yếu nhấn
mạnh đến: thứ nhất, chủ thể của ý thức pháp luật là các giai cấp, các nhóm
xã hội, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tầng lớp nhân dân; thứ
hai, nội dung của ý thức pháp luật thể hiện trình độ nhận thức, hiểu biết về
pháp luật, tình cảm, thái độ của con người đối với pháp luật, thể hiện sự
đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con
người, trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức
xã hội dưới môi trường điều trỉnh của pháp luật. Cách tiếp cận luật học tạo
cơ sở để có thể tìm hiểu, phân tích nội dung của ý thức pháp luật gắn với
từng chủ thể cụ thể.
Từ các điểm nêu trên, có thể định nghĩa: ý thức pháp luật là toàn bộ các
học thuyết, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan
hệ của con người đối với pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật, thái độ, sự
đánh giá về pháp luật của các giai cấp, tầng lớp xã hội, về tính hợp pháp hay
không hợp pháp trong hành vi ứng xử của con người, trong tổ chức và hoạt
động của các thiết chế xã hội.

II. Cấu trúc của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật có cấu trúc khá phức tạp. Việc xem xét và phân tích cấu

lớp khác trong xã hội thì tính khoa học, tính dân chủ và tính xã hội của hệ tư
tưởng sẽ thể hiện nổi trội, trở thành hệ tư tưởng chung cho toàn xã hội.
Ngược lại, nếu giai cấp thống trị là lực lượng thoái bộ, bảo thủ, áp đặc hệ tư
tưởng pháp luật của mình cho các giai cấp, tầng lớp khác thông qua sức
mạnh cưỡng chế của pháp luật thì hệ tư tưởng pháp luật đó mang tính chất
phản động, lạc hậu.
Tâm lý pháp luật là một bộ phận quan trọng của ý thức pháp luật, hình
thành tự phát dưới dạng tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của các cá nhân và các
nhóm xã hội đối với pháp luật cũng như các hiện tượng pháp lý xảy ra trong
đời sống xã hội. Tâm lý pháp luật chỉ biểu hiện cấp độ nhận thức thông
thường dựa trên cơ sở tình cảm pháp luật truyền thống, kinh nghiệm sống,
tập quán và tâm lý xã hội. Sự phát sinh, tồn tại của tâm lý pháp luật chính là
sự thể hiện tâm lý của con người một cách trực diện trước các sự việc, sự
kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội, mang nặng tính chất
cảm tính, chủ quan. Nội cách khác là ở cấp độ này, ý thức pháp luật chỉ mới
thể hiện ở sự thừa nhận, tiếp thu và xử sự theo sự thừa nhận và tiếp thu đó:
điều hay lẽ phải, việc nên làm, việc nên tránh, theo tình cảm hướng thiện. Có
thể nói, tâm lý pháp luật (dưới dạng tính cảm, cảm xúc đối với pháp luật là
"nguồn sữa" nuôi sống hệ tư tưởng pháp luật, bảo vệ tồn tại và phát triển hệ
tư tưởng pháp luật.
Tâm lý pháp luật của cá nhân thường bị quy định bở tư tưởng pháp luật
của cá nhân đó. Vì vậy, đối với từng cá nhân nói riêng, nếu không có tâm lý
pháp luật tích cực thì không có hệ tư tưởng pháp luật và do đó cũng không
có ý thức pháp luật. Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng tâm lý phảm luật là
mảnh đất nuôi sống tư tưởng pháp luật, hình thành ý thức pháp luật một cách
đầy đủ nhất.
Ý thức pháp luật nói chung, tâm lý pháp luật nói riêng có quan hệ mật
thiết với pháp luật. Nói như vậy không có nghĩa là khi ban hành pháp luật
mọi người đều có ý thức và thái độ đúng đắn đối với pháp luật, mà thái độ
đúng đắn đối với pháp luật chỉ có thể hình thành và xây dựng trên cơ sở ý

giải các sự kiện pháp luật; do đó, nó chủ yếu mang tính kinh nghiệm, kém
sâu sắc và thiếu sự ổn định.
Ở cấp độ nhận thức này, ý thức pháp luật nhìn chung mới chỉ biểu hiện ở
việc con người thừa nhận, tiếp thu các nguyên tắc, quy định chung của pháp
luật và xử sự theo sự thừa nhận, tiếp thu đó. Mặc dù vậy, ý thức pháp luật
thông thường có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. Nó giúp
cho chủ thể pháp luật nhận thức, xử lý nhanh chóng, kịp thời các tình huống
pháp luật xảy ra trong thực tế; định hướng và điều chỉnh hành vi pháp luật
phù hợp với các quy định của pháp luật trong chừng mực chấp nhận được.
Trước khi các lý luận khoa học pháp lý có thể can thiệp vào từng tình huống
pháp luật cụ thể của cuộc sống thì ý thức pháp luật thông thường là cái cần
thiết, cái thường trực trong mỗi người khi họ tham gia vào các quan hệ pháp
luật. Như vậy, ý thức pháp luật thông thường có tính phổ quát, phong phú,
được đặc trưng bằng các yếu tố tâm lý xã hội. Nó là nền tảng không thể
thiếu để xây dựng và phát triển ý thức pháp luật lý luận.
Thứ hai, ý thức pháp luật lý luận: ý thức pháp luật lý luận thể hiện trình
độ nhận thức cao, mang tính hệ thống và sâu sắc về các vấn đề có tính bản
chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật dưới dạng các khái niệm, các
phạm trù khoa học pháp lý. Nó là sự nhận thức có căn cứ khoa học, chỉ ra
được cái bản chất, mối quan hệ bên trong của các hiện tượng pháp luật. Để
đạt tới cấp độ ý thức pháp luật lý luận thì ngoài các điều kiện cần thiết về
tuyên truyền, giáo dục chung như đối với ý thức pháp luật thông thường, còn
cần phải trai qua một quá trình học tập, đào tạo, nghiên cứu có hệ thống, qua
hoạt động thực tiễn và được kiểm nghiệm trong thực tiễn đời sống pháp luật.
Ý thức pháp luật lý luận là cơ sở cho hoạt động sáng tạo pháp luật, truyền bá
tư tưởng, quan điểm pháp lý cũng như những hoạt động pháp luật thực tiễn.
Như vậy, ý thức pháp luất lý luận thể hiện tính tư tưởng và tính khoa học sâu
sắc.
Bên cạnh ý thức pháp luật thông thường và ý thức pháp luật lý luận, có
nhà nghiên cứu còn đề cập đến cập độ ý thức pháp luật nghề nghiệp, coi nó

ích cơ bản.v.v. nên về ý chí, nhận thức cũng có những điểm chung tương đối
thống nhất với nhau và tạo thành ý thức nhóm. Sự tiếp nhận và cùng chia sẽ
giữa các thành viên trong nhóm xã hội trước các sự kiện, hiện tượng pháp
luật làm hình thành nên ý thức pháp luật của nhóm. Ý thức pháp luật của
nhóm xã hội loại trừ ra ngoài những nét khác biệt của từng cá nhân và chỉ
giữ lại những nét chung điển hình, đặc trưng cho tư tưởng, quan điểm, tâm
lý và thái độ của nhóm xã hội. Có thể coi ý thức pháp luật nhóm là khâu
trung gian, liên kết ý thức pháp luật của cá nhân với ý thức pháp luật xã hội.
Do mang tính khái quát hơn và sâu sắc hơn so với ý thức pháp luật của cá
nhân nên ý thức pháp luật nhóm tạo cơ sở vững chắc hơn cho sự phán xét
đánh giá của dư luận xã hội về một thực tiễn pháp luật nhất định.
Thứ ba, ý thức pháp luật xã hội: ý thức pháp luật xã hội là ý thức đã được
kết tinh, chứa đựng những tư tưởng, quan điểm khoa học được thừa nhận và
thịnh hành trong xã hội về pháp luật và những vấn đề cơ bản nhất của đời
sống pháp luật xã hội. Nó là ý thức của bộ phận tiên tiến, đại diện cho xã
hội, được chính thức hóa trong toàn xã hội. Ý thức pháp luật xã hội được
hình thành xuất phát từ ý thức pháp luật của cá nhân và ý thức pháp luật
nhóm, nhưng nó không phải là tổng số đơn giản các nội dung chứa đựng
trong đó, mà là ý thức pháp luật mới về chất, là kết quả được chắt lọc, kết
tinh từ quá trình tương tác giữa các cá nhân với nhau, cá nhân với nhóm xã
hội, và giữa các nhóm xã hội với nhau. Khác với ý thức pháp luật của cá
nhân và ý thức pháp luật của nhóm xã hội, ý thức pháp luật xã hội mang tính
khái quát ở trình độ cao, có cơ sở khoa học và tính hệ thống chặt chẽ. Hệ
thống quan điểm, tư tưởng của ý thức pháp luật xã hội giữ vai trò định
hướng và quyết định đối với nội dung các phán xét, đánh giá của dư luận xã
hội về các vấn đề pháp luật.
Sự phân chia ý thức pháp luật thành các bộ phận dù là theo tiêu chí nào
cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối, phục vụ cho các mục đích khảo sát,
nghiên cứu, bởi vì các bộ phận hợp thành đó luôn nằm trong mối liên hệ chặt
chẽ với nhau, thẩm thấy vào nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status