ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP KINH TẾ THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT CHUỐI TIÊU XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM
Hoàng Bằng An
1
, Nguyễn Văn Nghiêm
1
, Hoàng Việt Anh
2
,
Lê Như Thịnh
2
, Nguyễn Hoàng Yến
2
TÓM TẮT
Để góp phần phát triển chuối tiêu phục vụ xuất khẩu, đã tiến hành điều tra ở miền Nam và miền Bắc, bao gồm các
tỉnh, thành: Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Nai, Hưng Yên, Phú Thọ, Hải Phòng với 1.000 mẫu cho các đối tượng sản
xuất, chế biến và tiêu thụ chuối nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp kinh tế thị trường phát triển chuối
tiêu xuất khẩu ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy: Hiện tại, chuối là một trong những cây ăn quả có
diện tích lớn nhất (>100.000 ha) trong các cây ăn quả ở Việt Nam, trong đó chuối tiêu chiếm khoảng 20% ở các tỉnh
miền Nam và khoảng 50% các loại chuối ở các tỉnh miền Bắc. Ngoài tiêu dùng nội địa, hàng năm Việt Nam đã xuất
khẩu chuối với giá trị kim ngạch hàng triệu đô la Mỹ. Mặc dù vậy, cây chuối vẫn không được coi là cây ăn quả chủ
lực của các địa phương và không có trong kế hoạch phát triển trên hầu hết các tỉnh, thành của Việt Nam do một số
nguyên nhân: Đầu ra không ổn định, giá bán thấp, chưa thực sự đầu tư thâm canh cây chuối, người sản xuất tự lo giải
quyết sản phẩm; các nhà xuất khẩu chuối không thực sự phối hợp với người sản xuất chuối. Bước đầu đã đề xuất một
số giải pháp về kinh tế và thị trường nhằm góp phần phát triển chuối tiêu xuất khẩu ở Việt Nam.
Từ khóa: Hiện trạng, giải pháp, phát triển chuối tiêu xuất khẩu.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
miền Nam, Bắc: Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Nai, Hưng
1
TS. Viện Nghiên cứu Rau quả
2
Viện Nghiên cứu Rau quả
Yên, Phú Thọ, Hải Phòng. Ngoài ra còn sử dụng phương
pháp chuyên khảo để tìm hiểu những mô hình sản xuất
kinh doanh điển hình nhằm phát hiện ra các nhân tố mới,
tích cực có thể nhân rộng.
- Phương pháp phân tích
+ Phương pháp phân tích tài chính.
+ Phương pháp thống kê miêu tả.
+ Phương pháp thống kê so sánh.
Công cụ: sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp và
phân tích số liệu.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu chuối trên
thế giới
Theo số liệu của FAO, có khoảng 130 nước trên thế
giới sản xuất chuối, với sản lượng khoảng trên 88 triệu
tấn, trong đó 98% được sản xuất tại các nước đang phát
triển. Chỉ riêng Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin, Braxin,
Ecuado sản xuất khoảng trên 60% tổng sản lượng chuối
thế giới. Những năm 1970-1980, các nước Mỹ La Ting
và khu vực Caribê là khu vực sản xuất chuối chính của
thế giới, thì hiện nay khu vực châu Á đã vượt lên dẫn
đầu, tiếp theo là các nước Nam Mỹ và cuối cùng là châu
Phi.
thứ 3 thế giới. Nguồn chuối nhập khẩu chủ yếu từ
Philippin và Ecuado, chiếm tới 95% lượng chuối nhập
khẩu vào Nhật Bản trong giai đoạn 1990-2007.
2. Tình hình sản xuất, chế biến, xuất nhập khẩu
chuối của Việt Nam
a. Tình hình sản xuất
Theo số liệu thống kê chuối là cây ăn quả có diện
tích và sản lượng lớn nhất trong các cây ăn quả ở Việt
Nam. Năm 2008 diện tích chuối của cả nước là 111.728
ha, sản lượng xấp xỉ 1,603 triệu tấn.
Bảng 1: Tốc độ phát triển bình quân chuối hàng năm
phân theo địa phương
Nguồn: Tổng cục Thống kê - 2005-2009
Vùng trồng chuối lớn nhất là đồng bằng sông Cửu
Long chiếm 32,54% về diện tích và 22,92 % về sản
lượng, tiếp đến là đồng bằng sông Hồng 14,76% và
25,35%; Bắc Trung bộ 14,55% và 19,26%. Tuy nhiên,
về năng suất thì chuối trồng ở đồng bằng sông Hồng cho
năng suất cao nhất so với các vùng khác.
Các tỉnh trồng nhiều chuối nhất là: Thanh Hoá,
Nghệ An, Khánh Hoà, Đồng Nai, Sóc Trăng, Cà Mau,
với diện tích từ 3.000 - 8.000 ha; sau đó là một số tỉnh,
thành ở miền Bắc như Hải Phòng, Nam Định, Phú Thọ,
v.v khoảng dưới 3.000 ha mỗi tỉnh.
Về tốc độ phát triển bình quân về diện tích cao nhất
là Tây Bắc 8,18%/năm, nhưng về sản lượng thì vùng Bắc
Trung bộ có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất đạt
10,68% /năm do diện tích chuối cho thu hoạch cao hơn.
Về giống: hiện tại các địa phương vẫn sử dụng các
giống chuối tiêu truyền thống của địa phương mình. Mấy
Tốc độ phát triển hàng
năm giai đoạn 2004-
2008 (%)
STT Tỉnh, thành phố
Di
ện tích
S
ản l
ư
ợng
Cả nước 2,28 4,31
Miền Bắc
0,87 5,82
I Đồng bằng sông Hồng -1,34 3,63
II Đông Bắc 3,48 2,36
III Tây Bắc 8,18 5,87
IV Bắc Trung bộ 0,35 10,68
V NamTrung bộ 3,30 6,65
VI Tây Nguyên 2,28 7,92
VII Đông Nam bộ 0,01 1,57
VIII
Đồng bằng sông Cửu
Long
4,80 1,09
Bảng 2. Tiêu thụ chuối của các hộ nông dân
ĐVT: %
Miền Bắc Miền Nam Khách hàng
ở vụ hè do có chất lượng tốt hơn nên giá bán cao hơn
chuối tiêu.
c. Hiệu quả sản xuất chuối
Bảng 4. Hiệu quả kinh tế cây chuối tiêu (Tính cho 1ha gieo trồng)
Miền Bắc Miền Nam
STT
Chỉ tiêu
ĐVT
Hưng Yên
Hải
Phòng
Phú
Thọ
Trà Vinh Tiền
Giang
Đồng Nai
1 Thu nhập hỗn hợp (MI) 1.000đ 115.611
69.500
138.575
25.904 19.627 31.470
2 Gía trị sản xuất/ ngày LĐGĐ 1.000đ 462,58
164,87
trung theo mô hình hợp tác như kiểu hợp tác xã dịch vụ
nông nghiệp Tứ Dân, Tân Châu - Khoái Châu, Ngọc
Thanh - Kim Động - Hưng Yên. Tuy nhiên diện tích tập
trung cũng chưa đủ lớn để kéo theo sự phát triển của các
ngành dịch vụ khác.
đ. Chế biến chuối
Chế biến chuối còn rất hạn chế, sản phẩm chuối chế
biến chủ yếu là chuối sấy khô, một phần được làm thành
bánh, kẹo chuối với công nghệ chế biến chủ yếu là thủ
công. Điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo.
Bao bì nhãn mác chưa có sức cạnh trạnh trên thị trường.
e. Xuất, nhập khẩu chuối
Chuối Việt Nam cũng đã được xuất khẩu sang khắp
các châu lục. Các nước nhập khẩu chuối của Việt Nam
nhiều là Trung Quốc, Liên bang Nga, Hà Lan, Ucraina,
Đức, Mông Cổ, Niu-Di-Lân, Mỹ, Ôxtrâylia, trong đó
Trung Quốc và Liên bang Nga là hai nước nhập khẩu
chuối từ Việt Nam nhiều nhất.
Khối lượng chuối xuất khẩu của Việt Nam còn rất
thấp so với sản lượng chuối sản xuất ra và không ổn định.
Năm xuất khẩu nhiều nhất là năm 2004 mới đạt
2.520.527 USD, năm 2005 là 1.521.594 USD, năm 2006
là 1.524.074 USD, năm 2007 giảm chỉ còn 711.271 USD;
đến năm 2008 lại tăng và đạt 1.218.393 USD. Mặc dù số
nước nhập khẩu chuối của Việt Nam giảm không nhiều,
nhưng kim ngạch xuất khẩu lại giảm mạnh, điển hình như
Liên bang Nga: năm 2006 là 689.929 USD, năm 2007 còn
97.049 USD, năm 2008 là 246.925 USD; Đài Loan năm
2006 là 66.263 USD, năm 2007 là 1.540 USD, năm 2008
là 19.340 USD; Pháp năm 2006 là 62.332 USD, năm
2004 2005 2006 2007 2008
Năm
Nhập khẩu
Xuất khẩu
Nguồn: Tổng cục Hải Quan 2004-2009
Một thực tế đang diễn ra, Việt Nam cũng nhập khẩu
chuối từ các nước trên thế giới, bao gồm chuối tươi và
chuối chế biến. Kim ngạch nhập khẩu chuối cao nhất là
năm 2007 với 1.140.329 USD từ các nước Bờ biển Ngà
621.990 USD, Ghinê Bitxao 375.084 USD, Campuchia
62.000 USD, Trung Quốc 30.082 USD đến năm 2008
kim ngạch nhập khẩu chuối chỉ còn 2.515 USD.
3. Bước đầu đề xuất một số nhóm giải pháp kinh
té và thị trường
a. Nhóm giải pháp kinh tế
+ Quy hoạch và tổ chức các vùng sản xuất chuối
tiêu tập trung
- Quy hoạch các vùng sản xuất chuối tiêu tập trung
trên cơ sở phục vụ cho từng thị trường nhập khẩu cụ thể
nhằm đáp ứng các yêu cầu đặc thù cho từng quốc gia.
Vùng quy hoạch phải ổn định ít nhất trong vòng 10 năm
để ổn định sản xuất, khai thác triệt để các đầu tư cho cơ
sở hạ tầng như điện, đường, nước đủ điều kiện áp dụng
các quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn GAP.
- Quy mô vùng sản xuất tập trung khoảng 400-500
ha, có đủ điều kiện về đất đai, nguồn nước, môi trường
sinh thái và là những vùng có truyền thống sản xuất
chuối tiêu. Các vùng được quy hoạch được đầu tư cơ sở
hạ tầng cho sản xuất theo tiêu chuẩn GAP bao gồm:
tại các cơ sở sản xuất, nhằm tạo ra mối liên kết trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm.
- Xây dựng mối quan hệ bạn hàng lâu dài thông qua
các hợp đồng kinh tế.
+ Tham gia các triển lãm, hội chợ, hội thảo trong
nước và quốc tế nhằm tăng khả năng quảng bá sản phẩm
và tăng khả năng tiếp xúc, đàm phán với khách hàng.
+ Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu hàng
hoá cho vùng sản xuất chuối xuất khẩu
- Tạo lập nhãn hiệu và bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá;
- Xây dựng quy chế quản lý, khai thác, phát triển
nhãn hiệu hàng hoá;
- Tạo thanh danh cho sản phẩm chuối trên thị
trường.
+ Cho phép các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu
tư sản xuất, trực tiếp xuất khẩu chuối.
- Tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh
nghiệp trong nước và nước ngoài trong xuất khẩu chuối;
- Tăng khả năng giải quyết đầu ra sản phẩm, nâng cao
thu nhập của người sản xuất;
- Làm cho thương hiệu chuối của Việt Nam nhanh
được nâng lên trên thị trường quốc tế.
- Góp phần giải quyết vấn đề vốn, nguyên liệu đầu
vào, chuyển giao kỹ thuật mới vào sản xuất chuối.
IV. KẾT LUẬN
Công tác quy hoạch, tổ chức sản xuất chuối theo
tiêu chuẩn GAP là những nhiệm vụ hàng đầu cho phát
triển sản xuất chuối tiêu xuất khẩu; bên cạnh đó không
thể không chú ý đến các yếu tố đảm bảo cho sản xuất
chuối tiêu xuất khẩu bền vững đó là các hỗ trợ từ phía
Hoang Bang An, Nguyen Van Nghiem, Hoang Viet Anh,
Le Nhu Thinh, Nguyen Hoang Yen
Summary
To contribute to the development objectives of bananas for export, two surveys were implemented
in the Southern and Northern Vietnam, including Tien Giang, Tra Vinh, Dong Nai, Hung Yen, Phu
Tho, Hai Phong with the 1000 samples of production, processing and consumption of bananas in
order to assess the situation and propose solutions to the market economy development of export
aromatic banana in Vietnam. Research result initially shows: At present, the banana is one first
with the largest area (>100,000 ha) of the fruit in Vietnam, in there aromatic banana make up more
than 20% in the Southern Vietnam and about 50% in the North. Beside domestic consume, annual
Vietnam has export turnover of bananas worth millions of dollars. However, banana trees is not
considered the main fruit of the localities and not in the plan to develop the most provinces of
Vietnam. Because some of reasons are: the output is not stable, low price, not really investment-
intensive cultivation, banana producers self solving products; banana exporters do not really
coordinate with producers banana. Initially, some solutions to economic and market were proposed
in order to contribute to the development of export aromatic banana in Viet Nam.
Keywords: Initial, solution, development of aromatic banana export