Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý ở gà Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng (Coccidiosis) và đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA THÚ Y

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
“ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ Ở
GÀ AI CẬP MẮC BỆNH CẦU TRÙNG
(COCCIDIOSIS) VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG,
TRỊ BỆNH.”
Người thực hiện : ĐỖ HUYỀN TRANG
Lớp : TYC –K52
Khoa: Thú y
Người hướng dẫn : TS. BÙI TRẦN ANH ĐÀO
Bộ môn : BỆNH LÝ THÚ Y
HÀ NỘI - 2012
2
LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông
Nghiệp Hà Nội, nhờ sự dạy dỗ của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô
trong khoa Thú Y, tôi đã được trang bị những kiến thức cơ bản về chuyên môn
nghề nghiệp và tư cách đạo đức của một người cán bộ khoa học kỹ thuật
tương lai. Với những kiến thức tích luỹ được, cùng với sự hướng dẫn tận tình
của TS. Bùi Trần Anh Đào, tôi đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình.
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới:
TS. Bùi Trần Anh Đào – Cán bộ giảng dạy bộ môn Bệnh lý khoa Thú
Y, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, thầy đã luôn quan tâm, hướng dẫn và
chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực tập, giúp tôi hoàn thành tốt
đề tài của mình.
Các thầy cô trong bộ môn Bệnh lý – khoa Thú Y, trường Đại học Nông
Nghiệp Hà Nội đã tạo những điều kiện tốt nhất để tôi tiến hành nghiên cứu,
thực hiện đề tài.

2.2.7. Sinh bệnh học 16
2.2.8. Triệu chứng và bệnh tích của gà mắc bệnh Cầu trùng 17
2.2.9. Các phương pháp chẩn đoán bệnh Cầu trùng gà 19
PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 26
3.1.1. Địa điểm nghiên cứu 26
3.1.2. Thời gian nghiên cứu 26
3.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26
3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26
3.3.1. Theo dõi tình hình bệnh Cầu trùng trên đàn gà Ai Cập tại trại gia
cầm Hải Đồi 26
3.3.2. Theo dõi triệu chứng lâm sàng và bệnh tích gà Ai Cập mắc bệnh
Cầu trùng 26
ii
3.3.3. Xác định tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm và một số loài Cầu trùng
gây bệnh phổ biến trên đàn gà Ai Cập 27
3.3.4. Xây dựng quy trình phòng và điều trị bệnh Cầu trùng cho đàn gà
27
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.4.1. Tìm hiểu tình hình chăn nuôi và điều tra dịch tễ học bệnh Cầu
trùng trên giống gà Ai Cập tại xã Kim Long – huyện Tam Dương 27
3.4.2. Theo dõi, quan sát biểu hiện triệu chứng lâm sàng ở gà Ai Cập
mắc bệnh Cầu trùng 27
3.4.3. Quan sát bệnh tích gà Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng 27
3.4.4. Xác định tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm và các loài Cầu trùng gây
bệnh phổ biến trên 3 đàn gà bằng phương pháp xét nghiệm phân tìm
noãn nang Cầu trùng 27
3.4.5. Làm tiêu bản vi thể kiểm tra mức độ tổn thương tổ chức của gà

Bảng 4.1. Cơ cấu đàn gà tại trại gia cầm Hải Đồi 33
Bảng 4.2: Tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết do bệnh Cầu trùng
trên gà Ai Cập từ 1 – 90 ngày tuổi 34
Bảng 4.3: Cường độ nhiễm Cầu trùng trên gà Ai Cập từ 1 – 90 ngày
tuổi 36
Bảng 4.4: Các loài Cầu trùng gây bệnh trên đàn gà tại trại Hải Đồi
38
Bảng 4.5: Tỷ lệ nhiễm 5 loài Cầu trùng trên gà Ai Cập 38
Bảng 4.6: Tỷ lệ biểu hiện bệnh tích đại thể trên gà Ai Cập
mắc Cầu trùng 41
Bảng 4.7. Một số phác đồ điều trị Cầu trùng gà tại trại 50
Bảng 4.8. Tỷ lệ xuất hiện noãn nang Cầu trùng trong phân
sau khi sử dụng thuốc điều trị 51
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1. Tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết do bệnh Cầu trùng
trên gà Ai Cập từ 1 – 90 ngày tuổi 35
Biểu đồ 4.2. Cường độ nhiễm Cầu trùng trên gà Ai Cập
từ 1 – 90 ngày tuổi 37
Biểu đồ 4.3. Tỷ lệ nhiễm 5 loài Cầu trùng trên gà Ai Cập tại trại
39
Bảng 4.4. Tỷ lệ bệnh tích đại thể trên gà Ai Cập mắc Cầu trùng 44
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Vòng đời phát triển của Cầu trùng 11
Hình 4.1. Một số triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể
trên gà Ai Cập mắc Cầu trùng 45
Hình 4.2. Hình ảnh bệnh tích vi thể trên gà Ai Cập mắc Cầu
trùng 48
vii

hóa và hấp thu dưỡng chất, sự khử nước, mất máu và làm tăng tính mẫn cảm
với các tác nhân gây bệnh khác. Bên cạnh đó bệnh còn làm giảm sức đề
kháng của đàn gà, mở đường cho các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác xâm
nhập và bùng phát như Gumboro, Newcastle, E.coli…
Do tính chất nguy hiểm của bệnh nên đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học
trên thế giới cũng như ở Việt Nam để chế tạo vaccine phòng bệnh cầu trùng
và cũng có nhiều loại vaccine được sản xuất, lưu hành. Tuy nhiên hiệu lực
phòng bệnh chưa cao, chưa đem lại kết quả như mong đợi. Do đó, việc phòng
và điều trị bệnh bằng thuốc vẫn giữ vị trí quan trọng, hạn chế đáng kể thiệt hại
của bệnh trong quá trình chăn nuôi.
Xuất phát từ các vấn đề trên, đồng thời để hiểu rõ hơn ảnh hưởng của
tác nhân gây bệnh đến cơ thể ký chủ và tìm ra biện pháp hiệu quả để phòng
chống bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý ở gà Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng
(Coccidiosis) và đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh.”
1.2. Mục đích của đề tài
Xác định các đặc điểm bệnh lý chủ yếu (lâm sàng, đại thể, vi thể) ở gà
Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng làm cơ sở cho việc chẩn đoán, phòng và điều trị
bệnh.
2
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH CẦU TRÙNG Ở GÀ
2.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Năm 1863, Rivolta phát hiện ra một loại ký sinh trùng có trong phân
gà. Năm 1864, Eimeria đã xác đinh được đó là loài nguyên sinh động vật sinh
sản theo bào tử thuộc lớp Sprotozoa, bộ Coccidie, họ Eimeriadae.
Năm 1875, người ta đã xác định kết quả nghiên cứu của Eimeria và
đặt tên cho loại ký sinh trùng này là Eimeria. Ngày nay, nhiều loài cầu
trùng được phát hiện trên các loài động vật khác nhau. Sự ký sinh của cầu

và bệnh cầu trùng gà.
Nghiên cứu tính miễn dịch của Cầu trùng, Tyzzer (1929) cho biết: miễn
dịch được tạo ra tương đối bền vững với loài phát triển sâu trong mô bào,
miễn dịch kém bền vững với loài Cầu trùng chỉ phát triển trong lớp biểu bì
niêm mạc.
Năm 1962, Rose M.E và cộng sự đã chứng minh được tính miễn dịch
đặc hiệu theo loài rất nghiêm ngặt ở Eimeria bằng phương pháp kết tủa.
Singh.U.M (1996, 1997) đã nghiên cứu chế tạo vaccine cầu trùng mới
bao gồm: E.maxima, E. acervulina, E.necatrix, E. tennella đã được sử dụng
thử nghiệm tại Trung Quốc.
Nyberg và Knapp (1976) qua kính hiển vi điện tử cho thấy, lớp ngoài cùng
có thể khử bằng dung dịch Sodium Hypocloride 2 – 3% trong vòng 15 phút.
Pernard (1925) đã chứng minh noãn nang tiếp tục sinh bào tử sau nhiều
ngày tiếp xúc với nhiều loại hóa chất, chất sát trùng nhưng lại không có khả
năng phát triển trong điều kiện khô và nhiệt độ cao.
4
Long P.L và cs (1979) cho rằng Oocyst có thể tồn tại qua mùa đông giá
lạnh nhưng không chịu được nhiệt độ cao và ánh nắng chiếu trực tiếp.
Glullough.N (1952) cho biết, ở nhiệt độ cao Oocyst có khả năng đề
kháng như nhau. Chúng đều bị tiêu diệt ở 40
0
C/ 96 giờ, ở 45
0
C/ 3 giờ và ở
50
0
C/ 30 phút. Khi Oocyst theo phân ra ngoài môi trường, ẩm độ có vai trò
quan trọng ảnh hưởng đến thời gian hình thành bào tử và khả năng tồn tại của
Oocyst Cầu trùng.
Ellis C.C (1986) cho biết, khi nhiệt độ không thay đổi, Oocyst sẽ bị

Lê Văn Năm (2003) cho biết, nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát
triển bào tử nang ngoài cơ thể là 15 – 35
0
C, bào tử nang sẽ chết ở nhiệt độ
lạnh – 15
0
C và nóng > 40
0
C. Môi trường ẩm ướt, nhiệt độ vừa phải trong
khoảng 22 – 23
0
là điều kiện thuận lợi cho Cầu trùng phát triển, ở nhiệt độ
này chỉ mất 16 – 18 giờ để Cầu trùng phát triển thành bào tử nang, khi đã hình
thành bào tử nang, chúng tồn tại rất lâu trong môi trường thiên nhiên, hàng
năm hoặc lâu hơn, chúng chịu được tất cả các chất khử trùng, tiêu độc, các tác
động lý hóa …
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và Trần Thu Nga (2005), tỷ lệ và cường độ
nhiễm cầu trùng có sự khác nhau theo tình trạng vệ sinh thú y trong chăn
nuôi. Gà nuôi trong điều kiện vệ sinh kém có tỷ lễ nhiễm cao nhất.
Bệnh Cầu trùng thường xảy ra vào muà hè và mùa xuân. Tuy nhiên,
vào mùa thu và mùa đông bệnh vẫn có thể xảy ra ở các trại chăn nuôi lớn, có
mật độ đông và chăm sóc vệ sinh kém. Theo trung tâm nghiên cứu gia cầm
Trung ương, mùa xuân có tỷ lệ nhiễm là 30,6%, mùa hè là 12,14%, mùa đông
là 7,25%.
6
2.2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CẦU TRÙNG
2.2.1. Cấu trúc của Oocyst cầu trùng
Oocyst (noãn nang) cầu trùng có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu,
gần tròn, hình trứng hay hình ovan, có khi có hình quả lê, … kích thước cũng
khác nhau thay đổi theo từng loài. Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có

không có lỗ noãn. Thời gian hình thành bào tử nang kéo dài 24 – 48h. Phát
triển nội sinh ở manh tràng và có thể ở các phần ruột khác, phá hủy màng
niêm mạc gây chảy máu.
2. Eimeria praecox (Johnson, 1930)
Là loài cầu trùng có độc lực yếu, noãn nang hình bầu dục, không màu, kích
thước 10,6 – 27,7 x 14,8 – 19,4 µm, không có lỗ noãn. Thời gian hình thành
bào tử từ 24 – 36h. Phát triển nội sinh tại tế bào biểu bì lớp niêm mạc phần
đầu ruột non.
3. Eimeria necatrix (Johnson, 1930)
Là loài Cầu trùng có độc lực cao, song mức phổ biến và khả năng gây bệnh
của nó thấp hơn Eimeria tenella. Noãn nang có hình tròn hoặc Ovan, nhân
phân hạt, kích thước 13,0 – 22,7 x 11,3 – 18,3 µm, vỏ cứng. Bào tử nang hình
thành trong 48h. Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở ruột non ngay sau tá tràng. Gà
con từ 2 – 5 tuần tuổi cảm thụ mạnh nhất với loài cầu trùng này.
4. Eimeria mitis (Tyzzer, 1929)
Là loài Cầu trùng có độc lực yếu. Noãn nang có hình tròn hoặc gần tròn, vỏ
bọc không màu, kích thước 11,0 – 19,0 x 10,0 – 17,1 µm. Thời gian hình
thành bào nang trong môi trường bên ngoài là 48h. Chúng ký sinh ở phần đầu
của ruột non: Tá tràng và phần dưới tá tràng.
5. Eimeria maxima (Tyzzer, 1929)
Là loài có độc lực gây bệnh nhẹ và trung bình. Noãn nang hình trứng hoặc
hình Ovan, vỏ bọc xù xì, màu vàng nhạt, kích thước 21,4 – 42,5 x 16,5 – 29,8
8
µm. Thời gian sinh bào tử là 30 – 18 giờ. Cầu trùng ký sinh trong các tế bào
biểu mô bề mặt và các lớp sâu của cơ ruột non, ký sinh ở phần giữa ruột non
là chủ yếu.
6. Eimeria brunetti (Levine, 1942)
Là loài có độc lực cao gần như E. tenella và E. necatrix. Noãn nang có hình
bầu dục, không màu, kích thước 20,7 – 30,3 x 18,1 – 24,2 µm. Thời gian sản
sinh bào tử là 24h. Trong nang trứng có một cực hay một số hạt cực, trong

thận, mật,… đôi khi vào mô bào dưới niêm mạc. Tại đây, cùng với sự phân
chia của hạt nhân, các bào tử thể lớn lên nhanh chóng, có hình tròn, hình ovan
hoặc hình elip với nhiều nhân gọi là thể phân lập thuộc thế hệ 1 (Schizont 1).
Schizont 1 tiến hành phân chia nguyên sinh chất tạo ra nhiều tế bào có hình
elip dài được gọi là Merozoite. Các Merozoite sinh trưởng rất nhanh làm tan
vỡ tế bào biểu mô vật chủ. Khi các tế bào biểu mô nơi cư trú bị phá hủy, các
Merozoite lập tức tấn công sang các tế bào biểu mô mới và quá trình phát
triển này được lặp lại như cũ. Đến đây, các ký sinh này thuộc thế hệ thứ 2 và
được goại là Schizont 2. Tùy theo chủng Cầu trùng và loại vật chủ mà có thể
hình thành tiếp các thế hệ Schizont 3, Schizont 4, … một cách ồ ạt theo cấp số
nhân kiểu dây chuyền nguyên tử làm cho hàng loạt tế bào biểu mô của vật chủ
bị phá vỡ, gây tổn thương nặng nề cho niêm mạc nơi bị phơi nhiễm.
Giai đoạn 2:
Khi các Schizont thuộc thế hệ cuối cùng được hình thành thì chúng bắt đầu
định hướng phát triển thành giao tử đực (Microgamete) và giao tử cái
(Macrogamete). Giao tử đực hình quả lê, kích thước nhỏ, một đầu có vòi sinh
dục. Giao tử cái có kích thước lớn hơn, ít chuyển động hơn, có một lỗ sinh
dục gọi là Micropyle. Giao tử đực chui qua lỗ Micropyle vào giao tử cái để
10
hình thành hợp tử. Sau đó hợp tử rơi vào lòng ruột biến thành một noãn nang
chưa chín gọi là Oocyst.
Giai đoạn 3:
Noãn nang (Oocyst) sau khi được bài xuất theo phân ra ngoài môi trường sẽ
hình thành bào tử. Do tác động của các yếu tố môi trường, các noãn nang hình
thành một lớp vỏ bọc cứng giúp cho chúng có thể tồn tại lâu trong tự nhiên.
Mỗi noãn nang hình thành 4 bào tử nguyên bào, trong mỗi bào tử nguyên bào
lại có 2 bào tử thể. Noãn nang khi có đủ 8 bào tử thể hoàn chỉnh sẽ có khả
năng gây nhiễm bệnh cho gà.
Hình 2.1. Vòng đời phát triển của Cầu trùng
11

– 90 ngày, nhưng nặng nhất là ở gà con từ 18 – 45 ngày tuổi.
Bệnh Cầu trùng gà rất phổ biến, hầu như không có đàn gà nào không bị nhiễm
một trong các loài thuộc giống Eimeria. Bệnh chủ yếu xảy ra đối với gà con,
gà dò, gà mới trưởng thành.
Thời gian ủ bệnh ngắn từ 4 – 7 ngày phụ thuộc vào chủng loại Cầu trùng, nơi
khu trú và mức độ nhiễm bệnh, số lượng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể và
tình trạng sức khỏe của đàn gà.
Đường truyền lây:
- Lây nhiễm trực tiếp: Gà nhiễm Cầu trùng do nuốt phải noãn nang Cầu trùng
có sức gây nhiễm. Những noãn nang này có từ phân gà nhiễm và phân bố
nhiều ở nền chuồng, sân chơi, dụng cụ chăn nuôi.
Gà ốm và gà khỏi bệnh mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng lâu dài, nguy
hiểm nhất.
- Lây nhiễm gián tiếp: Vật môi giới trung gian truyền bệnh như chuột,
chó, mèo, chim sẻ và một số côn trùng có thể mang mầm bệnh từ đàn này
sang đàn khác hoặc qua các dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi, giầy dép,
phương tiện vẫn chuyển, …đã mang noãn nang Cầu trùng từ bên ngoài khu
vực chuồng nuôi vào.
Các yếu tố vệ sinh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thiếu các Vitamin,
các nguyên tố vi lượng, đặc biệt là việc nuôi chung gà con với gà lớn sẽ thúc
đẩy bệnh ngày càng nặng nề, bệnh bùng nổ triền miên và kéo dài.
Gà nuôi nền, nhất là những chuồng đã nuôi nhiều lứa, bệnh Cầu trùng
rất dễ xảy ra. Theo Bạch Mạnh Điều (2001) khi nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm
Cầu trùng của gà trong điều kiện nuôi trên sàn lưới và nuôi trên nền có sử
dụng chất độn chuồng cho thấy: Gà nuôi trên sàn lưới - tỷ lệ nhiếm bệnh là
13
12,14%, gà nuôi trên nền có sử dụng chất độn chuồng - tỷ lệ nhiễm trung bình
là 23,93%.
Sức đề kháng: Ở ngoài môi trường thiên nhiên, noãn nang Cầu trùng
tồn tại rất lâu. Theo Kogan (1959), chúng có thể giữ được khả năng gây bệnh

Theo Tyzzer (1929), bằng kỹ thuật gây bệnh thực nghiệm, ông đã
chứng minh được tính đặc hiệu của miễn dịch bệnh Cầu trùng. Nhưng ông
nhận thấy rằng, những gà khỏi bệnh với một loại Cầu trùng này thì không
miễn dịch với loài Cầu trùng khác. Ông còn chứng minh được rằng, cường độ
miễn dịch không đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài Cầu trùng, liều
Cầu trùng gây nhiễm, phương thức gây nhiễm.
Morehouse (1983), Oclop (1940), Watrendorfer (1958), Sackmann
(1963), và nhiều nhà khoa học khác thấy rằng, miễn dịch đối với bệnh Cầu
trùng gà là miễn dịch có trùng và do sự tái nhiễm thường xuyên đã đảm bảo
cho sự ổn định mầm bệnh trong cơ thể gà có miễn dịch. Trạng thái miễn dịch
trong bệnh Cầu trùng cũng như các bệnh nguyên sinh động vật khác gọi là
miễn dịch dự phòng hay miễn dịch có trùng. Cường độ miễn dịch trong bệnh
Cầu trùng không đồng đều và phụ thuộc vào loại Cầu trùng, trạng thái cơ thể
gà và nhiều yếu tố khác. Cường độ miễn dịch cũng phụ thuộc vào đặc điểm
phát triển các giai đoạn nội sinh của các loại Cầu trùng khác nhau.
Nghiên cứu về thời gian miễn dịch chống bệnh Cầu trùng, có nhiểu ý
kiến khác nhau. Theo Sacmen (1953), miễn dịch chống bệnh Cầu trùng có
thời gian miễn dịch ngắn và khi cơ thể gà thải hết mầm bệnh thì gà lại bắt đầu
cảm thụ bệnh.
Theo Song Hondon – Smith, Beatle, Long (1961), tính miễn dịch trong
bệnh Cầu trùng là tương đối dài và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là
phương thức tạo miễn dịch cho chúng như : Nếu tiêm cho gà một lượng lớn
nang trứng Cầu trùng thì tới ngày thứ 14 ở chúng có sức đề kháng và có thể tự
bảo vệ khi tiêm cho chúng một liều trên liều chết ngay cả khi tiêm liều Cầu
trùng được 3 tháng và gà còn được bảo vệ không bị tái nhiễm.
15
Hiện nay, có 3 hướng tạo miễn dịch cho gà được lựa chọn:
- Cho gà nhiếm Cầu trùng liều thấp để kích thích cơ thể sản sinh kháng
thể chống tái nhiễm.
- Cho gà nhiếm Cầu trùng rồi cho thuốc điều trị để con vật sản sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status