áp dụng hình thái học và sinh học phân tử trong định loại sán lá gan lớn tại một số tỉnh miền bắc việt nam - Pdf 27


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN ÁP DỤNG HÌNH THÁI HỌC VÀ SINH HỌC PHÂN TỬ
TRONG ĐỊNH LOẠI SÁN LÁ GAN LỚN
TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC – VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2014


Tôi xin chân thành cảm ơn:
Các thầy/cô Phòng Sau đại học và Bộ môn Di truyền học - khoa Sinh học,
trƣờng Đại học Khoa học tự nhiên – ĐHQGHN.
Ban giám đốc Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ƣơng, Khoa Dịch
tễ Sốt rét đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Nguyễn Thị
Hồng Vân và TS. Nguyễn Thu Hƣơng - hai ngƣời thầy đã tận tình hƣớng dẫn, giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS. TS. Trịnh Đình Đạt, PGS. TS. Lê Thanh
Hòa, TS. Nguyễn Thị Hƣơng Bình, TS. Nguyễn Thị Hồng Ngọc, TS. Trƣơng Văn
Hạnh, TS. Lê Xuân Hợi và các anh/chị em Khoa Ký sinh trùng, Khoa Sinh học
phân tử, Khoa Dịch tễ sốt rét đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài cũng
nhƣ đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn của tôi.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn lớp cao học K21 Sinh học, bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên và chia sẻ những vui buồn
với tôi trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Hoàng Yến
ii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 25
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.2. Dụng cụ, trang thiết bị chung 25
2.3. Hóa chất 27
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 28
2.4.1. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 28
2.4.2. Cỡ mẫu phân tích 29
2.4.3. Phƣơng pháp xác định kích thƣớc các chỉ số hình thái 29
2.4.4. Các phƣơng pháp định loài bằng kỹ thuật sinh học phân tử 31
2.5. Xử lý số liệu nghiên cứu 33
2.6. Đạo đức nghiên cứu 33
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 34
3.1. Kết quả về hình thái của sán lá gan lớn tại các địa điểm nghiên cứu 34
3.1.1. Kích thƣớc sán lá gan lớn ở động vật 34
3.1.2. Các chỉ số trứng SLGL thu đƣợc trên động vật (vật kính 40x) 42
3.2. Kết quả định loại bằng phƣơng pháp sinh học phân tử 44
3.2.1. Kết quả nhân đoạn gen ITS-2 bằng kỹ thuật PCR 44
3.2.2. Kết quả PCR - RFLP 45
3.2.3. Kết quả so sánh sự sai khác, tỷ lệ tƣơng đồng của trình tự ITS-2 49
3.2.4. Kết quả mối tƣơng quan trên cây phả hệ 58
KẾT LUẬN 61
KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC
iv

CHỮ VIẾT TẮT


NA : Nghệ An
OS : Oral sucker (giác miệng)
PBS : Phosphate buffered saline (dung dịch đệm)
PCR : Polymerase Chain Reaction (phản ứng chuỗi
Polymerase)
RFLP : Restriction fragment length polymorphism (đa
hình chiều dài đoạn cắt giới hạn)
Primer : Mồi
SLG : Sán lá gan
SLGL : Sán lá gan lớn
TL : Taking both testes together length (độ dài tinh
hoàn)
TW : Testicular space width (độ rộng tinh hoàn)
TBE : Tris Boric acid
VCTG : Vật chủ trung gian
VS : Ventral sucker (giác bụng)
VS-P : Khoảng cách giữa giác miệng và điểm cuối thân
Vit-P : Khoảng cách từ cuối tuyến hoàng thể đến cuối
thân
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế
giới)

vi

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Tỷ lệ nhiễm SLGL ở trâu/bò tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam [13] 5
Bảng 2.1. Kết quả dự đoán sản phẩm ADN bằng các kỹ thuật PCR và PCR - RFLP
33
Bảng 3.1. Kích thƣớc chiều dài và chiều rộng của sán lá gan lớn 34

Hình 3.6. Một số hình ảnh trứng sán lá gan lớn. Ảnh chụp trên vật kính 40x (hình a,
b) và vật kính 10x (hình c, d), thƣớc đo = 10 µm 42
Hình 3.7. So sánh tỷ lệ chiều dài/chiều rộng của trứng SLGL thu trên động vật 43
Hình 3.8. Kết quả nhân gen mẫu SLGL bằng phản ứng PCR 45
Hình 3.9. Sản phẩm PCR-RFLP của các mẫu sán cho kết quả F. gigantica 45
Hình 3.10. Trình tự đoạn ADN thu đƣợc với trình tự mồi BD1 của mẫu trứng BGS1
46
Hình 3.11. Sản phẩm PCR-RFLP của mẫu sán cho kết quả F. hepatica (mẫu THT2)
46
Hình 3.12. Trình tự đoạn ADN thu đƣợc với trình tự mồi BD1 của mẫu trứng THT2
47
Hình 3.13. Sản phẩm PCR-RFLP của các mẫu sán cho kết quả F. gigantica/F.
hepatica (mẫu NA6) 48
Hình 3.14. Trình tự đoạn ADN thu đƣợc với trình tự mồi BD1 của mẫu trứng NA6
48
Hình 3.15. Kết quả so sánh trình tự ITS-2 của mẫu THT2 (H5) với trình tự mẫu F.
hepatica của Niger (AM900370.1) (độ tƣơng đồng 99%) trên GENBANK 50
Hình 3.16. Kết quả so sánh trình tự ITS-2 của mẫu THT2 (H5) với trình tự mẫu F.
gigantica của Niger (JN828955.1) (độ tƣơng đồng 99%) trên GENBANK 51
viii

Hình 3.17. Kết quả so sánh trình tự ITS-2 của mẫu BGS1 (H3) với trình tự mẫu F.
gigantica của Niger (AM900370.1) (độ tƣơng đồng 99%) trên GENBANK 52
Hình 3.18. Kết quả so sánh trình tự ITS-2 của mẫu BGS1 (H3) với trình tự mẫu F.
hepatica của Tây Ban Nha (AM709649.1) (độ tƣơng đồng 99%) trên GENBANK 53
Hình 3.19. Kết quả so sánh trình tự ITS-2 của mẫu NA6 (H6) với trình tự mẫu F.
hepatica của Tây Ban Nha (AM709499.1) (độ tƣơng đồng 99%) trên GENBANK 54
Hình 3.20. Kết quả so sánh trình tự ITS-2 của mẫu NA6 với trình tự mẫu F.
gigantica của Niger (AM850108.1) (độ tƣơng đồng 99%) trên GENBANK 55
Hình 3.21. Sơ đồ hình cây biểu hiện mối quan hệ phả hệ dựa trên trình tự đoạn gen

Fasciola gigantica [9, 29]. Phƣơng pháp sinh học phân tử đã khắc phục đƣợc những
hạn chế của phƣơng pháp hình thái. Các kỹ thuật sinh học phân tử cho phép xác
định và phân biệt các loài Fasciola hepatica và Fasciola gigantica. Một số kỹ thuật
đã đƣợc sử dụng để giám định và phân biệt Fasciola hepatica và Fasciola gigantica
là kỹ thuật đa hình của ADN nhân bản ngẫu nhiên (PCR- RADP), kỹ thuật đa hình
chiều dài đoạn cắt giới hạn (PCR -RFLP) [35] và kỹ thuật phản ứng chuỗi trùng hợp
cơ bản (PCR) kết hợp với so sánh giải trình tự gen thu đƣợc với ngân hàng gen [46].
2

Việc xác định loài sán lá gan lớn là cơ sở để lựa chọn, thực hiện các nghiên
cứu tiếp theo nhằm tìm hiểu cơ chế bệnh sinh, nghiên cứu tạo ra các kít huyết thanh
chẩn đoán, nghiên cứu thuốc điều trị, tình hình kháng thuốc… Qua đó góp phần
quan trọng trong công tác phòng chống bệnh do sán lá gan lớn gây ra ở động vật và
ở ngƣời phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ.
Ở Việt Nam, việc xác định loài sán lá gan lớn gây bệnh ở ngƣời và động vật
đã đƣợc một số tác giả nghiên cứu [5, 22]. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ dừng
lại ở phân tích kích thƣớc chiều dài, chiều rộng và việc xác định loài chỉ ở một vài
đặc điểm cụ thể nên các kết luận đƣa ra còn rất hạn chế. Vì vậy, để có thêm những
dữ liệu về hình thái và sinh học phân tử để góp phần xác định loài sán lá gan lớn
nhằm góp phần phòng chống bệnh do sán lá gan lớn gây ra cho động vật và ngƣời
tại Việt Nam hiệu quả hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Áp dụng hình
thái học và sinh học phân tử trong định loại sán lá gan lớn tại một số tỉnh miền Bắc
– Việt Nam” nhằm các mục tiêu: Xác định đƣợc loài sán lá gan lớn bằng sử dụng chỉ
thị hình thái học và chỉ thị phân tử ITS-2.
3

Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở ngƣời và động vật
1.1.1. Bệnh sán lá gan lớn trên thế giới
Bệnh SLGL là một trong những bệnh ký sinh trùng quan trọng ở động vật ăn

Lan, I rắc, I ran, Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Nê pan, Nhật Bản, Hàn Quốc và
Phi líp pin. Trong đó bệnh SLGL ở ngƣời đƣợc thông báo nhiều nhất ở I ran, đặc
biệt ở tỉnh Gilan, khu vực gần biển Caspian. Theo một thống kê, ở I ran đã có trên
10.000 trƣờng hợp bệnh SLGL ở ngƣời xuất hiện rải rác. Một số trƣờng hợp bệnh
SLGL ở ngƣời cũng đã đƣợc thông báo tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và
Thái Lan [55], [61].
Hậu quả SLGL gây ra cho ngƣời rất khác nhau. Khi nang ấu trùng xuyên qua
thành ruột hoặc tá tràng gây xuất huyết và viêm, giai đoạn này các tổn thƣơng có
thể gây triệu chứng không rõ rệt. Quá trình ký sinh ở gan, SLGL gây tiêu hủy tổ
chức gan lan rộng, gây chảy máu và phản ứng viêm, phản ứng miễn dịch. Sán có thể
vào đƣờng mật và ở đây chúng có thể sống vài năm gây viêm nhiễm dẫn tới xơ hóa,
dày lên và giãn rộng, có thể chảy máu đƣờng mật [3, 29].
Đặc biệt SLGL có quá trình di chuyển lạc vị trí nên có thể gây bệnh ở các cơ
quan ngoài gan. Ở ngƣời, vị trí tổn thƣơng ngoài gan thƣờng gặp nhất là đƣờng tiêu
hóa [29]. Các vị trí lạc chỗ khác đƣợc thông báo nhƣ: mô dƣới da, tim, mạch máu,
phổi và khoang màng phổi, não, hốc mắt, thành bụng, ruột thừa, tuyến tụy, lách, u
vùng háng, cổ… [29]. Ở các vị trí lạc chỗ, SLGL không bao giờ phát triển thành
con trƣởng thành [29]. Các biểu hiện thông thƣờng của tổn thƣơng ngoài gan là do
dấu vết di cƣ gây tổn thƣơng mô dẫn tới viêm và xơ hóa. Ở các vị trí ký sinh ngoài
gan, SLGL có thể bị vôi hóa hoặc tạo thành dạng u hạt. Nhìn chung bệnh ngoài gan
do SLGL hiếm gặp và khó chẩn đoán. Bệnh thƣờng đƣợc chẩn đoán tình cờ (trong
khi phẫu thuật) hoặc khi SLGL có lối thoát để bò ra [29].
1.1.2. Bệnh sán lá gan lớn tại Việt Nam
Bệnh sán lá gan lớn ở trâu/bò
Tại Việt Nam, trƣờng hợp đầu tiên của bệnh sán lá gan ở bò đã đƣợc báo cáo
vào năm 1938 bởi Houdemer. Fasciola spp. đã đƣợc tìm thấy trong một phạm vi
rộng lớn gồm trâu, bò, dê, hƣơu, nai. Việc xác định bệnh SLGL ở động vật thông
qua xác định hình thể con sán trƣởng thành, kiểm tra tại lò mổ và phân tích huyết
5


43
16
37,2
4 – 8
42
18
42,9
> 8
40
20
50,0
Tổng số
125
54
43,2
6


1 – 3
40
12
30,0
4 – 8
36
14
38,9
> 8
44
20
45,5

một loài F. gigantica [2, 16]. Một số cho rằng nhiều mẫu sán ở Việt Nam có sự lai
khác loài giữa F. hepatica và F. gigantica [17].
7

1.2. Đặc điểm sinh học của sán lá gan lớn
1.2.1. Phân loại sinh học
Theo Dunn (1978) và Soulsby (1982), sự phân loại của SLGL trong sinh giới
nhƣ sau:
Ngành : Giun sán
Lớp : Giun dẹt
Dƣới lớp : Lƣỡng tính
Họ : Sán lá
Giống (chi) : Fasciola
Loài : Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)
Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
1.2.2. Hình thể sán trƣởng thành
Theo Boray (1982) con sán lá trƣởng thành F. hepatica có dạng hình lá dẹt
(Hình 1.1 A), hình dạng đặc trƣng cho các loài sán lá. Kích thƣớc từ 18 - 32 mm
chiều dài và 7 - 14 mm chiều rộng. Cơ thể của nó kéo dài về phía trƣớc sau, đoạn
cuối phía trƣớc có dạng chóp nón, lan tỏa rộng về phía vai và hẹp dần về phía cuối
sau, trên đó có giác miệng, phần giữa có thể có giác bụng. Kích thƣớc của giác bụng
và giác miệng xấp xỉ nhƣ nhau. Ruột của con trƣởng thành chia nhiều nhánh và nằm
ở nửa sau cơ thể. Các buồng trứng tƣơng đối nhỏ gọn nằm ngay phía trên tinh hoàn
và trứng đƣợc đổ vào tử cung. Tử cung đổ vào lỗ sinh dục nằm ngay sau giác bụng.
Khi còn sống, sán có màu nâu xám, cơ thể phẳng thuôn dài, có viền màu tối bên
ngoài do manh tràng chứa đầy máu. Hình thể của F. gigantica có một số điểm khác
biệt với F. hepatica là kích thƣớc thƣờng dài hơn, trung bình 24 - 76 mm chiều dài
và 5 - 13 mm chiều rộng (Hình 1.1 B) [27]. Ngoài ra, tỷ lệ phần đầu hình nón thì
nhỏ hơn của F. hepatica và phần cơ thể của nó hình dạng giống chiếc lá hơn [29].
Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp rất khó phân biệt 2 loại này về mặt hình thái. Tác

Theo các tác giả vòng đời của F. hepatica và F. gigantica kéo dài khoảng 14
– 23 tuần và yêu cầu qua 2 vật chủ. Chu kỳ SLGL bao gồm 4 giai đoạn [27].
10

Giai đoạn đầu tiên (chu kỳ phát triển trong vật chủ):
Vật chủ bị nhiễm sán do ăn phải ấu trùng (metacercariae) SLGL giai đoạn
lây nhiễm từ cỏ (đối với động vật), rau thủy sinh (ngƣời) và/hoặc uống phải nƣớc
có nhiễm mầm bệnh. Các ấu trùng thoát vỏ trong đƣờng ruột và sau đó di chuyển
tới gan và đƣờng mật. Trong tá tràng, ký sinh trùng bị vỡ nang ấu trùng và chui
qua niêm mạc ruột vào khoang phúc mạc. Các sán non vừa thoát ra không hấp thụ
dinh dƣỡng trong giai đoạn này, nhƣng một khi nó tìm thấy nhu mô gan thì quá
trình này bắt đầu. Giai đoạn con sán chƣa trƣởng thành trong mô gan là giai đoạn
gây bệnh, gây ra thiếu máu và dấu hiệu lâm sàng đôi khi quan sát thấy ở động vật
bị nhiễm bệnh. Con sán di chuyển đến mô gan trong thời gian từ 5 – 6 tuần và cuối
cùng tìm đƣờng đến các ống mật. Sau 3 – 4 tháng, phát triển thành con sán trƣởng
thành và đẻ trứng, đƣợc bài tiết vào trong mật và ruột. Ở động vật một con sán
trƣởng thành có thể đẻ đến 25.000 đến 500.000 trứng/ngày, số lƣợng này sẽ đƣợc
đào thải vào các đồng cỏ và môi trƣờng. Con sán trƣởng thành có thể sống 9 – 14
năm trong vật chủ.
Giai đoạn thứ 2 (chu kỳ phát triển trong môi trƣờng nƣớc ngọt): Trứng SLGL
đƣợc bài tiết theo phân vật chủ (ngƣời hoặc động vật) ra ngoài môi trƣờng. Trong
môi trƣờng nƣớc ngọt, trứng phát triển thành giai đoạn trùng lông (miracidium).
Giai đoạn thứ 3 (chu kỳ phát triển ở vật chủ trung gian): Trong môi trƣờng
nƣớc ngọt, miracidia xâm nhập vào ốc vật chủ trung gian, ốc Lymnaea, phát triển
thành cercaria, và đƣợc thải loại qua phân ốc vào trong nƣớc.
Giai đoạn thứ 4 (chu kỳ trên thực vật thủy sinh): Ngay sau khi rời khỏi ốc,
cercariae bơi ra hồ nƣớc trong đồng cỏ, và nhanh chóng phát triển thành giai đoạn
ấu trùng nang (metacercariae) bám vào bề mặt thực vật thủy sinh, trong vòng 24
giờ. Một số metacercariae không gắn với vật chủ nhƣng vẫn có thể bơi trong nƣớc.
Từ đây, metacercariae bị động vật nhai lại ăn phải, hoặc trong một số trƣờng hợp,

diaphana. Vùng Địa Trung Hải chỉ có duy nhất L. cailliaudi đƣợc tìm thấy dọc bờ
sông Nile. Loài SLGL F. gigantica thƣờng gặp ở Triều Tiên, Iran, Ấn Độ, Nhật
Bản. Vật chủ trung gian truyền bệnh là loài ốc L. truncatula và L. viridis. Ngoài ra,
F. gigantica còn gặp ở Thái Lan, Malaysia, Singapore và Indonesia, loài ốc trung
gian truyền bệnh là L. rubiginosa. Cả 2 loài F. gigantica và F. hepatica đều gặp ở
Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cam pu chia và Phi líp pin. Loài ốc trung gian truyền
bệnh F. hepatica là L. swinhoei, còn ốc L. viridis truyền đƣợc cả 2 loài SLGL [69].
1.4.3. Vật chủ tình cờ
Ngƣời là vật chủ tình cờ của SLGL. Khi ăn phải ấu trùng SLGL vào đƣờng
tiêu hóa, sau 1 giờ, ấu trùng thoát kén và xuyên qua thành ruột. Sau 2 giờ xuất
hiện trong ổ bụng, chúng tiếp tục vào gan và đến gan vào ngày thứ 6 và nằm trong
nhu mô gan gây những ổ hoại tử lớn. Nếu thích hợp, chúng có thể tồn tại ở ngƣời
từ 9 – 14 năm.
Do ngƣời chƣa là vật chủ thích hợp nên sán non có thể di chuyển xuống đại
tràng, ra thành ngực, đến tuyến vú hoặc chui qua da, tạo những đƣờng hầm dƣới da
trong quá trình di chuyển hƣớng ra ngoài. Trên thế giới cũng đã từng ghi nhận
những trƣờng hợp sán chui cả xuống buồng trứng, tinh hoàn, màng phổi…
1.5. Các yếu tố nguy cơ của bệnh sán lá gan lớn
1.5.1. Thói quen ăn uống
Rau thủy sinh: Theo Mas-Coma (2009), động vật nhiễm SLGL do ăn phải
cỏ hoặc uống nƣớc có nhiễm ấu trùng SLGL. Ngƣời nhiễm khi họ ăn phải rau
thủy sinh nhiễm metacercariae SLGL (cải xoong, rau muống nƣớc, rau ngổ, ngó
13

sen…) trong một số trƣờng hợp, rau cạn (nhƣ rau diếp, xà lách, húng,…) tƣới
bằng nƣớc ô nhiễm.
Nguồn nƣớc ăn và sinh hoạt: Nguồn nƣớc đƣợc xem nhƣ một yếu tố quan
trọng tham gia vào đƣờng lây truyền bệnh. Tại các vùng dịch tễ bệnh SLGL, ấu
trùng đƣợc tìm thấy trong các nguồn nƣớc tự nhiên [56]. Thói quen uống nƣớc chƣa
đun sôi, hay bằng cách sử dụng dụng cụ rửa trong nƣớc bị ô nhiễm hoặc có thể ăn

những năm 1990. Con ngƣời đƣợc xác định không phải là vật chủ tự nhiên mà chỉ là
vật chủ tình cờ của bệnh. Các triệu chứng lâm sàng thƣờng xuất hiện sau 2 tuần
nhiễm nang ấu trùng và phụ thuộc vào số lƣợng sán ký sinh [29].
Bệnh SLGL đƣợc chia ra làm các thời kỳ: thời kỳ ủ bệnh (từ khi nang ấu
trùng xâm nhập vào cơ thể đến khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng đầu tiên); thời kỳ
toàn phát (SLG di chuyển vào đƣờng mật); thời kỳ bệnh tiềm tàng (sán trƣởng
thành và bắt đầu đẻ trứng); và thời kỳ tắc nghẽn hay mãn tính [29].
Thời kỳ ủ bệnh: triệu chứng của thời kỳ ủ bệnh rất thay đổi phụ thuộc vào số
lƣợng ấu trùng xâm nhập và sự đáp ứng của cơ thể vật chủ. Ở ngƣời, triệu chứng
thời kỳ này thƣờng không rõ ràng, thời gian có thể là vài ngày, 6 tuần, 2-3 tháng
hoặc có khi dài hơn.
Thời kỳ toàn phát: giai đoạn này kéo dài 2-4 tháng. Các triệu chứng hình
thành từ quá trình phá hủy tổ chức gan và phúc mạc từ sự di chuyển của ấu trùng,
độc tố và hoạt động của các chất gây dị ứng. Tại các vùng khu trú nhiễm SLG, các
triệu chứng thƣờng trùng lặp với các bệnh mãn tính hoặc cấp tính trên nền mãn tính.
Vì vậy, giai đoạn cấp tính có thể kéo dài và gối vào giai đoạn tiềm tàng.
1.6.2. Đặc điểm cận lâm sàng
Xét nghiệm máu [29]: Trong giai đoạn cấp tính, số lƣợng bạch cầu thƣờng
tăng trên 10.000 đến 43.000/mm
3
máu. Số lƣợng bạch cầu ái toan luôn tăng trên
5%, có khi lên đến 83%. Đây là một dấu hiệu gợi ý quan trọng khi kết hợp với tổn
thƣơng gan trên siêu âm. Dấu hiệu thiếu máu thƣờng gặp nhƣng thƣờng không
nghiêm trọng. Tốc độ máu lắng có thể tăng cao trong giai đoạn cấp tính, đạt giá trị
165 mm trong 1 giờ. Trong giai đoạn tiềm tàng và mãn tính, máu lắng bình thƣờng
hoặc chỉ cao vừa phải.
15

Xét nghiệm chức năng gan [29]: Các kết quả bất thƣờng có thể đƣợc tìm ra
khi kiểm tra chức năng gan là:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status