trình bày hiểu biết về quảng cáo và khuyến mại mỹ phẩm - Pdf 27

TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT CỦA EM VỀ
QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI MỸ PHẨM
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế như hiện nay, pháp luật thương mại với vai trò là cơ
sở pháp lý để phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đồng thời nó là công cụ pháp luật chủ yếu của Nhà nước dùng để điều chỉnh
hoạt động thương mại trên thị trường ngày càng đóng một vai trò quan trọg trong
đời sống kinh tế. Đặc biệt là qui định pháp luật về quảng cáo và khuyến mại một
mặt hàng khá đặc biệt: mỹ phẩm. Qui định pháp luật về mặt hàng này luôn đứng
trước đòi hỏi phải đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về một cơ chế điều chỉnh của
một thị trường phát triển liên tục. Đánh giá được vai trò, tính cấp thiết của nó
nên em chọn đề tài: “Trình bày hiểu biết của em về quảng cáo và khuyến mại
mỹ phẩm”.
B. NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật thương mại hoạt động
khuyến mại và quảng cáo
I.1 Các thuật ngữ cơ bản về khuyến mại và quảng cáo
I.1.1 Khuyến mại
Thuật ngữ “khuyến mại”, trong tiếng Anh là Sales Promotion hoặc
Promotion được dùng phổ biến ở các nước vận hành nên kinh tế thị trường.
Cho đến năm 1997, Luật thương mại lần đầu tiên định nghĩa một cách
chính thức thuật ngữ “khuyến mại” là hành vi thương mại của thương nhân
nhằm xúc tiến việc mua bán hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh
doanh của thương nhân bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách
hàng.
Liên quang đến khái niệm này, Luật thương mại cũng giải thích một cách
chính thức về mặt pháp luật các thuật ngữ: hành vi thương mại, thương nhân,
xúc tiến thương mại. Về bản chất khuyến mại là hành vi của các cá nhân, tổ
chức kinh doanh nhằm thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của họ trên
thị trường bằng cách dành các lợi ích tăng thêm cho khách hàng ngoài các lợi

- Qúa trình kinh doanh, giới thiệu sản phẩm - mỹ phẩm tới đông đảo
khách hàng, tạo ra cơ hội bán sản phẩm, dịch vụ cho số đông.
- Thúc đẩy việc mua bán, trai đổi sản phẩm, dịch vụ để chiếm lĩnh thị
trường trong một thời gian ngắn.
- Khuyến khích khách hàng trung thành
Bên cạnh mặt tích cực, thương nhân cũng thường gặp phải những khó
như: sự kém hiệu quả của hoạt động khuyến mại gây nên tổn thất về mặt tài
chính hay sự không rõ ràng và rủi ro về mặt luật pháp cùng với đó là sự phản
tác dụng của khuyến mại và quảng cáo từ phía người tiêu dùng sản phẩm,
dịch vụ của thương nhân. Thương nhân phải đạt được sự hài hòa giữa khung
pháp lý và tạo điều kiện chủ động sáng tạo trong hoạt động khuyến mại
quảng cáo, tìm ra hình thức cách thức thực hiện để đánh trung nhu cầu của
người tiêu dùng, phục vụ đúng chiến lược kinh doanh chung.
I.2.2 Từ góc độ người tiêu dùng
Chủ thể quan trọng và chủ yếu mà mọi nhà kinh doanh đều hướng tới khi
tung ra thị trường những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình đó là người
1
Thông tư 06/2011/TT- BYT qui định về quản lý mỹ phẩm
tiêu dùng. Ở góc độ là người tiêu dùng, khuyến mại quảng cáo có vai trò nhất
định:
- Được thông tin rõ ràng, chính xác về sản phẩm mỹ phẩm của doanh
nghiệp với giá trị thực của sản phẩm đó.
- Đượng thụ hưởng lợi ích tăng thêm một cách công bằng và đầy đủ từ
hành vi mua bán mỹ phẩm theo cam kết của doanh nghiệp thông qua
hoạt động khuyến mại và quảng cáo.
- Được pháp luật bảo vệ một cách hữu hiệu trong quan hệ với các
doanh nghiệp
I.2.3 Từ góc độ quản lý Nhà nước và pháp luật
Hoạt động khuyến mại và quảng cáo mỹ phẩm từ góc độ quản lý Nhà
nước và pháp luật có vai trò cơ bản là:

Hàng mẫu đưa cho khách hàng dùng thử không phải trả tiền phải là hàng đang
bán hoặc sẽ được bán trên thị trường. Hàng này được doanh nghiệp tặng không
cho khách mà không đưa ra bất kỳ điều kiện nào kèm theo.
Ví dụ: người tiêu dùng khi đến quầy mỹ phẩm tại siêu thị khi doanh nghiệp đang
tung chiến dịch quảng bá sản phẩm mỹ phẩm Pond’s là sửa rửa mặt than hoạt
tính mới sẽ được đưa cho mẫu dùng thử (thường dùng được 1-2 lần). Hoạt động
này giúp cho người tiêu dùng được sử dụng thực tế những mỹ phẩm mới ra về
tính năng công dụng của nó.
- Tặng mỹ phẩm cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền:
doanh nghiệp được dùng mỹ phẩm hoặc bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào khác để
tặng cho khách hàng mua. Với điều kiện là hàng hóa, dịch vụ dùng để tặng phải
không bị cấm lưu thông trong thị trường và trị giá của nó dùng đê tặng không
được vượt quá 30% giá trị của sản phẩm mỹ phẩm mà được bán ra tính vào thời
điểm trước khuyến mại.
- Bán hàng cung ứng mỹ phẩm với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng
dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại: Trong thực tế
thì hình thức khuyến mại này chính những đợt giảm giá (sale off) tại các cửa
hàng mỹ phẩm. Khi đó thương nhân phải niêm yết thời gian khuyến mại; giá mỹ
phẩm bình thường trước thời gian khuyến mại và giá mỹ phẩm đã được giảm
trong thời gian khuyến mại nhưng không được thấp hơn 70% giá sản phẩm mỹ
phẩm trước thời gian khuyến mại.
- Bán hàng có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao
thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố: Khí áp dụng hình thức khuyến
mại này thương nhân phải công bố rõ ràng, cụ thể phiếu mua hàng, các giải
thưởng, cách xác định trúng thưởng và phải in trên phiếu mua hàng hoặc niêm
yết tại nơi bán hàng, và phải công bố ít nhất trên một phương tiện thông tin đại
chúng.
- Bán hàng kèm theo vé số dự thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công
bố: Vé số dự thưởng phải có hình thức khác với vé xổ số kiến thiết do nhà nước
độc quyền phát hành; phải in đủ thông tin cần thiết về chương trình khuyến mại,

băng hình, đĩa hình, băng âm thanh, đĩa âm thanh. Quảng cáo trên các chương
trình hoạt động văn hóa, thể thao. Quảng cáo trong hội chợ, triển lãm.
- Quảng cáo trên hàng hóa
- Quảng cáo bằng bản, biển, pa – nô, băng rôn, màn hình đặt nơi công cộng.
Quảng cáo trên vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, quảng cáo trên
phương tiện giao thông, vật thể di động khác
- Quảng cáo phải tuân thủ các qui định của pháp luật về quảng cáo, về quy hoạch
đô thị và nông thôn, đảm bảo mỹ quan đô thị, cảnh quan môi trường, trật tự an
toàn giao thông, an toàn xã hội
2.2.4 Các hoạt động quảng cáo mỹ phẩm bị cấm
- Cấm quảng cáo trái với pháp luật Việt Nam
- Cấm quảng cáo trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ
tục Việt Nam
- Cấm quảng cáo sai sự thật
- Cấm quảng cáo so sánh hoặc nhái sản phẩm quảng cáo của thương nhân khác.
2.2.5 Thủ tục tiến hành hoạt động khuyến mại, quảng cáo mỹ phẩm
2.2.5.1 Hoạt động khuyến mại
Các hình thức khuyến mại sau đây thương nhân không phải tiến hành xin
phép, chỉ cần thông báo bằng văn bản về hình thức khuyến mại cho cơ quan
quản lý nhà nước về thương mại thuộc tỉnh thành phố trực thuộc trung ương nơi
tổ chức khuyến mại trước khi thực hiện khuyến mại; thông báo công khai các
hình thức và thời gian khuyến mại tại nơi bán hàng; thực hiện đúng các cam kết
với khách hàng : đưa hàng mẫu để khách hàng sử dụng không phải trả tiền; tặng
hàng hóa cho khác hàng không thu tiền; bán hàng cung ứng dịch vụ với giá thấp
hơn giá bán, giá cung dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến
mại; bán hàng cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để
chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.
Hình thức khuyến mại bán mỹ phẩm kèm theo vé số dự thưởng theo thể lệ
và giải thưởng đã công bố và các hình thức khuyến mại khác thương nhân được
thực hiện nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận.

liệu sau:
- Kịch bản, băng hình, băng tiếng và các thiết bị lưu giữ thông tin khác ; kịch bản
phải mô tả rõ phần hình ảnh, phần lời, phần nhạc;
- Dự kiến đài truyền hình, truyền thanh sẽ quảng cáo. Cung cấp số điện thoại,
Fax của các đơn vị truyền hình, truyền thanh đó;
đ) Toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ phải có dấu giáp lai của đơn vị lập hồ sơ.
3. Trình tự, thủ tục cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ quảng cáo: Khi nhận được hồ sơ
đăng ký đầy đủ, hợp lệ theo đúng quy định của Quy chế này và nộp lệ phí theo
quy định hiện hành, Sở Y tế gửi cho đơn vị nộp hồ sơ đăng ký một Phiếu tiếp
nhận quảng cáo mỹ phẩm (theo mẫu Phụ lục số 3b-MP). Ngày ghi trên Phiếu
tiếp nhận hồ sơ là ngày Sở Y tế nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Sau 10 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được hồ sơ, nếu Sở Y tế không có văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung
thì đơn vị được quyền quảng cáo như nội dung đã đăng ký.
4. Trường hợp hồ sơ đăng ký quảng cáo mỹ phẩm chưa hợp lệ theo quy định của
Quy chế này thì Sở Y tế có công văn thông báo cho đơn vị, cá nhân đăng ký
quảng cáo mỹ phẩm bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ.
a) Trong công văn yêu cầu sửa đổi, bổ sung phải nêu cụ thể, chi tiết: những tài
liệu phải bổ sung, nội dung cần sửa, bổ sung
b) Đơn vị phải sửa đổi, bổ sung theo đúng những nội dung được nêu trong văn
bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung và gửi về Sở Y tế. Khi đơn vị bổ sung đủ hồ sơ thì
Sở Y tế sẽ gửi một Phiếu tiếp nhận hồ sơ, ngày ghi trên giấy tiếp nhận hồ sơ là
ngày Sở Y tế nhận được hồ sơ bổ sung theo yêu cầu. Sau 05 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được nội dung quảng cáo đã sửa đổi, bổ sung nếu Sở Y tế không có
văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì đơn vị được quảng cáo như nội dung đã sửa
đổi.
c) Trong thời gian 02 tháng, nếu đơn vị đăng ký quảng cáo không sửa đổi, bổ
sung hồ sơ và không có công văn trả lời Sở Y tế thì hồ sơ đăng ký quảng cáo mỹ
phẩm đó không còn giá trị.
5. Trong trường hợp đơn vị đăng ký quảng cáo mỹ phẩm phải sửa đổi, bổ sung
nhưng không theo đúng những nội dung được nêu trong văn bản yêu cầu sửa đổi,

xả; mua một thùng bia tặng nước ngọt, bật lửa Ngoài các hình thức trên ,thì
hình thức phát hàng mẫu dùng thử đến người tiêu dùng cũng là một cách để giúp
các doanh nghiệp quảng bá hình ảnh của mình.Thường là các mặt hàng sản phẩm
mới lần đầu xuất hiện trên thị trường mang tính chất thăm dò thị hiếu khách hàng
như: thực phẩm, mỹ phẩm Đây là hình thức góp phần quảng cáo sản phẩm mới
của doanh nghiệp đồng thời thăm dò thị trường tiêu dùng về một số chủng loại
mặt hàng nhất định.
2.3.2 Những hạn chế trong khuyến mại và quảng cáo mỹ phẩm
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nhất là nền kinh tế thị trường mới
phát triển, trình độ nhận thức tiêu dùng của đại đa số người tiêu dùng luôn không
tương xứng với trình độ của các thương nhân trong lĩnh vực khuyến mại và
quảng cáo mà cụ thể hơn là trong lĩnh vực khuyến mại và quảng cáo mỹ phẩm.
Họ dễ dàng tiếp nhận một cách tin tưởng các hoạt động khuyến mại và quảng
cáo của các thương nhân và thường phó mặc việc bảo vệ quyền lợi của mình vào
tay các cơ quan quản lý Nhà nước và pháp luật. Xét trên khía cạnh này, có thể
nói đại đa số người dùng mỹ phẩm là “dễ tính” khi đối mặt với kinh nghiệm
hàng chục, thậm chí hàng trăm năm kinh doanh của các thươgn nhân trên thị
trường, đặc biệt là khối các doanh nghiệp đa quốc, hoạt động trên toàn cầu.
Lợi dụng sự “dễ tính” của đa số người tiêu dùng, các thương nhân làm ăn
thiếu nghiêm túc đã thường xuyên lách vào các kẽ hở của hệ thống pháp luật,
tiến hành các hoạt động khuyến mại và quảng cáo thiếu trung thực và rõ ràng,
xâm phạm đến quyền lợi của người tiêu dùng và làm biến dạng thị trường. Có
những thương nhân liên tục tung ra hàng loạt chiến dịch khuyến mại và quảng
cáo quy mô lớn, hứa hẹn những lợi ích tăng thêm giả tạo cho khách hàng gây
nhiễu loạn thị trường, cạnh tranh không lành mạnh, làm tổn hại nghiêm trọng tới
quyền lợi người tiêu dùng và quyền lợi của các thươgn nhân hoạt động khuyến
mại và quảng cáo trung thực, nghiêm túc.
Mặt khác, với trình độ nhận thức tiêu dùng không tương xứng, người mua
mỹ phẩm khôi khi lại gây sức ép ngược trở lại với các hoạt động khuyến mại của
thương nhân trên thị trường. Người tiêu dùng có thể tiếp cận không đầy đủ hoặc

cáo mỹ phẩm mà cần được khuyến khích và phát huy. Song bên cạnh đó còn có
những mặt hạn chế mà cần có biện pháp hoàn thiện như sau.
Thứ nhất, hình thành mối quan hệ giữa Luật Thương mại và Luật quảng cáo
trên cơ sở quan hệ giữa luật chung và luật riêng theo hướng: Luật Thương mại
điều chỉnh hoạt động quảng cáo còn Luật quảng cáo là văn bản pháp lý chuyên
ngành điều chỉnh các về đề thuộc về nội dung quảng cáo dưới góc độ văn hóa,
thông tin. Khái niệm “quảng cáo” trong Luật quảng cáo phải được xác định lại
tương tự như khái niệm “quảng cáo thương mại” trong Luật Thương mại theo
hướng đã xác định ở giải pháp thứ nhất. Bãi bỏ quy định của Luật Quản cáo về
quảng cáo cho “dịch vụ không sinh lời”. Tiếp đó cần thống nhất về hệ thống cơ
quan chịu trách nhiệm chính thức thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt
động quảng cáo là Bộ Thương mại. Bộ Văn hóa- Thông tin với tư cách là cơ
quan quản lý Nhà nước chuyên ngành chỉ tham gia điều chỉnh hoạt động quảng
cáo dưới góc độ kiểm soát lĩnh vực nội dung của quảng cáo tương tự như các
ngành khác như Kiến trúc- Đô thị, Xây dưng, Giao thông Công chính,…Bộ
Thương mại phải phối hợp chặt chẽ với các Bộ Ngành liên quan để trình Chính
phủ ban hành và liên tịch ban hành các văn bản luật hướng dẫn thực hiện hoạt
động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính đối với hoạt động khuyến mại và quảng
cáo. Vấn đề lớn nhất phải giải quyết là xem xét lại sự cần thiết và hợp lý của các
quy định cấp giấy phép đối với hoạt động khuyến mại và quảng cáo của thương
nhân trên thị trường. Bằng cách là loại bỏ các quy định kiểm soát bất hợp lý,
không thật sự cần thiết bằng hình thức cấp phép đối với hoạt động khuyến mại
và quảng cáo; chuyển dịch mạnh mẽ từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm
đồng thời với việc ban hành và duy trì một khung pháp lý đầy đủ, rõ ràng, chính
xác để các thương nhân áp dụng trong hoạt động khuyến mại và quảng cáo; tăng
cường hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động khuyến mại và quảng cáo.
Ban hành các khung xử phạt có tính răn đe mạnh mẽ và kiên quyết xử lý nghiêm
các vi phạm trong hoạt động khuyến mại và quảng cáo của thương nhân.
Thứ ba, thiết lập cơ chế hữu hiệu bảo vệ người tiêu dùng qua việc xem xét hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status