MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1
TẦM NHÌN – SỨ MỆNH MỤC TIÊU
CỦA VINAMILK
1.1.Tầm nhìn: 3
1.2.Sứ mệnh: 3
1.3.Giá trị cốt lõi: 3
1.4.Mục tiêu chiến lược: 3
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG
KINH DOANH CỦA VINAMILK
2.1.Phân tích môi trường vĩ mô: 6
2.1.1.Môi trường chính trị và pháp luật: 6
2.1.2.Môi trường kinh tế: 6
2.1.3.Môi trường xã hội: 7
2.1.4.Môi trường công nghệ: 7
2.1.5.Môi trường tự nhiên: 8
2.2.Phân tích môi trường ngành sữa: 8
2.2.1.Sức ép từ phía khách hàng: 8
Sức ép từ phía nhà cung cấp 15
2.2.3.am 19
Các đối thủ i 19
2.2.4.à rõ ràng 20
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệpt 20
2.2.5.nh chiếm lĩnh thị phần cao hơn 24
ị trườngnày sẽ cạnh tranh mạnh mẽ
CHƯƠNG 3
3.1.PHÂN TÍCH NỘI BỘ DOANH 27
3.1.1.HIỆP VINAMILK 27
Các hoạt động gián Fếp 27
5.2.1.giải khát, kem và các sản 63
5.2.2.ữa, không ch 64
5.2.3.iệt dựng hàng Việt, các sản phẩm 65
5.2.4.các sản phẩm phụ nhưng vẫn m 68
5.2.5.ệ thuật đá bóng 69
Sự hợp tác nà 69
đầu tư g
n trải, tránh được rủi ro khi thư
6.1.hiệu Cafe Moment không đạ 72
6.2.thấy, tổng giá trị sản phẩm hằng năm mà 73
6.3. bổng, mỗi suất 500.000 đồng cho các học 74
MỞ ĐẦU
Thị trường sữa Việt Nam là một thị trường mới đầy tiềm năng thu hút
được sự đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Với cơ chế mở cửa
hội nhập cùng những chính sách ưu đãi của chính phủ, ngày càng có nhiều
doanh nghiệp nước ngoài gia nhập vào ngành sữa VN, tạo ra nhiều sự lựa
chọn hơn cho người tiêu dùng, đồng thời cũng làm gia tăng thách thức đối với
các doanh nghiệp trong nước. Trước bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp đã tự
đổi mới tìm ra hướng đi riêng để tiếp tục duy trì và khẳng định giá trị của
mình. Trong số những doanh nghiệp thành công, không thể không nhắc đến
Vinamilk.
Ra đời là một doanh nghiệp nhà nước, thành lập năm 1976, trải qua gần
34 năm phát triển, hiện nay Vinamilk đã trở thành doanh nghiệp hàng đầu
của ngành công nghiệp chế biến sữa, chiếm lĩnh 75% thị phần sữa trong nước.
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu
“Vinamilk”, thương hiệu này nằm trong nhóm 100 thương hiệu mạnh nhất
do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006. Đồng thời, Vinamilk cũng được
bình chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao” từ năm 1995
đến năm 2009.
Ngoài việc phân phối mạnh trong nước với mạng lưới 183 nhà phân
2
CỦA VINAMILK
1.1. Tầm nhìn:
“Trở thành biểu tượng niềm tin số một Việt Nam về sản phẩm dinh
dưỡng và sức khỏe phục vụ cuộc sống con người”.
1.2. Sứ mệnh:
“Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt
nhất, chất lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm cao
của mình với cuộc sống con người và xó hội”.
1.3. Giá trị cốt lõi:
- Chính trực: Liêm chính, Trung thực trong ứng xử và trong tất cả các
giao dịch.
- Tôn trọng: Tôn trọng bản thân, tôn trọng đồng nghiệp, tôn trọng Công
ty, tôn trọng đối tác. “Hợp tác trong sự tôn trọng”.
- Công bằng: Công bằng với nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và các
bên liên quan khác.
- Tuân thủ: Tuân thủ Luật pháp, Bộ Quy Tắc Ứng Xử và các quy chế,
chính sách, quy định của Công ty
- Đạo đức: Tôn trọng các tiêu chuẩn đã được thiết lập và hành động một
cách đạo đức.
1.4. Mục tiêu chiến lược:
- Mục tiêu của Công ty là tối đa hóa giá trị của cổ đông và theo đuổi
chiến lược phát triển kinh doanh dựa trên những yếu tố chủ lực sau:
- Củng cố, xây dựng và phát triển một hệ thống các thương hiệu mạnh
3
đáp ứng tốt nhất các nhu cầu và tâm lý tiêu dùng của người tiêu dùng
Việt Nam.
- Phát triển thương hiệu Vinamilk thành thương hiệu dinh dưỡng có uy
tín khoa học và đáng tin cậy thông qua chiến lược áp dụng nghiên cứu
khoa học về nhu cầu dinh dưỡng đặc thù của người Việt Nam để phát
2.1. Phân tích môi trường vĩ mô:
2.1.1. Môi trường chính trị và pháp luật:
- Chính trị nước ta ổn định,Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển kinh
tế đi đôi với củng cố, đảm bảo quốc phòng an ninh.
- Nhà nước đang thực hiện chính sách mở cửa, thủ tục hành chính ngày
càng đơn giản và minh bạch.
- Hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, nhưng còn nhiều quy định chồng
chéo, thậm chí đối lập nhau. Hiện nay, các thủ tục pháp lý trong kinh
doanh ngày càng theo xu hướng đơn giản, thời gian được rút ngắn rất
nhiều.
Môi trường chính trị và pháp luật tương đối thuận lợi cho Vinamilk
phát triển, tuy nhiên do Luật về kinh tế cũng thường xuyên thay đổi nên
công ty cũng cần có những điều chỉnh phù hợp.
2.1.2. Môi trường kinh tế:
- Chu kì nền kinh tế: Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam và thế giới đang
trong giai đoạn phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm
2008 kéo dài cho đến hết năm 2009.
- Lãi suất: Việt Nam hiện là một trong những nước có lãi suất cao nhất
thế giới so với sự ổn định của đồng tiền nội tệ. Vì vậy, Việt Nam là
điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư.
- Lạm phát: Năm 2009 là 6.88%, dự báo năm 2010 là 8%.
- Tỷ giá hối đoái: Hiện nay dao động nhỏ xung quanh giá
1USD=20.500VNĐ
- Độ mở cửa nền kinh tế: nền kinh tế Việt Nam đã được nhiều nước công
nhận là nền kinh tế thị trường, và thực tế nước ta đang tiếp tục gỡ bỏ
dần các hàng rào thuế quan theo lộ trình đã kí khi gia nhập WTO.
6
Thời điểm này đang là cơ hội tốt để Vinamilk huy động vốn mở rộng
kinh doanh nếu cần, đặc biệt cổ phiếu của Vinamilk trên thị trường
luôn có tính thanh khoản cao.
thể có được bộ phận R&D đủ mạnh để cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài.
2.1.5. Môi trường tự nhiên:
Việt Nam không có nhiều địa hình, khí hậu thuận lợi như các nước
châu Âu hay New Zealand để chăn nuôi bò sữa (nguyên liệu của Vinamilk).
Vì vậy việc đáp ứng nhu cầu nguyên liệu trong nước gặp phải nhiều khó khăn
hơn như chi phí chăn nuôi bò sữa cao hơn, các trang trại bò sữa có quy mô
không quá lớn (cao nhất là 2000 con/trang trại), và chỉ có 1 số vùng, địa
phương mới có thể xây dựng trang trại bò sữa.
Vinamilk vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu là chủ yếu (năm 2009: 80%
nguyên liệu là nhập khẩu).
2.2. Phân tích môi trường ngành sữa:
2.2.1. Sức ép từ phía khách hàng:
2.2.1.1. Mức độ tập trung của khách hàng:
- Kinh tế ngày càng phát triển, cùng với đó là thu nhập bình quân đầu
người ở nước ta đang tăng nhanh (năm 2009 là 1100 USD/ng, đặc biệt
tại HN là 1500 USD/ng), do đó người tiêu dùng đã quan tâm nhiều hơn
đến các nhu cầu cải thiện chất lượng cuộc sống.
- Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ, mức tăng dân số trên 1%/năm
và thu nhập bình quân tăng trên 6%/năm. Đó được xem là những yếu tố
thúc đẩy tiêu thụ nhiều sữa và tạo cơ hội cho các nhà sản xuất.
- Nhu cầu tiêu thụ sữa trên thị trường Việt Nam tăng trưởng tương đối ổn
định, và có khả năng tăng mạnh trong giai đoạn sắp tới. Những năm
gần đây, các sản phẩm sữa đã được người dân quan tâm nhiều hơn, đặc
biệt chú trọng tới dòng sản phẩm sữa bột và sữa nước. Hiện tại, Việt
Nam đang là quốc gia có tốc độ tăng trưởng ngành sữa cao thứ hai
8
trong khu vực, bình quân 15,2% trong giai đoạn 1996–2006. Nếu Việt
Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân ngành sữa trên 10%
hằng năm thì đến 2020, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người của Việt
Nam sẽ đạt 31kg/ng/năm.
trường rõ nét.
9
Theo kết quả thống kê trong cuộc điều tra dân số năm 2009, dân số
thành thị là 25.374.262 người (chiếm 29,6%), dân số nông thôn là 60.415.311
người (chiếm 70,4%). Vào năm 1999, tỷ lệ dân số thành thị chiếm 23,5%.
Trong số 9,4 triệu người tăng thêm từ năm 1999 đến 2009, có đến 7,3 triệu
người (chiếm 77%) tăng lên ở khu vực thành thị.
Tỷ lệ tăng dân số thành thị - nông thôn ngày một chênh lệch. Năm
1999-2009, dân số thành thị đã tăng lên với tỷ lệ bình quân là 3,4%. Trong khi
đó, ở khu vực nông thôn, tỷ lệ tăng dân số chỉ có 0,4%.
Điều này một phần trở thành khó khăn cho quá trình tiêu thụ sản phẩm
của VNM. Tuy nhiên, khách hàng phân bố tương đối phân tán giúp làm giảm
sức ép lên doanh nghiệp.
2.2.1.2. Tỷ trọng mua sắm sản phẩm sữa của khách hàng
Các sản phẩm sữa ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tiêu dùng của
khách hàng. Nhưng đó là tại khu vực thành thị. Phần lớn người dân VN sinh
sống ở nông thôn hoặc các tỉnh lẻ vẫn chưa hình thành thói quen uống sữa
hằng ngày.
Kết quả khảo sát của Viện dinh dưỡng quốc gia năm 2009 cho biết, có
đến 68% trẻ em nông thôn không được dựng sữa trong khi khẩu phần ăn chỉ
đáp ứng 60% nhu cầu dinh dưỡng. Một điều tra nhỏ tại 3 tỉnh Bắc Giang,
Hưng Yên, Bắc Ninh cho thấy, 30.3% trẻ em tại Bắc Giang thiếu máu, Hưng
Yên 23.1%, Bắc Ninh 17.2%.
Ước tính người dân thành thị sử dụng lượng sữa bình quân hàng năm
nhiều gấp 4 lần người dân nông thôn. Viện Chính sách và Chiến lược Phát
triển Nông nghiệp nông thôn cho biết: "10% dân số tiêu thụ 78% các sản
phẩm sữa là trẻ em tại Tp.HCM và Hà Nội.
Theo thống kê, mức tiêu thụ sữa tươi bình quân ở Việt Nam hiện nay là
10
14 lớt/người/năm, còn kém xa so với các nước khác trong khu vực, như Thái
chế biến của mình, còn có nhiều doanh nghiệp không trực tiếp sản xuất, chế biến
các sản phẩm sữa cũng tham gia nhập khẩu các loại nguyên liệu sữa để bán lại
hoặc làm phụ gia cho việc sản xuất các loại sản phẩm khác không phải là sữa.
Theo thống kê của của Tổng cục Hải quan, trong giai đoạn 2007 – 2009
có gần 230 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu sữa nguyên liệu và sữa thành
phẩm. Trong số này, tổng số các doanh nghiệp nhập khẩu các sản phẩm sữa
thành phẩm và sữa nguyên liệu để phục vụ sản xuất chỉ chiếm khoảng 50%.
Còn lại là các doanh nghiệp nhập khẩu sữa nguyên liệu để bán lại.
Bảng2: Thị phần của một số hãng sữa theo giá trị và sản lượng bán tại 6
thành phố lớn trong tháng 9 năm 2009 (Thông tin do các doanh nghiệp
sữa cung cấp tại các buổi trao đổi, làm việc do Cục QLCT tổ chức.
TT Tên hóng % theo sản lượng % theo giá trị
1 Abbott 42,4 28,2
2 Dutch Lady 18,7 25,3
3 Mead Johnson 9,7 7,6
4 Vinamilk 8,6 15,5
5 Nestle 2,9 3,0
6 Fonterra Brands 4,8 5,0
7 Dumex 4,6 3,3
8 Nutifood 3,1 5,6
9 Arla Food 0,9 0,7
Để không đánh mất thị phần hiện có, VNM cần là chứng minh chất
lượng sản phẩm không thua kém, thậm chí có phần vượt trội so với sản phẩm
ngoại, cộng thêm giá thành ngày càng phù hợp với thu nhập của người dân và
12
uy tín lâu năm góp phần tăng khả năng cạnh tranh của công ty
Nếu không gây dựng uy tín thì khách hàng còn rất nhiều lựa chọn sản
phẩm khác và chi phí chuyển đổi là không cao nên doanh nghiệp sẽ nhanh
chóng đánh mất thị phần, đây là áp lực khá lớn đến VNM
Bảng3: Danh sách và tỉ lệ phần trăm về sản lượng nhập khẩu mặt hàng sữa
-
Thứ ba, Vinamilk luôn cập nhật thông tin chi tiết về thành phần chỉ tiêu chất
lượng trên bao bì sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn đo lường chất lượng của
cục VS ATTP, đồng thời thành lập website của công ty để giới thiệu đầy đủ
thông tin hơn cho khách hàng.
-
Thông qua vụ việc nhiều sản phẩm sữa không đạt chuẩn sữa tươi 100% như
đã công bố trên bao bì và nhiều sản phẩm sữa sau khi thanh tra đã phát hiện
hàm lượng Melamine có hại cho sức khỏe người tiêu dùng, VNM ngày càng
cẩn thận hơn trong quy trình chế biến cũng như công bố thành phần sản
phẩm.
14
2.2.1.5. Nguy ơ sát nhậ
Là một trong những doanh nghiệp lớn của ngành sữa Việt Nam, hơn
nữa quy mô về khách hàng là khá phân tán nên khả năng đe dọa sát nhập từ
phía khách hàng là không cao. Điều này làm giảm một trong những nguy
hiểm cho việc kinh doanh của DN
2.2.2.
Sức ép từ phía nhà cung cấp
Nhà cung cấp của công ty là những người chăn nuôi bò sữa trong nước
và những nhà cung cấp nguyên liệu nhập khẩu. Đối với công ty, sức ép nhà
cung cấp là nhỏ, hơn nữa sản phẩm không có nhiều sự khác biệt nên công ty
có phần chiếm ưu thế hơn khi lựa chọn nhà cung cấp. Tuy nhiên VNM luôn
cố gắng hỗ trợ những điều kiện tốt nhất cho người chăn nuôi bò sữa để có
được nguồn sữa chất lượng, đáp ứng nhu cầu sản xuất của công ty
Bộ Công Thương dự báo, năm 2010 Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng
750 triệu USD sữa và sản phẩm sữa, tăng 45,4% so với năm 2009 (tương ứng
với mức tăng 234 triệu USD). Nhu cầu sữa và sản phẩm sữa tại thị trường
Việt Nam hàng năm cao hơn so với sức tăng về sản lượng sữa sản xuất trong
nước. Sản lượng sữa bò nguyên liệu hiện nay chỉ đảm bảo được khoảng 28%
Vinamilk đã thu mua hết số lượng sữa tươi nguyên liệu dư thừa tại phía Bắc
và không giảm giá thu mua. Điều này góp phần ổn định thu nhập giúp người
dân yên tâm sản xu
.
Từ 27-5-2010, VNM tăng tiền mua sữa cho người dân thêm 280
đồng/kg so với trước. Đây là tiền hỗ trợ mùa vụ mà Vinamilk áp dụng cho
người nuôi bò sữa bán cho công ty, việc tăng giá mua sữa nhằm hỗ trợ người
nuôi bị khi giỏ thức ăn chăn nuôi tăng cao cùng với thời tiết nắng nóng kéo
dài thời gian qua. Với giá hỗ trợ mùa vụ này, giá sữa mà Vinamilk mua của
người dân sẽ đạt mức cao nhất là 7.950 đồng/kg (sữa đạt các yêu cầu về vệ
sinh an t
n).
Ngoài ra, để chia sẻ khó khăn với các hộ nông dân đang chăn nuôi bò
sữa do giá thức ăn gia súc tăng cao, kể từ ngày 30/9/2010 Vinamilk quyết
định hỗ trợ mùa vụ, hỗ trợ về chất lượng nguyên liệu sữa bò cho bà con chăn
nuôi trong việc thu mua sữa bò tươi nguyên liệu tổng cộng thêm 1000
đồng/kg. Chính sách này được áp dụng cho tất cả các hộ nông dân nuôi bò
sữa tại các vùng miền trong cả
ước.
Với mức giá thu mua mới, giá sữa bò tươi nguyên liệu được Vinamilk
thu mua sẽ tăng lên khoảng 12% so với giá trước khi điều chỉnh (khoảng
9.250 đồng/kg đến 10.250 đồn
kg).
Giá nguyên liệu thức ăn gia súc liên tục tăng đã gây không ít khó khăn
18
cho các hộ dân chăn nuôi bò sữa. Do vậy, Vinamilk quyết định hỗ trợ giá thu
mua sữa bò tươi nguyên liệu thêm 1000 đồng/kg nhằm giúp các đơn vị, hộ
nông dân vượt qua khó khăn, phát triển bền vững, khuyến khích nông dân tiếp
tục nâng cao chất lượng và số lượng sữa bò tươi nguyên liệu cung cấp cho các
nhà máy chế biến của Vinamilk, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững
thị phần.
Sữa ngoại nhập từ các hãng như Mead Johnson, Abbott, Nestle chiếm
khoảng 22% thị phần, với các sản phẩm chủ yếu là sữa bột. Còn lại 19% thị
phần thuộc về khoảng trên 20 công ty sữa có quy mô nhỏ như Nutifood,
Hanoi Mil
Ba Vì
Trong nước, đối thủ lớn của VNM là Hanoimilk và Dutch Lady. Đây
đều là những hãng sữa nổi tiếng và có thị phần xấp xỉ VNM. Đặc biệt đầu
2010, sự hợp nhất của 2 tập đoàn sản xuất sữa hàng đầu Hà Lan là Royal
FrieslandFoods và Campina tại Việt Nam giúp cho thị phần của công ty mới
tăng hơn 30% tại thị trường này. Sau đó, Công ty FrieslandFoods Dutch Lady
Việt Nam tại Bình Dương đã công bố đổi tên thành FrieslandCampina Việt
Nam. Sự hợp nhất này khiến tiềm lực kinh doanh và cạnh tranh của
FrieslandCampina mạnh hơn và trở thành đối thủ trực tiếp lớn nhất
a Vinamilk.
20
Trên thực tế, các công ty sản xuất và nhập khẩu sữa tại Việt Nam luôn
xảy ra tình trạng cạnh tranh khốc liệt trên các dòng sản phẩm bao gồm sữa
đặc, sữa nước, sữa chua và sữa bột. Thị phần các công ty tương đối ổn định
nhưng xu hướng ngày càng khốc liệt hơn khi xuất hiện thêm các đối thủ nước
ngoài. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn chịu sức ép cạnh tranh ngày một gia
tăng do việc giảm thuế cho sữa ngoại nhập theo chính sách cắt giảm thuế
quan của Việt Nam khi thực hiện các cam kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có
hiệu lực chung trong Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (cam kết
CEPT/AFTA) và cam kết với Tổ chức Thương m
thế giới (WTO).
* Sản phẩm sữa đặc: luôn là sản phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất trong
tổng doanh thu từ thị trường nội địa của VNM. Đây cũng là sản phẩm có mức
tăng trưởng doanh thu cao, với mức tăng bình quân 2004 -2007 là 22.7%.
Hiện tại thị trường sữa đặc của Việt Nam chủ yếu thuộc về VNM và Dutch
* Sữa bột hiện đang là phân khúc cạnh tranh khốc liệt nhất giữa các sản
phẩm trong nước và nhập khẩu. Trên thị trường sữa bột, các loại sữa nhập
khẩu chiếm khoảng 65% thị phần, Vinamilk và Dutch Lady hiện đang chiếm
giữ thị phần lần lượt là 16% và 20%. Thị trường này chịu sự cạnh tranh mạnh
mẽ cúa nhiều sản phẩm nhập khẩu như Abbott, Farley, X.O, Mead Johnson
định hướng phân khúc người tiêu dùng có thu nhập cao. Sản phẩm sữa bột
Dielac của VNM không có thế mạnh đáng kể so vớ
22