Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính bậc cao của nền kinh tế
và nó ngày càng đóng góp vai trò vô cùng to lớn vào sự tăng trưởng nền kinh tế
của đất nước. Cùng với sự phát triển như vũ bão của thị trường chứng khoán thế
giới, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã được hình thành và ngày càng
phát triển. Đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triển được hơn
mười năm với bao khó khăn thử thách từng bước đứng vững, đi lên và gặt hái
được nhiều thành tựu đáng kể. Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của
thị trường chứng khoán Việt Nam, là sự lớn mạnh của các tổ chức tài chính
trung gian, đặc biệt là các công ty chứng khoán. Sự trưởng thành của các công ty
chứng khoán Việt Nam không chỉ thể hiện về sự tăng trưởng số lượng và quy
mô vốn mà còn thể hiện rõ nét qua phương thức và chất lượng cung cấp dịch vụ
cho khách hàng, mô hình hoạt động,… Các công ty chứng khoán hoạt động với
mục tiêu mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh chứng khoán cao, nhằm tối đa
hóa lợi nhuận và giúp cho thị trường chứng khoán hoạt động công bằng, minh
bạch và hiệu quả.
Qua quá trình thực tập và tìm hiểu tại công ty chứng khoán MB, với mong
muốn đóng góp ý kiến giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
để công ty có thế đứng vững và phát triển trong điều kiện kinh tế hiện nay, em
đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty cổ phần chứng khoán MB”.
Đề tài được nghiên cứu với ba mục tiêu cơ bản:
Thứ nhất, hệ thống lý luận chung về công ty chứng khoán và hiệu quả
hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
Thứ hai, khái quát quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần
chứng khoán MB. Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của công
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.
1.1.1 Khái niệm về công ty chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi
các loại chứng khoán. Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán, một
yếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia trên thị trường. Các chủ thể
này bao gồm cả công chúng đầu tư, các doanh nghiệp, các tổ chức và chính
quyền. Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là thu hút vốn đầu
tư trung và dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các
loại chứng khoán. Do vậy, để thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động một
cách có trật tự, công bằng và hiệu quả cần phải có sự ra đời của các công ty
chứng khoán.
“Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực chứng
khoán thông qua việc thực hiện một hoặc vài dịch vụ chứng khoán với mục
đích tìm kiếm lợi nhuận.”
Theo Luật chứng khoán 2006 và NĐ số 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết
thi hành một số điều luật của chứng khoán thì: Công ty chứng khoán được tổ
chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy
định của Luật Doanh Nghiệp và được thực hiện một hoặc một số hoặc toàn bộ
các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán sau (điều 60/luật chứng khoán 2006):
- Môi giới chứng khoán
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
- Tự doanh chứng khoán
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán
- Tư vấn đầu tư chứng khoán
Công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát
hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh quy định trên, công ty chứng khoán được
cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.
quản lý nhà nước.
- Không được sử dụng các lợi thế của mình làm tổn hại đến khách
hàng và ảnh hưởng xấu đến hoạt động chung của thị trường, không được thực
hiện các hoạt động có thể làm khách hàng và công chúng đầu tư hiểu nhầm về
giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán.
- Không được làm các công việc có cam kết nhận hay trả những
khoản thù lao ngoài khoản thu nhập thông thường.
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các công ty chứng
khoán không được sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho
chính mình, gây thiệt hại cho khách hàng.
- Ở nhiều nước, CTCK phải đóng góp quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng
khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường hợp CTCK mất khả năng thanh
toán.
1.1.3 Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán.
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh
nghiệp sản xuất hay thương mại dịch vụ thông thường vì CTCK là một loại hình
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của
nó cũng có nhiều điểm khác nhau ở các nước. Hiện nay trên thế giới tồn tại phổ
biến hai mô hình tổ chức CTCK : Mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô
hình công ty chứng khoán chuyên doanh.
1.1.3.1 Mô hình công ty chứng khoán đa năng.
Mô hình công ty đa năng, theo mô hình này CTCK là một bộ phận cấu
thành của ngân hàng thương mại, được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch
vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và
các dịch vụ tài chính. Hay nói cách khác, ngân hàng thương mại kinh doanh trên
cả hai lĩnh vực là tiền tệ và chứng khoán. Mô hình này được biểu hiện dưới 2
hình thức sau:
ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân
hàng, tổ chức tài chính, công ty bảo hiểm không được tham gia kinh doanh
chứng khoán. Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước, trong đó đáng chú ý là
Mỹ, Nhật, Hàn Quốc,
Ưu điểm của mô hình này là khắc phục được hạn chế của mô hình đa
năng, giảm rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng
khoán kinh doanh chuyên môn hóa, thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng
khoán.
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
Ngày nay với sự phát triển của thị trường chứng khoán, để tận dụng thế
mạnh của lĩnh vực tiền tệ và lĩnh vực chứng khoán, các quốc gia có xu hướng
nới lỏng ngăn cách giữa hoạt động tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép
hình thành công ty đa năng một phần – các NHTM thành lập công ty con để
chuyên kinh doanh chứng khoán.
1.1.4. Vai trò của công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Với mỗi chủ thể
khác nhau trên thị trường chứng khoán thì vai trò của CTCK là khác nhau:
1.1.4.1 Đối với tổ chức phát hành.
Các tổ chức phát hành khi tham gia vào thị trường chứng khoán đều với
mục đích là huy động vốn từ việc phát hành chứng khoán. Mặc dù, các ngân
hàng, các quỹ đầu tư… đều là các trung gian tài chính với vai trò huy động vốn
nhưng CTCK với các nghiệp vụ của mình như môi giới, bảo lãnh phát hành
chứng khoán đã tạo ra chiếc cầu nối, đồng thời là kênh dẫn cho vốn chảy từ nơi
thừa vốn của nền kinh tế đến nơi thiếu vốn mà độ an toàn cao hơn. Công ty
chứng khoán còn giúp bình ổn giá của những chứng khoán mới phát hành qua
việc mua vào hay bán ra chứng khoán.
1.1.4.2 Đối với nhà đầu tư trên thị trường.
động mua đi bán lại của nhà đầu tư, tổ chức. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm
lý yên tâm cho nhà đầu tư.
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
1.1.4.4 Đối với các cơ quan quản lý thị trường.
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp đầy đủ thông tin về thị trường
chứng khoán cho cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu quản lý. Việc
cung cấp thông tin này là theo quy định của pháp luật, vừa là nguyên tắc nghề
nghiệp của công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần hoạt động minh
bạch. Dựa vào thông tin do CTCK cung cấp, các cơ quan quản lý thị trường có
thể kiểm soát, chống hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường. Các
công ty chứng khoán giúp nhà nước thực thi tính các chính sách kinh tế vĩ mô.
Thông qua ban hành các quy đinh, luật điều chỉnh hoạt động của các CTCK,
Chính phủ có thể kiểm soát các hoạt động của thị trường.
1.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.
1.2.1 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu trong công ty chứng khoán.
1.2.1.1 Môi giới chứng khoán.
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua bán chứng khoán cho
khách hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận các lệnh mua, lệnh bán chứng
khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua bán đó vào Sở giao dịch chứng
khoán và hưởng hoa hồng môi giới. Theo đó, các công ty chứng khoán làm đại
diện - được ủy quyền thay mặt khách hàng mua bán một hoặc một số chứng
khoán, mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của
việc giao dịch đó.
1.2.1.2 Tự doanh chứng khoán.
Theo luật chứng khoán 2006 Việt Nam về chứng khoán và thị trường
chứng khoán thì: Tự doanh là việc CTCK mua và bán chứng khoán cho chính
mình. Hoạt động tự doanh là hoạt động mua đi bán lại chứng khoán, nói cách
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
- Thu lợi: Về bản chất, mục đích hoạt động KDCK của các CTCK là
nhằm thu lợi tức và chênh lệch giá mua vào và bán ra. Với lợi thế về thông tin
và sở trường phân tích, ngoài mục đích tích lũy chứng khoán phục vụ khách
hàng, hoạt động đầu tư chứng khoán của CTCK thường là đầu cơ chờ chênh
lệch giá hoặc nhằm thực hiện các giao dịch arbit khi có chênh lệch giá tại các thị
trường khu vực.
1.2.1.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh tham gia một
cách trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình phát hành chứng khoán nhằm tư vấn
tài chính cho nhà phát hành, giúp nhà phát hành thực hiện các thủ tục trước khi
chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và bình ổn giá
chứng khoán trong thời gian đầu sau đợt phát hành chứng khoán.
Tổ chức bảo lãnh chịu trách nhiệm mua và chào bán chứng khoán của tổ
chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng phí bảo
lãnh phát hành hay một tỷ lệ hoa hồng trên số tiền thu được. Hoạt động này
chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của các công ty chứng
khoán. Phí bảo lãnh là mức chênh lệch giữa giá bán chứng khoán cho người đâu
tư và số tiền tổ chức phát hành nhận được.
Việc bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các
phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán sau:
- Bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn:
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
Tổ chức bảo lãnh sẽ nhận mua toàn bộ số chứng khoán mới phát hành của
tổ chức phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không theo
giá thỏa thuận (mức giá chiết khấu so với mức giá chào bán ra công chúng
POP), và phân phối lại cho công chúng tại mức giá POP.
- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng:
Đây là phương thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh cam kết nếu chứng
Hoạt động tư vấn đòi hỏi nhiều kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng chuyên
môn mà không đòi hỏi vốn lớn. Đây là hoạt động nghiệp vụ có sự quản lý chặt
chẽ và có yêu cầu cao khi hành nghề vì tính chất đặc thù của kinh doanh chứng
khoán. Những báo cáo phân tích của nhà tư vấn đầu tư chứng khoán có tác động
tâm lý rất lớn đến người được tư vấn và có thể làm cho người được tư vấn
hưởng lại hay bị thiệt hại. Nhà tư vấn phải luôn là những người thận trọng khi
đưa ra những lời bình luận về giá trị của các loại chứng khoán. Nếu nhà đầu tư
thu được lợi, kiếm được tiền từ lời tư vấn này thì họ sẽ vui mừng nhưng nếu họ
bị thiệt hại thì họ sẽ tìm kiếm những nhà tư vấn để phàn nàn, thậm chí bắt bồi
thường.
1.2.2 Các hoạt động kinh doanh hỗ trợ trong công ty chứng
khoán.
1.2.2.1 Hoạt động lưu ký chứng khoán.
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách
hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán đã
lưu ký như: quyền nhận cổ tức, trái tức, cổ phiếu thưởng, Đây là một hoạt
động hết sức quan trọng và cần thiết trên TTCK tập trung. Lưu ký chứng khoán
đảm bảo quá trình thanh toán trên SGDCK được nhanh chóng. Các chứng khoán
đều được lưu ký tại trung tâm lưu ký dưới hình thức ghi sổ hoặc bằng chứng chỉ
vật chất và mọi giao dịch đều được thanh toán bù trừ qua trung tâm lưu ký.
Công ty chứng khoán khi cung cấp dịch vụ này sẽ thu được một khoản phí
lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
1.2.2.2 Quản lý thu nhập của khách hàng.
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi
tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi
trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Thông thường
các công ty chứng khoán không trực tiếp quản lý, lưu ký một số loại chứng
được từ quá trình kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội, trong đó hiệu quả kinh tế đóng vai trò quyết định. Hiệu quả hoạt
động kinh doanh của CTCK gắn với mục tiêu kinh tế xã hội mà trước hết là mục
tiêu công ty, mục tiêu ngành và toàn bộ nền kinh tế.
Công ty chứng khoán cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào khác đều
phải lấy an toàn và hiệu quả kinh tế làm tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá
hoạt động kinh doanh của mình. Do vậy, mọi công ty chứng khoán đều mong
muốn hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao. Hiệu quả kinh tế hoạt động
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
kinh doanh của CTCK cũng là sự so sánh giữa doanh thu thu được và chi phí bỏ
ra để đạt được doanh thu đó. Hiệu quả kinh tế của CTCK có thể xem xét dưới
dạng số tuyệt đối hoặc số tương đối. Sự khác biệt giữa CTCK đối với các loại
hình định chế tài chính khác xuất phát từ các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán
do CTCK thực hiện. Các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán chủ yếu của CTCK
gồm có: môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng
khoán, bảo lãnh và phát hành chứng khoán. Do đó, hiệu quả kinh tế hoạt động
kinh doanh của CTCK phải là chỉ tiêu tổng hợp của các hoạt động kinh doanh
chủ yếu trên.
Xét về phương diện mục tiêu các chủ sở hữu công ty, một CTCK được coi
là hoạt động hiệu quả khi công ty thực hiện được tối đa hóa giá trị tài sản của
chủ sở hữu. Điều này giúp làm giảm các chi phí hoạt động và tăng năng suất lao
động trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ nhân viên.
Xét về phương diện quyền lợi của khách hàng, hiệu quả hoạt động của
CTCK là công ty giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách có
hiệu quả thông qua các hoạt động tư vấn, môi giới,… giúp tiết kiệm thời gian và
chi phí cho khách hàng, giúp khách hàng đạt được kết quả kinh doanh như mong
muốn.
Còn xét về phương diện quan điểm của các nhà quản lý thị trường, CTCK
cho quá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và
tiến bộ trong kinh doanh. Trong khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
lúc này không còn là cạnh tranh về mặt hàng mà cạnh tranh cả về chất lượng, giá
cả và các yếu tố khác. Để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì
doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường. Do đó doanh
nghiệp phải có hàng hoá dịch vụ chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả
kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá thành tăng khối lượng hàng hoá bán,
chất lượng không ngừng được cải thiện nâng cao
Thứ ba, mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường. Muốn vậy,
doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định. Doanh
nghiệp càng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để
thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh
tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên là điều kiện
để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh
càng cao càng phản ánh doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản
xuất. Vì vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh
nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Chính sự
nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng
tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Thứ tư, hiệu quả kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh
nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh của mình thông qua đó sẽ thể
hiện trình độ sử dụng lao động và quản lý doanh nghiệp: Khi tiến hành bất kỳ
một hoạt động kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử
chiều sâu, nâng cao đời sống người lao động, góp phần vào sự phát triển của
xã hội và đất nước .
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của công
ty chứng khoán.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Để đánh
giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chúng ta sử dụng các chỉ
tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính.
1.3.3.1 Chỉ tiêu định lượng.
Bao gồm các nhóm chỉ tiêu chủ yếu sau:
1.3.3.1.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá về tính thanh khoản.
(1) Chỉ tiêu mức vốn khả dụng
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng trả nợ của công ty và khả năng chống đỡ
các rủi ro mà công ty có thể gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh. Do
tập quán, quan niệm và chế độ tài chính khác nhau của từng nước khác nhau nên
việc tính toán cụ thể về mức vốn khả dụng của các công ty ở các quốc gia khác
nhau cũng khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản đều thống nhất quan điểm: “Vốn
khả dụng là các tài sản có độ rủi ro thấp, dễ dàng chuyển thành tiền mặt để đáp
ứng nhanh nhu cầu thanh toán của công ty”. Có thể rút ra công thức chung mang
tính khái quát để tính mức vốn khả dụng cho công ty chứng khoán như sau:
Vốn khả
dụng
=
Tổng giá trị
tài sản
-
Các khoản tài
trường
+
Rủi ro
đối tác
+
Rủi ro tập
trung tín
dụng
+
Rủi ro
cơ bản
+
Rủi ro
bù trừ
Chỉ tiêu này phản ánh các công ty chứng khoán phải duy trì lượng vốn
hoạt động ròng ít nhất là bằng 100% so với tổng rủi ro của nó.
Khả năng
chống đỡ rủi ro
=
Vốn hoạt động ròng
Tổng nợ điều chỉnh
x 100% >= A%
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
Lượng tài sản khả dụng của công ty phải có khả năng chống đỡ rủi ro này
của CTCK phải lớn hơn hoặc bằng một tỷ lệ A nhất định, tỷ lệ này cao hay thấp
còn tùy thuộc vào mỗi quốc gia khác nhau cũng như từng rủi ro của từng loại
hình kinh doanh của CTCK.
(2) Chỉ tiêu nợ trên tài sản có tính thanh khoản
Ngu
ồn vốn
x 100%
Chỉ tiêu này cho biết mức độ phụ thuộc của khả năng thanh toán của công
ty chứng khoán vào một loại tài sản thường không thể chuyển đổi thành tiền
(Khoản phải thu của nhà đầu tư chứng khoán). Chỉ tiêu này còn để phân biệt
công ty chứng khoán hoạt động lành mạnh với CTCK có khó khăn về tài chính.
(4) Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh =
Tiền và các khoản tương đương tiền + các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
N
ợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là hệ số đánh giá về việc huy động các tài sản có
khả năng chuyển đổi thành tiền để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn mà các
chủ nợ yêu cầu.
(5)Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
Hệ số thanh toán hiện thời =
Giá trị tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn mà
doanh nghiệp đang giữ,doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể
sử dụng để thanh toán. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 nghĩa là doanh nghiệp không đủ
tài sản có thể sử dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn.
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01
Học viện tài chính Luận văn tốt
nghiệp
1.3.3.1.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động.
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá khả
năng hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
31/12
*
{
Giá hạch
toán trên sổ
kế toán
-
Giá đóng
cửa ngày
31/12
}
Bản chất của “dự phòng giảm giá tài sản” là giúp giá trị tài sản ghi trong
báo cáo tài chính phản ánh xác thực hơn giá trị thị trường hiện tại của tài sản đó,
SV: Ninh Văn Ngọc Lớp: CQ47/17.01