Nâng cao hiệu quả quản lý vốn tại Công ty TNHH đầu tư thương mại và dịch vụ Hòa Bình - Pdf 27

2

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, phân loại và vai trò của vốn trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vốn
Để hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì
điều đầu tiên các doanh nghiệp cần quan tâm và nghĩ đến là làm thế nào để có đủ vốn
và làm thế nào để sử dụng nó để có hiệu quả cao nhất. Vậy vấn để đặt ra ở đây vốn là
gì? Các doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn mới có thể đủ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
Không có cách định nghĩa nào nhất định về vốn, theo sự phát triển của lịch sử,
các quan điểm về vốn xuất hiện và ngày càng hoàn thiện, tiêu biển có các cách hiểu về
vốn như sau của một số nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế khác nhau.
Theo quan điểm của Mark – nhìn nhận dưới góc độ của các yếu tố sản xuất thì
Mark cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại thặng dư, là một đầu vào của
quá trình sản xuất”. (Trích sách Tài chính doanh nghiệp, trang 63). Tuy nhiên, Mark
quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Đây là một hạn chế trong quan điểm của Mark.
Còn Paul A.Samuelson, một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế hiện đại
cho rằng: “Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hóa vốn
là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền được
sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất đó. Một
số hàng hóa vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi một số khác có thể tốn tại trong
một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiển ở chỗ chúng
vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.” (Trích sách Tài
chính doanh nghiệp, trang 64).
Trong cuốn kinh tế học David Begg cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình
thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”. Như vây, ông đã đồng nhất vốn với tài sản
doanh nghiệp. Trong đó:

đó đã được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay quá trình sản xuất và tái sản
xuất xã hội với tư cách là phương tiện tạo ra giá trị tăng thêm cho cá nhân và xã hội.
Khái niệm nay không những chỉ ra vốn là yếu tố đầu vào của sản xuất mà còn đề cập
đến sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia
cắt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hành sản
xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải đòi hỏi có một lượng vốn
nhất định nhằm thực hiện các khoản đầu tư cần thiết ban đầu như: Chi phí thành lập
doanh nghiệp, chi phí mua nguyên vật liệu, trả tiền công, lãi vay, chi phí tiền thuê mặt
bằng sản xuất, Đồng thời đầu tư công nghệ mua sắm máy móc thiết bị để tái sản xuất
mở rộng, phát triển doanh nghiệp. Do vậy vốn đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh
có nhiều hình tái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra hàng hóa dịch vụ nhằm tiêu thụ
trên thị trường. Số tiền doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được
các chi phí bỏ ra và có lãi. Khi đó, số tiền vốn ban đầu thu được tăng thêm nhờ hoạt
động sản xuất kinh doanh và có lãi. Quá trình này diễn ra liên tục bảo đảm sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp.
4

Như vậy vốn là yếu tố có tính chất quyết định trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo
toàn và phát triển vốn bảo đảm cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh.Việc nhận thức
đầy đủ hơn về vốn cũng như đặc trưng của vốn giúp doanh nghiệp hiểu rõ tầm quan
trọng và giá trị của đồng vốn để sử dụng nó một cách hiệu quả. Sau đây là một số đặc
trưng cơ bản của vốn:
- Vốn phải được đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là vốn phải
được biển hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh
nghiệp.
- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy
tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian điều này có ý nghĩa lớn khi bỏ vốn vào đầu tư và
tính hiệu quả sản xuất sử dụng của đồng vốn.

Là nguồn vốn kinh doanh được đầu tư từ các chủ doanh nghiệp. Nguồn vốn này
doanh nghiệp hoàn toàn có quyền chủ động sử dụng vào mục đích kinh doanh. Đối với
doanh nghiệp nhà nước thì vốn chủ sở hữu được hình thành tư ngân sách và một phần
trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp, công ty cổ phần thì do các cổ đông đóng góp, còn
doanh nghiệp tư nhân thì có chủ doanh nghiệp bỏ ra. Vốn chủ sở hữu bao gồm:
- Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp
cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông – chủ sỡ hữu góp, hay
do chính các thành viên, chủ doanh nghiệp đóng góp. Nói chung hình thức sở
hữu của doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân
doanh nghiệp. Cụ thể đối với doanh nghiệp Nhà nước thì vốn góp ban đầu chính
là vốn đầu tư của Nhà nước. Đối với các công ty cổ phần thì phần vốn góp ban
đầu do các cổ đông của công ty đóng góp. Các cổ đông là chủ sở hữu của công
ty, chịu trách nhiệm về phần vốn của mình đóng góp. Đối với các công ty trách
nhiệm hữu hạn, số vốn này có thể do cách thành viên đóng góp và được ghi vào
điều lệ của công ty. Còn đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn do chủ doanh
nghiệp bỏ ra, trực tiếp điều hành hoạt động hoặc thuê người điều hành hoạt động
nhưng vẫn chịu trách nhiệm về phần vốn của mình.
- Vốn từ việc phát hành cổ phiếu: Việc sử dụng vốn từ việc phát hành cổ phiếu là
một kế hoạch tài chính rất quan trọng trong quá trịnh hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Phát hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ cho
doanh nghiệp. Việc phát hành cổ phiếu bao gồm phát hành cổ phiếu thường và cồ
phiếu ưu đãi. Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng hơn cả vì nó có ưu thế
trong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trên thị trường
chứng khoán.
b. Vốn vay
Để bổ sung cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn
đi vay từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát
hành trái phiếu. Có thể nói vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan
trọng nhất cho việc sử dụng vốn. Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân
hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững

kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này thường được huy động từ vay ngắn hạn
ngân hàng hoặc trong các tổ chức tín dụng khác. Nguồn vốn này đôi khi rất quan
trọng, bởi doanh nghiệp cần đáp ứng nhu cầu cấp thiết với thời gian huy động vốn
nhanh chóng và chính xác.
1.1.2.3. Căn cứ theotốc độ chu chuyển của nguồn vốn
Vốn được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản doanh nghiệp. Các tài sản này
sẽ trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh và giá trị của
Thang Long University Library
7

chúng sẽ được chuyển dần vào giá trị của sản phẩm, hàng hóa dưới dạng hàng phí lao
động. Dựa vào đặc điểm này vốn được chia làm hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.
a. Vốn cố định
Vốn cố định trong doanh nghiệp được biểu hiện dưới ba hình thức, đó là giá trị
tài sản cố định, giá trị các khoản đầu tư dài hạn và giá trị chi phí xây dưng cơ bản dở
dang của doanh nghiệp.
Tài sản cố định được biểu hiện là những tài sản có giá trị, có thời gian sử dụng
dài, tồn tại và phục vụ cho kinh doanh của doanh nghiệp qua nhiều chu kỳ kinh doanh.
Đây là bộ phận tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp và nắm
giữ vai trò là một trong các tư liệu lao động chủ yếu trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Quá trình vận động của tài sản cố định cho thấy thời gian chu chuyển của vốn
cố định rất dài. Thường thì vốn cố định hoàn thành một vòng chu chuyển khi giá trị tài
sản cố định đã chuyển dịch hết vào sản phẩm hàng hóa dịch vụ sau nhiều chu kỳ sản
xuất kinh doanh. Do đó doanh nghiệp vừa phải quản lý giá trị tài sản cố định, vừa phải
quản lý thời gian sử dụng của chúng một cách có hiệu quả để từ đó khai thác tối đa
năng lực sản xuất kinh doanh và xác định đúng nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn cố định. Để nhận biết tài sản cố định ta có các tiêu chuẩn:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ tài sản này.
- Phải xác định rõ ràng nguyên giá của tài sản này.
- Có thời gian sử dụng trên 01 năm trở lên.

Nhìn chung, ba hình thức trên cùng biểu hiện về mặt giá trị cấu thành vốn cố
định của doanh nghiệp và ba bộ phận này sẽ luân phiên chuyển hóa cho nhau trong
suối quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sự thay đổi thế nào và
tỷ trọng của các thành phần này ra sao sẽ phụ thuộc vào quyết định đầu tư và sử dụng
vốn của các nhà quản lý doanh nghiệp.
b. Vốn lưu động
Vốn lưu động đóng một vài trò rất lớn trong sự tồn tại và phát triển đối với doanh
nghiệp.Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động để đảm bảo hoạt động
sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục.
Đặc điểm cơ bản của vốn lưu động là nó tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh dưới hình thức đối tượng lưu động, không ngừng vận động và thay đổi hình thái
biểu hiện. Giá trị của nó được dịch chuyển một lần vào giá trị hàng hóa và hoàn thành
một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì
vậy thời gian chu chuyển của vốn lưu động sẽ nhanh hơn vốn cố định.
Vốn lưu động là hoạt động không thể thiếu được trong quá trịnh hoạt động sản
xuất kinh doanh. Chính vì vậy trong quản lý cần xác định đúng đắn giá trị hợp lý của
vốn lưu động và các nguồn bù đắp để cung cấp kịp thời khi cần thiết. Bên cạch đó,
người quản lý phải theo sát sự dịch chuyển của vốn lưu động bằng cách thu hồi nhanh
và có kế hoạch sử dụng hợp lý ở các khâu tiếp theo. Cần tăng nhanh vòng quay, tránh
ứ đọng lãng phí vốn lưu động, đó là một trong những hoạt động cần thiết cho sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp.
Thang Long University Library
9

Để góp phần vào việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả vốn lưu động nhằm đáp ứng
các yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh, người ta sắp xếp vốn lưu động thành
từng nhóm theo những tiêu thức nhất định:
- Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động, sẽ có các hình thức sau: vốn
bằng tiền, vốn trong khâu dữ trữ, chi phí trả trước, các khoản phải thu, các khoản
đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn và các


nghiệp mà không đạt được các điều kiện pháp luật quy định thì doanh nghiệp sẽ
tuyên bố chấm dứt hoạt động như: Phá sản, giải thể, Như vậy, vốn có thể xem
như là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh
nghiệp trước pháp luật.
- Về mặt kinh tế: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những yếu
tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nó tham gia vào toàn
bộ quá trình sản xuất kinh doanh, quay vòng tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Vốn cũng là yếu tố quan trọng quyết định năng lực sản xuất kinh doanh và xác
lập vị thế kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường. Điều này càng thể hiện rõ
trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh
nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hóa công nghệ,
Tất cả những yếu tố này muốn thực hiện phải có lượng vốn khá lớn.
Vốn là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vị hoạt động của doanh nghiệp.
Để tiến hành sản xuất và tái đầu tư mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh vốn của
doanh nghiệp phải bảo toàn và phát triển. Vốn giúp doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản
xuất, thâm nhập thị trường mới, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
Như vậy, bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào thì khởi điểm của quá trình sản xuất
kinh doanh đều phải có một lượng vốn nhất định. Vốn là yếu tố quyết định trong việc
thành lập, hoạt động và phát triển của mọi loại hình doanh nghiệp, nhưng nó chỉ phát
huy tác dụng khi doanh nghiệp biết quản lý, sử dụng vốn đó hợp lý và có hiệu quả.
1.2. Hiệu quả quản lý vốn
1.2.1. Khái niệm hiệu quả quản lý vốn
Hiệu quả được hiểu theo nghĩa chung nhất là một chỉ tiêu phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố cần thiết, tham gia mọi hoạt động theo mục đích nhất định của con
người. Về cơ bản vấn đề hiệu quả phản ánh trên hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội. Hiệu quả quản lý vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng, năng lực
khai thác, sử dụng và quản lý vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh
doanh làm cho đồng vốn sinh lời, nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi
phí. Hiệu quả quản lý vốn liên quan tới tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh

cao sẽ làm tăng uy tín, vị thế của doanh nghiệp trên thương trường, nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, nâng cao hiệu quả quản lý vốn là điều kiện quan
trọng để doanh nghiệp phát triển vững mạnh.
1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn
Hiệu quả quản lý vốn thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với tổng số
vốn bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh hiệu quả sử dụng
vốn chung của doanh nghiệp. Bằng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý vốn, các
nhà điều hành sẽ đánh giá được thực trạng sử dụng vốn của doanh nghiệp mình.Đây
chính là việc sử dụng các công cụ phân tích tài chính để đưa ra các đánh giá và quyết
định tài chính quan trọng đối với doanh nghiệp. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vốn
được chia thành các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn theo nguồn hình thành và
các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn theo tốc độ chu chuyển. Mỗi loại phản ánh
góc độ khác nhau trong việc đánh giá hiệu quả quản lý vốn.
12

1.2.2.1. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn theo nguồn hình thành
Kết cấu vốn sản xuất kinh doanh được hình thành bằng vốn bản thân doanh
nghiệp (vốn chủ sở hữu) và từ các nguồn vốn huy động bên ngoài doanh nghiệp (nợ
phải trả). Thông thường, mỗi doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn trên để
đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự kết hợp giũa hai nguồn
này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động
cũng như quyết định của người quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem xét tình hình
chung của nền kinh tế và tình hình thực tế tại doanh nghiệp. Một cấu trúc nguồn vốn
hợp lý phải đảm bảo sự hài hòa giữa vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả, có chi
phí sử dụng vốn thấp và rủi ro chấp nhận được, phù hợp với điều kiện kinh doanh.Việc
đánh giá hiệu quả quản lý vốn theo nguồn gốc hình thành giúp doanh nghiệp tổ chức
tốt công tác quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả và hợp lý, biết được khả năng của
mình trong việc huy động vốn là cao hay thấp, đề ra được cơ cấu tài chính tối ưu cho
doanh nghiệp.
a. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu
Doanh thu thuần
- Mức hao phí vốn chủ sở hữu so với lợi nhuận sau thuế
VCSH được đầu tư đem lại doanh thu cho doanh nghiệp nhưng trong nhiều
trường hợp nó không sinh ra lợi nhuận. Chính vì vậy để đưa ra những đánh giá chính
xác hơn, ta còn sử dụng chỉ tiêu mức hao phí vốn chủ sở hữu so với lợi nhuận sau
thuế. Chỉ tiêu cho biết để có 1 đơn vị lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp phải chi ra bao
nhiêu đơn vị vốn chủ sở hữu bình quân. Tỷ số này sẽ là con số ngược lại so với tỷ suất
sinh lời. Về mặt đánh giá hiệu quả quản lý vốn, chỉ tiêu này giống với mức hao phí
vốn chủ sở hữu so với doanh thu thuần. Do đó, mức hao phí vốn chủ sở hữu so với lợi
nhuận sau thuế càng lớn, hiệu quả hoạt động của VCSH càng thấp và ngược lại.
Công thức tính:
Mức hao phí VCSH so
với lợi nhuận sau thuế
=
Vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế
- Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp từ nguồn vốn chủ sở hữu. Nó cho biết một đồng vốn tự có tạo được bao
nhiêu đồng lợi nhuận. ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh của công ty càng mạnh
và cổ phiếu của công ty càng hấp dẫn. Vì hệ số này cho thấy khả năng sinh lời và tỷ
suất lợi nhuận của công ty. Hơn nữa, tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục
tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính của công ty.
Công thức tính:
Tỷ suất sinh lời
vốn chủ sở hữu
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu

tài chính trong trường hợp này là gây tổn thất cho chủ sở hữu, thậm chí là mất khả
năng chi trả.
b. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nợ phải trả
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vốn theo nguồn nợ phải trả:
- Tỷ trọng nợ
Tỷ trọng nợ phản ánh tỷ lệ vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Nó
mang ý nghĩa trong một đồng vốn kinh doanh bình quân mà doanh nghiệp đang sử
dụng có bao nhiêu đồng được hình thành từ vốn nợ. Hệ số nợ cao chứng tỏ doanh
nghiệp sử dụng nhiều nợ vay trong cơ cấu vốn, khả năng tự chủ của doanh nghiệp
thấp, có khả năng gặp phải rủi ro thanh toán lớn khi khoản vay đáo hạn.
Công thức tính:
Tỷ trọng nợ
=
Nợ phải trả
Tổng nguồn vốn Thang Long University Library
15

Bằng phương pháp Dupont, ta có thể biến đổi chỉ tiêu ROE như sau:
ROE
=
ROA
×
1
VCSH
Tổng tài sản
Mà: VCSH = Tổng tài sản – Nợ phải trả, nên ta có:
ROE

=
Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay
Chi phí lãi vay
- Tỷ suất sinh lời của vốn vay
Tỷ suất sinh lời của vốn vay cho biết doanh nghiệp sử dụng 1 đồng vốn vay vào
hoạt động kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Phần trăm lợi nhuận phát
16

sinh qua sử dụng vốn vay càng lớn thì càng thể hiện vốn vay đang được đầu tư và sử
dụng càng hợp lý và ngược lại.
- Công thức tính:
Tỷ suất sinh lời
của vốn vay
=
Lợi nhuận sau thuế

Nợ phải trả
Việc sử dụng hiệu quả vốn vay là một phần quan trọng quyết định đến lợi nhuận
của doanh nghiệp. Lượng vốn vay thay đổi trong các chu kỳ kinh doanh cũng sẽ tác
động đến tỷ suất sinh lời của vốn vay:
Mức ảnh hưởng của vốn
vay đến sự biến động
sức sinh lợi của vốn vay
=
Lợi nhuận sau
thuế kỳ gốc

Lợi nhuận sau
thuế kỳ gốc
Nợ phải trả ở kỳ

của nợ ngắn hạn phải trả. Chỉ số này càng lớn thì khả năng thanh toán ngắn hạn của
doanh nghiệp càng cao, đồng thời có ý nghĩa lớn trong việc giữ uy tín của doanh
nghiệp đối với các chủ nợ cũng như uy tín khi doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn.
Công thức tính:
Tỷ số thanh toán
hiện thời
=
Giá trị tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
- Tỷ số thanh toán nhanh
Tỷ số thanh toán nhanh được xác định bằng giá trị tài sản lưu động nhưng không
bao gồm hàng lưu kho chia cho các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ này cho biết doanh nghiệp
có sẽ có bao nhiêu tài sản lưu động có thể thanh toán ngay các khoản nợ phải trả ngắn
hạn. Cũng như khả năng thanh toán hiện thời, tỷ số thanh toán nhanh của doanh
nghiệp càng lớn thì doanh nghiệp càng có khả năng thanh toán cao và có ý nghĩa
tương tự đối với các chủ nợ cũng như khi doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn.
Công thức tính:
Tỷ số thanh toán
nhanh
=
Giá trị tài sản lưu động – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động được xây dựng trên cơ sở doanh thu thuần của
doanh nghiệp. Hệ số cho biết để tạo ra được một đồng doanh thu thuần thì doanh
nghiệp cần sử dụng bao nhiêu đồng vốn lưu động. Số Vốn lưu động mà doanh nghiệp
chi ra cho một chu kỳ sản xuất càng ít, tiết kiệm được các khoản chi phí trong quá
trình sản suất kinh doanh càng nhiều thì vốn càng được sử dụng một cách hiệu quả. Vì
vậy hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn tiết
kiệm được càng nhiều và ngược lại.

lưu động càng ngắn thì vốn lưu động được luân chuyển ngày càng nhiều trong kỳ, làm
ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn, chứng tỏ doanh nghiệp quản lý
vốn lưu động hiệu quả.
Công thức tính:
Thời gian chu chuyển
vốn lưu động
=
365
Vòng quay vốn lưu động
- Mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được
trong kỳ kinh doanh do tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động nên doanh nghiệp
chỉ tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc tăng với
quy mô không đáng kể. Mức tiết kiệm càng cao thể hiện doanh nghiệp quản lý vốn lưu
động càng tốt.
Thang Long University Library
19

Công thức tính:
Mức tiết kiệm
VLĐ tuyệt đối
=
Doanh thu thuần
kỳ gốc

Doanh thu thuần
kỳ gốc
Vòng quay VLĐ
kỳ phân tích
Vòng quay VLĐ

Mức tiết kiệm
VLĐ tương đối
=
Doanh thu thuần
kỳ phân tích

Doanh thu thuần
kỳ phân tích
Vòng quay VLĐ
kỳ phân tích
Vòng quay VLĐ
kỳ gốc
20

Công thức tính:
Vòng quay các
khoản phải thu
=
Doanh thu thuần trong kỳ
Các khoản phải thu trong kỳ
- Kỳ thu tiền binh quân
Kỳ thu tiền binh quân phản ánh rõ hơn tốc độ thu hồi tiền của doanh nghiệp. Kỳ
thu tiền càng ngắn thì doanh nghiệp càng có thể quay vòng vốn từ các khoản phải thu
để tái đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải thận trọng cân nhắc thời
gian thu tiền hợp lý vì sẽ ảnh hưởng đến khâu tiêu thụ sản phẩm và chính sách thu tiền
đối với đối tác.
Công thức tính:
Kỳ thu tiền
binh quân
=

=
365
Vòng quay các khoản phải trả
- Thời gian quay vòng tiền mặt
Thời gian quay vòng tiền mặt được định nghĩa là thời gian để doanh nghiệp
chuyển hóa các nguyên vật liệu sản xuất thành tiền mặt, đây cũng chính là khoảng thời
gian doanh nghiệp cần sử dụng vốn lưu động. Nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả
năng quản lý vốn lưu động tốt. Ngược lại, con số này lớn có thể được giải thích là:
doanh nghiệp phải thuê thêm vốn trong khi vẫn phải chờ khách hàng trả nợ tiền hàng
cho mình. Chỉ tiêu này là công cụ hữu hiệu để đánh giá sự tối ưu của nguồn vốn lưu
động, tối giảm chi phí tài chính và thiết lập các chính sách quản trị liên quan đến các
khoản phải trả, phải thu và hàng tồn kho. Ngoài ra, thời gian quay vòng tiền mặt là chỉ
số đánh giá thanh khoản ngắn hạn của doanh nghiệp một cách xác thực và hiệu quả
hơn hẳn chỉ số thanh toán hiện thời và chỉ số thanh toán nhanh.
Công thức tính:
Thời gian quay vòng tiền mặt = Thời gian quay vòng hàng tồn kho + Kỳ thu
tiền bình quân – Thời gian trả nợ
Dựa trên công thức này, việc rút ngắn thời gian quay vòng tiền mặt có thể thực
hiện bằng cách rút ngắn thời gian thu hồi công nợ (giảm số ngày của kỳ thu tiền bình
quân) hoặc nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho. Ngoài ra, còn có thể thực hiện qua
việc thương thảo với các nhà cung ứng, kéo dài thời gian công nợ.
- Tỷ suất sinh lời vốn lưu động
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn lưu động còn được gọi là doanh lợi vốn lưu động, là
một trong những chỉ tiêu không thể thiếu trong việc đánh giá hiệu quả quản lý vốn lưu
động. Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn lưu động. Chỉ tiêu này được xây dựng
trên cơ sở lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Nó chỉ ra rằng cứ một đồng vốn lưu
động tham gia vào một chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận. Sức sinh lời vốn lưu động càng cao cho biết doanh nghiệp đã sử dụng vốn
lưu động có hiệu quả, ngược lại chỉ tiêu này thấp có nghĩa là lợi nhuận trên một đồng
vốn là nhỏ. Dựa vào chỉ tiêu này, các nhà phân tích tài chính có thể đánh giá được

b. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn cố định
Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vốn cố định dùng để đánh giá chất
lượng và hiệu quả đầu tư cũng như chất lượng sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
Phân tích các chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá thực trạng quản trị vốn cố định
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu
quả sử dụng và quản lý tốt nguồn vốn cố định của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu phản ánh
và đánh giá hiệu quả quản lý vốn cố định của doanh nghiệp gồm có:
- Hệ số đảm nhiệm vốn cố định
Hệ số đảm nhiệm vốn cố định phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu trong kỳ
thì hàm lượng vốn cố định cần phải đảm nhiệm là bao nhiêu, hay nói cách khác chỉ
tiêu này phản ánh tỷ trọng của vốn cố định trong một đồng doanh thu. Chỉ tiêu này
càng nhỏ chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng hiệu quả. Nó còn thể hiện trình
độ quản lý và sử dụng tài sản cố định đạt trình độ cao.
Công thức tính:
Hệ số đảm nhiệm
vốn cố định
=
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
Thang Long University Library
23

- Vòng quay vốn cố định
Vòng quay vốn cố định phản ánh một đồng vốn cố định được đầu tư, tạo ra được
bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ. Hay nói cách khác, trong
một chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn cố định của doanh nghiệp quay vòng được bao
nhiêu lần. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất quản lý vốn cố định càng cao. Hiệu
suất càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn cố định có hiệu quả. Tuy nhiên, vốn
cố định thường có thời gian sử dụng cao, doanh nghiệp cần phải hạn chế được sự hao
phí của vốn cố định.


24

Để nắm rõ được những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời vốn cố định ta sử
dụng phương pháp Dupont để phân tích như sau:
Tỷ suất sinh lời
VCĐ
=
Lợi nhuận sau thuế
×
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần
VCĐ bình quân
Hay :
Tỷ suất sinh lời VCĐ = ROS × Vòng quay VCĐ
Tương tự như tỷ suất sinh lời VLĐ, tỷ suất sinh lời VCĐ cũng phụ thuộc vào hai
nhân tố là tỷ suất sinh lời doanh thu thuần (ROS) và vòng quay VCĐ. Như vậy, để có
thể nâng cao hiệu quả quản lý vốn ta có thể nâng cao sức sinh lời doanh thu thuần và
gia tăng vòng quay VCĐ.
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Để đánh giá chính xác hơn người ta còn sử dụng chỉ tiêu hiệu suất tài sản cố
định. Đây là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp hiệu quả của tài sản cố định trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định cho biết đuợc một
đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định càng lớn thì doanh thu đạt được càng cao, chứng tỏ
hiệu quả tốt trong việc sử dụng tài sản cố định, trong công tác quản lý nguồn vốn cố
định. Chính vì vậy chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Công thức tính:
Hiệu suất sử dụng
tài sản cố định

hội kinh doanh và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Những cơ chế này thay đổi
theo từng thời kỳ khiến cho công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp cũng phải thay
đổi để có thể thích nghi và phù hợp. Nếu doanh nghiệp kinh doanh theo những lĩnh
vực được nhà nước khuyến khích thì họ sẽ có những điều kiện thuận lợi để phát triển
và ngược lại.
b. Nhân tố kinh tế
Nhân tố kinh tế là tổng hợp các yếu tố như: lạm phát, tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế đất nước, sự thay đổi cơ cấu kinh tế, hoạt động ngoại thương,… Những yếu tố
này trực tiếp tác động đến tốc độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó tác
động đến hiệu quả quản lý vốn. Doanh nghiệp phải tính toán và dự báo thật đầy đủ,
chính xác trước những biến động của nền kinh tế, từ đó đưa ra quyết định thực hiện
đối với các kế hoạch sản xuất kinh doanh. Quản lý vốn một cách hiệu quả và linh hoạt
sẽ giúp doanh nghiệp tăng cường năng lực tự chủ về tài chính trước những biến động
thất thường của nền kinh tế.
c. Nhân tố thị trường
Nhân tố thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh
nghiệp. Thị trường đầu vào là nơi cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,… cho nên nó tác động trực tiếp đến giá thành sản
phẩm, tính liên tục và hiệu quả sản xuất. Thị trường đầu ra quyết định doanh thu của
doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp. Nó quyết định
tốc độ tiêu thụ, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm,… Dễ thấy, nhân tố thị trường tác
động đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khiến kết quả lợi nhuận của
doanh nghiệp thay đổi, từ đó hiệu quả quản lý vốn của doanh nghiệp cũng thay đổi.
d. Nhân tố cạnh tranh
26

Sự cạnh tranh trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó làm ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý vốn.Việc
xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh dẫn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ
trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vì doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả kinh

Thang Long University Library

Trích đoạn Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý vốn Thông tin tổng quan về công ty Lựa chọn phương pháp trích khấu hao vàsử dụng quỹ khấu hao hợp lý Thực hiện thuê và cho thuê tài sản cố định Nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status