Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán, phân loại nguyên nhân và các quy định pháp luật để hạn chế, phòng ngừa rủi ro - Pdf 27

Hoàng Minh Thắng – KT33C002.
LỜI MỞ ĐẦU.
Trong nền kinh tế thị trường, dường như không có hoạt động đầu tư kinh doanh
nào lại không có nguy cơ gặp rủi ro. Lợi nhuận càng cao, rủi ro càng lớn, nhưng điều
ngược lại thì chưa hẳn đã đúng: lợi nhuận có thể thấp, song rủi ro chưa chắc đã nhỏ
đi. Đầu tư chứng khoán cũng không nằm ngoài quy luật này, thậm chí ở mức sâu đậm
và đa diện hơn. Để tìm hiểu vấn đề này. Em đã chọn đề tài: “Rủi ro trong kinh doanh
chứng khoán, phân loại nguyên nhân và các quy định pháp luật để hạn chế, phòng
ngừa rủi ro”.
Do đây là một vấn đề khó, đòi hỏi kiến thức kinh tế cũng như hiểu biết về thị
trường chứng khoán Việt Nam nên trong bài làm không thể tránh khỏi những sai sót,
em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để hoàn thiện bài làm của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG.
I. Khái niệm kinh doanh chứng khoán.
1. Định nghĩa kinh doanh chứng khoán.
Cùng với sự xuất hiện của nghề kinh doanh chứng khoán, thuật ngữ “kinh
doanh chứng khoán” thực chất mới được du nhập và sử dụng ở nước ta trong thời gian
gần đây do hệ quả của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Ở Việt Nam theo quy định tại Khoản 19 Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006 thì “kinh
doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng
khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu kí chứng
khoán, quản lí quỹ đầu tư chứng khoán và quản lí danh mục đầu tư chứng khoán.” Với
định nghĩa này, khái niệm kinh doanh chứng khoán ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa
khá rộng và cơ bản tương đồng với khái niệm kinh doanh chứng khoán trong pháp
luật các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu
Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,...Nói một cách khái quát kinh doanh chứng
khoán là loại hình hoạt động thương mại đặc biệt mà ở đó các công ty chứng khoán,
công ty quản lí quỹ và các chủ thể được phép kinh doanh chứng khoán tiến hành các
nghiệp vụ về chứng khoán cho chính mình hoặc cho khách hàng vì mục tiêu thu lợi
nhuận tối đa.

phải trong kinh doanh chứng khoán và ta có thể chia những rủi ro này thành 2 loại: rủi
ro hệ thống và rủi ro không hệ thống.
1. Rủi ro hệ thống.
Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động chung đến hoạt động của thị trường và bắt
nguồn từ các yếu tố vĩ mô, các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán
buộc phải chấp nhận.
Tiêu biểu cho rủi ro hệ thống là rủi ro chính sách mà chủ thể hoạt động kinh
doanh chứng khoán phải đối mặt. Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng không nhỏ tới sự
vận hành và biến động của thị trường chứng khoán, chẳng hạn chính sách 2 giá trong
phát hành cổ phiếu (giảm giá từ 20-40% cho các nhà đầu tư chiến lược hoặc cán bộ,
công nhân viên của công ty cổ phần hóa lần đầu); những thay đổi trong chính sách tỷ
giá, lạm phát, tỷ lệ nắm giữ cổ phần trong công ty cổ phần của các nhà đầu tư chiến
lược, các nhà đầu tư nước ngoài; chính sách xuất – nhập khẩu, độc quyền hoặc các
quan hệ quốc tế song phương – đa phương v.v..Các chính sách nói trên không chỉ tác
động tới hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư chứng khoán mà còn tác động tới hoạt
Luật chứng khoán.
Hoàng Minh Thắng – KT33C002.
động tự doanh chứng khoán của các công ty chứng khoán, hoạt động môi giới chứng
khoán, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán,...
Bên cạnh đó, rủi ro từ các chấn động của thị trường trong và ngoài nước cũng
có thể gây tổn thất cho các chủ thể hoạt động kinh doanh chứng khoán. Các chấn
động của thị trường như:
- Các trào lưu mua bán theo tâm lý đám đông, đầy cảm tính và xúc cảm, làm
phá vỡ các quy luật vận động bình thường của thị trường. Ta có thể thấy rõ tác động
của các trào lưu này qua diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2007,
khi mọi người đổ xô đi mua chứng khoán, chỉ số VN-INDEX liên tục phá vỡ những
kỉ lục và đã vượt xa mốc 1000 điểm, vượt xa giá trị thực tế của thị trường.
- Các hoạt động đầu cơ, tung tin đồn thất thiệt, gây nhiễu thông tin và tự “đánh
bóng”, thổi giá hoặc thậm chí lừa đảo và thông đồng có tổ chức của một số nhà đầu tư
chuyên nghiệp có tiềm lực tài chính và sức mạnh khác đủ tạo nên động thái thăng,

do mù mờ thông tin. Khả năng lắng nghe, phân tích đọc “vị” các “chiêu thức” và cả
nghệ thuật “tung tin đồn”, gây nhiễu trên thị trường chứng khoán của cả các “đại gia”
hoặc “đại bợm” kinh doanh chứng khoán, hay của bản thân các công ty, tổ chức phát
hành chứng khoán, là biện pháp đặc hiệu để nhà đầu tư tự bảo vệ mình, tránh những
cạm bẫy và rủi ro gắn với các loại thông tin “mờ ảo” trên thị trường đặc thù này.
Một báo cáo tài chính hoặc cáo bạch chưa được kiểm toán, thẩm định bởi các tổ
chức độc lập, chuyên nghiệp, có uy tín và trình độ chuyên môn cao; một thông tin đến
chậm hoặc bị cắt xén không đầy đủ, không chính xác về hoạt động kinh doanh của
công ty phát hành cổ phiếu, về môi trường pháp lý và về các nhà đầu tư khác trên
cùng “sân chơi”, hoặc đơn giản là về tình hình thời tiết hay dịch bệnh nào đó… đều
có thể trở thành đầu mối trực tiếp gây ra các thiệt hại khôn lường cho nhà đầu tư
chứng khoán.
2.3. Rủi ro từ lựa chọn đối nghịch.
Lựa chọn đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi
diễn tra cuộc giao dịch Trên thị trường chứng khoán, lựa chọn đối nghịch xuất hiện
khi nhà đầu tư không biết thông tin về các loại cổ phiếu của các công ty khác nhau do
đó có thể mua phải cổ phiếu của một công ty hoạt động kém, rủi ro cao. Vấn đề lựa
chọn đối nghịch cũng xuất hiện trong nhiều hoạt động khác của nền kinh tế. Nói một
cách tổng quát, lựa chọn đối nghịch là những quyết định sai lầm của một bên tham gia
giao dịch mà nguyên nhân là do cac rủi ro về thông tin. Ví dụ, công ty chứng khoán A
mua cổ phiếu X trong lĩnh vực bất động sản từ nhà đầu tư B, B biết rõ khả năng kinh
doanh sinh lời của công ty X nhưng A thì không. Kết quả là B sẵn sàng bán ở mức giá
có lợi và không bao giờ bán ở mức giá bất lợi cho anh ta. Và khi A mua cổ phiếu X
từ B với mức giá bất lợi cho mình, B đã thực hiện một lực chọn đối nghịch do thiếu
thông tin.
2.4. Rủi ro từ đạo đức.
Rủi ro đạo đức cũng là một hậu quả của thông tin không cân xứng trên thị
trường. Khác với lựa chọn đối nghịch, rủi ro đạo đức xuất hiện sau cuộc giao dịch khi
một bên thực hiện những hành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của phía đối
tác. Có nhiều cách định nghĩa về rủi ro đạo đức:

Đối với chứng khoán, tính thanh khoản của nó thấp do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, tình trạng tài chính và triển vọng thị trường của công ty, tổ chức phát
hành chứng khoán không tốt. Thật không may cho nhà đầu tư chứng khoán, khi vì
một lý do nào đó, chứng khoán mà họ đã mua là của một công ty, tổ chức có tình
trạng tài chính thiếu lành mạnh và triển vọng cung cấp các yếu tố đầu vào, cũng như
khả năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra của công ty, tổ chức đó không đảm bảo hiệu quả
vững chắc. Rủi ro đối với nhà đầu tư sẽ là tối đa khi công ty, tổ chức phát hành chứng
khoán bị phá sản hoặc đơn giản là lặng lẽ “biến mất” trên thương trường sau những
“pha” “tự đánh bóng” khá chuyên nghiệp, giật gân nhằm thu hút, dẫn dụ những nhà
đầu tư.
Trên thị trường chứng khoán hiện nay, vẫn đang tiếp tục diễn ra tình trạng công
khai và nô nức đấu giá mua cổ phiếu của cả những công ty trên thực tế đã bị phá sản
vì trình trạng tài chính âm, không thể trả nợ, hoặc của những công ty, quỹ đầu tư thậm
chí mới có quyết định thành lập, chưa hề triển khai hoạt động trên thực tế…
Thứ hai, lựa chọn không đúng cơ cấu chứng khoán đầu tư. Nhà đầu tư chứng
khoán có thể chịu rủi ro từ việc “bỏ hết trứng vào một giỏ”. Việc sở hữu thuần túy các
cổ phiếu ưu đãi mà không được chuyển nhượng trong thời hạn nhất định (thường từ 3-
Luật chứng khoán.
Hoàng Minh Thắng – KT33C002.
5 năm) cũng có thể khiến nhà đầu tư gặp rủi ro liên quan đến tính thanh khoản thấp
của các chứng khoán này, nhất là khi họ cần tiền để trả lãi vay ngân hàng hoặc muốn
rút vốn về để đầu tư vào nơi khác có lãi hơn, an toàn hơn…
Thứ ba, sự cạnh tranh khốc liệt và biến động khôn lường của thị trường. Ngay
cả những chứng khoán tốt nhất có sức hấp dẫn nhất, “hot” nhất thuộc dạng “blue-
chip” cũng có thể không giữ vững được vị thế của mình một cách ổn định, lâu dài
trước sự cạnh tranh và biến động tới chóng mặt của thị trường trong xu thế toàn cầu
hóa. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư chứng khoán có thể phải hứng
chịu cả hai dạng thiệt hại “khấu hao hữu hình” và “khấu hao vô hình” giá trị và tính
thanh khoản của các chứng khoán mà họ nắm giữ.
3. Vấn đề thông tin không cân xứng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status