MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG Ở ĐÔ THỊ 3
I.1. Đô thị, đô thị hóa và phát triển đô thị theo dự án 3
I.2. Dự án đầu tư xây dựng 11
I.3. Hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng ở đô thị 19
I.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả dự án đầu tư Xây dựng 22
25
Dự án New skyline 25
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH ĐÂU TƯ DỰ ÁN XÂY DỰNG TÒA NHÀ NEW
SKYLINE, KHU ĐÔ THỊ MỚI VĂN QUÁN, 26
HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI 26
I.5. Sự cần thiết đầu tư 26
I.6. Giới thiệu về dự án New skyline 28
I.7. Tổng mức đầu tư 30
I.8. Phân tích hiệu quả đầu tư 38
I.9. Đánh giá tác động môi trường 40
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG Ở ĐÔ THỊ 46
I.10. Nâng cao hiệu quả kinh tế 46
I.11. Nâng cao hiệu quả xã hội 52
I.12. Một số kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền 54
DANH MỤC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
Chính phủ, trong những năm qua, hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng các công trình
xây dựng và phát triển các ngành kinh tế thuộc nhiều lĩnh vực đã và đang được triển
khai trên khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước. Cùng với quá trình đô thị hóa diễn
riềng, các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn Hà Nội nói chung
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phân tích
định tính, phương pháp logic và các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là dự án đầu tư xây dựng ở đô thị, phạm vi cụ thể
là dự án xây dựng tòa nhà New skyline, khu đô thị mới Văn Quán; ngoài ra đề tài có
thể áp dụng cho các dự án khác trên địa bàn Hà Nội
6. Kết cấu chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc, nội dung chính của chuyên đề gồm có
ba chương
Chương I: Một số lý luận chung về dự án đầu tư xây dựng ở đô thị
Chương II: Tình hình đầu tư dự án xây dựng tòa nhà New skyline, khu đô thị
mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Chương III:Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng ở đô thị
2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG Ở ĐÔ THỊ
I.1. Đô thị, đô thị hóa và phát triển đô thị theo dự án
I.1.1. Đô thị và phân loại đô thị
Có rất nhiều định nghĩa về đô thị dưới nhiều góc độ khác nhau của các chuyên
gia, nhưng một khái niệm chung nhất, đầy đủ nhất đã được đưa ra:
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai
trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ,
của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện.
(tr5, giáo trình Quản lý đô thị, Đại học Kinh tế quốc dân)
Còn ở Việt Nam, theo nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5 tháng 10 năm
2001 của Chính phủ, quy định: Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Đó là điểm tập trung dân cư,
nhất thời do các lực tác động của chính bản thân đô thị (nội lực) hoặc từ bên ngoài
tới (ngoại lực).
Ngày nay, đô thị hóa với tốc độ cao là xu thế tất yếu của hầu hết các quốc gia
đang phát triển trên thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ trong số đó. Trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của các quốc gia, đô thị đóng vai trị
như những hạt nhân quan trọng bởi lẽ hầu hết các hoạt động kinh tế văn hóa của
quốc gia đều diễn ra chủ yếu ở các đô thị. Đối với một nước đang phát triển như
Việt Nam thì đô thị hóa là một đặc điểm phát triển quan trọng, đó là một tiến trình
không thể tránh khỏi và gắn liền với sự phát triển kinh tế. Đô thị hóa được coi là
nhiệm vụ chính trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đến năm 2020, gần
một nửa (45%) người Việt Nam sẽ sống ở các vùng đô thị. Tuy nhiên, nếu Chính
phủ quá coi trọng giá trị của việc đô thị hóa như là động lực phát triển kinh tế mà
không nhận thấy mối nguy cơ tiềm năng của việc đô thị hóa thiếu sự kiểm soát, sẽ
là nguồn gốc tạo ra những thành phố hỗn độn và gây thiệt hại cho môi trường. Vì
vậy phát triển đô thị theo dự án là một nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo nên một thể
4
thống nhất cho đô thị: hài hòa và cân đối. Sau đây là nội dung của “kiểm soát phát
triển đô thị theo dự án”:
Quy trình phát triển đất đai của các dự án đầu tư ở đô thị
Việc phát triển đô thị theo kiểu tự phát hoặc thiên về cải tạo và xây mới các
công trình nhỏ lẻ đã dẫn tới phá vụn bộ mặt đô thị hoặc hình thành những khu ổ
chuột, phát triển không theo quy hoạch và không thể kiểm soát được chất lượng vệ
sinh, chất lượng sống nói chung Chính vì thế, yêu cầu phải kiểm soát đô thị theo
các dự án phát triển có quy mô nhất định, khi xây dựng xong sẽ hình thành các cụm
công trình hay khu đô thị đồng bộ, hoàn thiện về hạ tầng kỹ thuật lẫn xã hội. Để
kiểm soát được quá trình xây dựng này, hiện nay có một số quy trình chủ yếu là quy
trình kiểm soát phát triển đô thị nói chung, được quy định tại Nghị định 52/CP/1999
và quy trình kiểm soát phát triển đô thị mới là sự vận dụng của Nghị định
52/CP/1999 nói trên. Việc kiểm soát quy trình đầu tư xây dựng một dự án theo Nghị
định 52/CP/1999 theo sơ đồ sau:
Với quy trình như trên, việc kiểm soát xây dựng các dự án nói chung sẽ được
kiểm soát từ đầu, cho dù đó là dự án của Nhà nước hay tư nhân. Sự khác biệt giữa
hai khu vực này chỉ là vấn đề về mặt tài chính quyết toán và quyết định đầu tư, còn
về mặt quy hoạch hoàn toàn giống nhau. Việc kiểm soát đó sẽ giúp cho đô thị phát
triển theo một quy hoạch thống nhất, đồng bộ về mặt kỹ thuật cũng như cảnh quan,
góp phần tạo nên một diện mạo đẹp cho đô thị.
Quy trình lập và xét duyệt dự án phát triển khu đô thị mới
“Khu đô thị mới” là một thuật ngữ được nhiều người biết đến, đặc biệt là trong
quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh như hiện nay. “Khu đô thị mới là khu
xây dựng mới tập trung theo dự án đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh,
đồng bộ và phát triển nhà của toàn khu, được gắn với một đô thị hiện có hoặc với
một đô thị mới đang hình thành có ranh giới và chức năng được xác định phù hợp
với quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt”.
Sau đây là quy trình lập quy hoạch chi tiết và xét duyệt các khu đô thị mới:
6
Sơ đồ 1.2: Quy trình kiểm soát phát triển đô thị mới
Các bước của quy trình kiểm soát phát triển đô thị mới:
B1 - Giới thiệu địa điểm
B2 - Lập quy hoạch chi tiết 1/2000
B3 - Lập quy hoạch chi tiết 1/500
B4 - Thỏa thuận quy hoạch đối với các ngành liên quan
Quy trình cấp chứng chỉ quy hoạch và cấp phép xây dựng
• Quy trình cấp chứng chỉ quy hoạch:
Mục đích của việc cấp chứng chỉ quy hoạch là để nhà đầu tư triển khai dự án
đầu tư phát triển và cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp chứng
chỉ quy hoạch là bắt buộc đối với những trường hợp sau:
- Dựng để lập dự án phát triển trong đô thị có sử dụng ở quy mô nhất định khi
phát triển tại các khu vực chưa có quy hoạch chi tiết;
- Lập các dự án phát triển có sử dụng đất đô thị mà quy hoạch chi tiết chưa dự
trù các nội dung cho các tình huống mà dự án phát triển yêu cầu;
văn bản cho đương sự biết về yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh hồ sơ. Chủ đầu tư có
quyền đề nghị người tiếp nhận hồ sơ giải thích rõ những yêu cầu cần bổ sung và
hoàn chỉnh hồ sơ, người tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm đáp ứng đề nghị đó của
đương sự. Thời gian hoàn chỉnh hồ sơ không tính vào thời gian thụ lý hồ sơ.
Trường hợp từ chối tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép xây dựng, thì người trực tiếp
8
nhận hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng phải trả lời bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý
do từ chối cho đương sự biết.
(2) Xin ý kiến các tổ chức có liên quan
Khi giải quyết cấp giấy phép xây dựng, trong trường hợp cần thiết cơ quan cấp
giấy phép xây dựng có thể gửi văn bản cho các tổ chức có liên quan như: kiến trúc,
quy hoạch, địa chính, văn hóa, y tế, công nghệ môi trường, phòng cháy chữa cháy,
giao thông công chính, quốc phòng và Ủy ban nhân dân sở tại để xin ý kiến.
Sau 10 ngày kể từ khi nhận được công văn xin ý kiến, các tổ chức và cá nhân
được hỏi ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép xây
dựng.
(3) Giải quyết các khiếu nại
Khi nhận được khiếu nại về việc cấp giấy phép xây dựng thì cơ quan cấp giấy
phép xây dựng phải cử cán bộ có đủ khả năng và thẩm quyền nhận đơn và trả lời
cho chủ đầu tư.
Trường hợp chủ đầu tư vẫn không thống nhất với ý kiến trả lời của người đại
diện cơ quan cấp giấy phép xây dựng, thì thủ trưởng cơ quan cấp giấy phép xây
dựng phải trực tiếp gặp và giải quyết khiếu nại đó của dân hoặc chủ đầu tư; nếu chủ
đầu tư vẫn không thống nhất với cách giải quyết của thủ trưởng cơ quan cấp giấy
phép xây dựng thì khiếu nại lên cơ quan cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy
định của pháp luật.
(4) Thẩm tra hồ sơ, quyết định cấp giấy phép xây dựng và thu lệ phí
Căn cứ vào hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng, các ý kiến tham vấn, chứng chỉ
quy hoạch (nếu có), quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng và các văn bản pháp luật
khác có liên quan, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng thẩm định hồ sơ,
Đối với các giai đoạn thi công còn lại, chủ đầu tư phải thi công theo đúng giấy
phép xây dựng được cấp. Trường hợp chủ đầu tư xây dựng sai với quy định của
giấy phép xây dựng thì phải được xử lý theo quy định pháp luật, sau đó mới được
tiếp tục thi công.
10
Khi công trình đã được xây dựng xong, chủ đầu tư phải tổ chức nghiệm thu
theo đúng quy định của Bộ Xây dựng tại Điều lệ quản lý chất lượng công trình xây
dựng.
Trường hợp công trình xây dựng khồn đúng với giấy phép xây dựng đã cấp,
những có lý do chính đáng và đã được cơ quan cấp giấy phép xây dựng chấp thuận
cho phép điều chỉnh thì chủ đầu tư phải lập hồ sơ hoàn công. Thành phần hồ sơ
hoàn công như thành phần hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng và chỉ phải thể hiện lại
những bản vẽ mà thực tế xây dựng công trình có những thay đổi so với giấy phép
xây dựng.
(6) Lưu trữ hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng và hồ sơ hoàn công
Cơ quan cấp giấy phép xây dựng có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ cấp giấy phép
xây dựng và hồ sơ hoàn công để quản lý chặt chẽ việc cải tạo và xây dựng các công
trình.
Việc kiểm soát phát triển đô thị theo dự án như trên sẽ góp phần kiểm soát tốc
độ đô thị hóa phù hợp với điều kiện cũng như những tiềm năng vốn có của vùng.
Đồng thời việc kiểm soát phát triển đô thị theo dự án sẽ tạo nên bộ mặt cho đô thị,
hài hòa và đồng nhất. Ở Việt Nam, công việc này càng quan trọng hơn cả. Vì hiện
nay, công tác quy hoạch đô thị đang gặp rất nhiều khó khăn, hệ thống cơ sở hạ tầng
từ quá khứ để lại xuống cấp, các nhà dân mọc lên không theo một quy hoạch nào,
quá manh mún và thiếu đồng bộ. Vì vậy, phát triển đô thị theo dự án là một việc
làm hết sức cần thiết, với hy vọng đem lại một quy hoạch có tính khoa học cao.
I.2. Dự án đầu tư xây dựng
I.2.1. Khái niệm
Thường có hai cách hiểu về dự án: theo cách hiểu thứ nhất (“tĩnh”) thì dự án
là hình tượng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới. Còn theo cách
án xây dựng nhà cao tầng, dự án xây dựng công trình lớn, dự án xây dựng công
nghiệp.
− Ở Việt Nam, các dự án đầu tư xây dựng coongtrinhf được phân loại như
sau:
12
a) Theo quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét,
quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn được phân thành nhóm A, B, C (quy
mô của từng nhóm được quy định cụ thể tại từng thời điểm do chính phủ ban hành)
b) Theo nguồn vốn đầu tư:
Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước;
Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước;
Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước
Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp
nhiều nguồi vốn
I.2.3. Quy trình và thủ tục một dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng là kết quả của một quá trình từ lúc hình thành ý tưởng
đầu tư cho đến khi dự án được đưa vào vận hành, khai thác sử dụng. Quá trình này
có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí có những dự án đầu tư xây dựng với quy mô lớn
thì quá trình này có thể lên đến hàng chục năm. Sản phẩm của quá trình này là các
công trình xây dựng cơ bản sẽ được đưa vào vận hành và khai thác, đem lại lợi ích
kinh tế cho con người. Đây là một quá trình lâu dài, với nhiều thủ tục liên quan bắt
buộc mỗi dự án đều phải trải qua. Sau đây là bảng khái quát các bước công việc của
quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư xây dựng:
Bảng 1.1: Chi tiết các bước công việc của quá trình hình thành và thực hiện một dự
án đầu tư xây dựng
Chuẩn bị
đầu tư
Nghiên cứu tìm kiếm cơ hội đầu tư
Lập dự án tiền khả thi hoặc báo cáo sơ bộ
- Ký hợp đồng mời thầu cung ứng vật tư xây
dựng
- Ký hợp đồng mời thầu cung ứng máy móc
thiết bị
Tổ chức thi
công xây
dựng
- Tiếp nhận vốn vay, vốn cấp
- Thực hiện đền bù giải tỏa, san lấp mặt bằng
xây dựng
- Tiếp cận và bảo quản vật tư xây dựng
- Tổ chức thi công xây dựng
- Giám sát thi công xây dựng
- Tiếp nhận, giám sát lắp đặt thiết bị
- Hoàn thiện xây dựng, lắp đặt công trình
- Chuẩn bị bộ máy quản lý, tuyển dụng đào
tạo nhân lực
- Nghiệm thu bàn giao công trình
- Thanh quyết toán xây dựng công trình
- Vận hành thử công trình
Khai thác
Đưa công trình vào vận hành khai thác
Bất kỳ một dự án đầu tư xây dựng nào cũng trải qua một quy trình gồm ba
bước từ lúc chuẩn bị đầu tư đến lúc thực hiện đầu tư xây dựng và cho đến lúc đưa
dự án vào vận hành khai thác. Mỗi bước ấy lại bao gồm nhiều công việc khác nhau
mà chủ đầu tư có thể trực tiếp làm hoặc thuê tư vấn. Và một điều không thể thiếu
trong quy trình ấy, đó chính là các thủ tục hành chính liên quan. Tại điều 4 chương
II của nghị định 16/2005/NĐ-CP ban hành ngày 7 tháng 2 năm 2005 về quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình, đã quy định:
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, sau khi tìm kiếm được cơ hội đầu tư, nhà đâu
Trong vòng 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị, cơ quan được hỏi ý
kiến phải có văn bản trả lời về những nội dung thuộc phạm vi quản lý của mình.
15
Trong vòng 7 ngày sau khi nhận được văn bản trả lời theo thời hạn trên, Bộ quản lý
ngành phải lập báo cáo để trình Thủ tướng Chính phủ. Báo cáo trình Thủ tướng
Chính phủ bao gồm: tóm tắt nội dung Báo cáo đầu tư, tóm tắt ý kiến các Bộ, ngành
và đề xuất ý kiến về việc cho phép đầu tư xây dựng công trình kèm theo bản gốc
văn bản ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan.
Bước sang giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng, chủ đầu tư phải tổ chức lập dự
án đề làm rõ về sự cần thiết phải đầu tư và hiệu quả đầu tư xây dựng công trình, trừ
những trường hợp sau:
•Công trình chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình
quy định tại khoản 1 điều 12 của Nghị định này;
•Các công trình xây dựng là nhà ở riêng lẻ của dân quy định tại khoản 5 điều
35 của Luật Xây dựng
Đối với những dự án nhóm B chưa có trong quy hoạch kinh tế - xã hội, quy
hoạch ngành, quy hoạch xây dựng thì trước khi lập dự án phải có ý kiến thỏa thuận
bằng văn bản của có quan có thẩm quyền phê duyệt về quy hoạch. Nội dung dự án
bao gồm: phần thuyết minh của dự án và nội dung thiết kế cơ sở của dự án.
Phần thuyết minh của dự án bao gồm những nội dung sau:
•Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư; đánh giá nhu cầu thị trường, tiêu thụ sản
phẩm đối với dự án sản xuất, kinh doanh hình thức đầu tư xay dựng công trình; địa
điểm xây dựng, nhu cầu sử dụng đất; điều kiện cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu và
các yếu tố đầu vào khác
•Mô tả về quy mô và diện tích xây dựng công trình, các hạng mục công trình
bao gồm công trình chính, công trình phụ và các công trình khác; phân tích lựa
chọn phương án kỹ thuật , công nghệ và công suất
•Các giải pháp thực hiện bao gồm:
- Phương án đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư và phương án hỗ trợ xây
dựng hạ tầng kỹ thuật nếu có;
công trình với quy hoạch xây dựng tại khu vực và các công trình lân cận; ý tưởng
của phương án thiết kế kiến trúc; màu sắc công trình; các giải pháp thiết kế phù hợp
với điều kiện khí hậu, môi trường, văn hóa, xã hội tại khu vực xây dựng;
17
- Phần kỹ thuật: giới thiệu tóm tắt đặc điểm địa chất công trình, phương án gia
cố nền, móng, các kết cấu chịu lực chính, hệ thống kỹ thuật và hạ tầng kỹ thuật của
công trình, san nền, đào đắp đất; danh mục các phân mềm sử dụng trong thiết kế;
- Giới thiệu tóm tắt phương án phòng chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường;
- Dự tính khối lượng các công tác xây dựng, thiết bị để lập tổng mức đầu tư và
thời gian xây dựng công trình.
Các bản vẽ thiết kế cơ sở bao gồm:
•Bản vẽ công nghệ thể hiện sơ đồ dây chuyền công nghệ với các thông số kỹ
thuật chủ yếu;
•Bản vẽ xây dựng thể hiện các giải pháp về tổng mặt bằng, kiến trúc, kết cấu,
hệ thống kỹ thuật và hạ tầng kỹ thuật công trình với các kích thước và khối lượng
chủ yếu, các mốc giới, tọa độ và cao độ xây dựng;
•Bản vẽ sơ đồ hệ thống phòng chống cháy, nổ.
Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có mục đích sản xuất kinh
doanh thì tùy theo tính chất, nội dung của dự án có thể giảm bớt một số nội dung
thiết kế cơ sở quy định quy định như trên nhưng phải đảm bảo yêu cầu về quy
hoạch, kiến trúc, xác định được tổng mức đầu tư và tính toán được hiệu quả đầu tư
của dự án. Số lượng thuyết minh và các bản vẽ của thiết kế cơ sở được lập tối thiểu
là 09 bộ.
Sau khi hoàn tất các nội dung trên, chủ đầu tư có trách nhiệm gửi hồ sơ dự án
đầu tư xây dựng công trình tới người quyết định đầu tư phê duyệt. Hồ sơ dự án đầu
tư xây dựng công trình bao gồm:
•Tờ trình phê duyệt dự án theo mẫu đã được quy định sẵn;
•Dự án bao gồm phần thuyết minh và thiết kế cơ sở; văn bản thẩm định của
các Bộ, ngành liên quan (nếu có);
•Văn bản cho phép đầu tư của cấp có thẩm quyền đối với các dự án quan
Hiệu quả xã hội được đánh gia qua một số chỉ tiêu sau:
a) Chỉ số lao động có việc làm.
Bao gồm số lao động trực tiếp và số lao động gián tiếp do dự án tạo ra ( các dự
19
án liên đới, đó là các dự án được thực hiện do sự đòi hỏi của dự án. Việc xác định
số lao động trực tiếp và lao động gián tiếp do thực hiện dự án như sau:
− Xác định số lao động cần thiết cho dự án đang xem xét tại năm hoạt động
bình thường của dự án.
− Xác định số lao động cần thiết cho dự án liên đới đối với dự án đang xem
xét cả đầu vào lẫn đầu ra. Đây chính là số lao động gián tiếp nhờ vào việc thực hiện
dự án.
− Tổng hợp số lao động trực tiếp và gián tiếp sau khi đã được tính toán trên
đây ta sẽ có số lao động có việc làm nhờ thực hiện dự án.
b) Tiêu chuẩn để đánh giá:
− Nâng cao mức sống dân cư: Được thể hiện gián tiếp thông qua các số liệu
cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc gia, mức gia tăng thu nhập, tốc độ tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
− Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: Thể hiện qua sự đóng góp của
công cuộc đầu tư vào việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển và việc đẩy
mạnh công bằng xã hội.
− Gia tăng số lao động có việc làm: Đây là một trong những mục tiêu chủ
yếu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các nước thừa lao động, thiếu việc
làm.
− Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ: Những nước đang phát triển không chỉ
nghèo mà còn là nước nhập siêu. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu là
mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế.
I.3.2. Hiệu quả tài chính
Hiệu quả kinh tế tài chính được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
−Giá trị hiện tại thuần NPV được tính
20
(1+IRR)
i
n
i=0
n
i=0
= ∑
I
i
(1+IRR)
i
NPV = PV
n
- PI
n
PV
n
= ∑
n
i=0
F
i
(1+r)
i
PI
n
= ∑
n
i=0
đầu tư . Trong nền kinh tế thị trường công tác kế hoạch hoá có vai trò rất quan
trọng. Nếu buông lỏng công tác kế hoạch hoá thì thị thường sẽ phát triển tự do ,
thiếu định hướng gây ra những tác động tiêu cực, tác động xấu đến nền kinh tế.
Kế hoạch hoá phải quán triệt những nguyên tắc :
-Kế hoạch hoá phải xuất phát từ nhu cầu của nền kinh tế
-Kế hoạch hoá đầu tư phải dựa vào các định hướng phát triển lâu dài của đất
nước, phù hợp với các quy định của pháp luật
-Kế hoạch hoá phải dựa trên khả năng huy động các nguồn lực trong và ngoài
nước
22
-Kế hoạch hoá phải có mục tiêu rõ rệt
-Kế hoạch hoá phải đảm bảo được tính khoa học và tính đồng bộ
-Kế hoạch hoá phải có tính linh hoạt kịp thời
-Kế hoạch phải có tính linh hoạt gối đầu
-Kế hoạch hoá phải kết hợp tốt kế hoạch năm và kế hoạch dài hạn.
-Kế hoạch hoá phái có độ tin cậy và tính tối ưu
-Kế hoạch đầu tư trực tiếp phải được xây dựng từ dưới lên
-Kế hoạch định hướng của nhà nước phải là kế hoạch chủ yếu
I.4.3. Công tác quản lý nhà nước về đầu tư Xây dựng cơ bản
Nhân tố này tác động trên các khía cạnh là:
-Khi xây dựng các dự án phải đúng các chủ trương đầu tư thì mới quyết định
đầu tư .
-Nâng cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm đối với các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp nói riêng trong hoạt động đầu tư Xây dựng cơ bản
-Đảm bảo tính chính xác trong thiết kế: Trong khâu này cần có tổ chức chuyên
môn có đủ tư cách pháp nhân, uy tín nghề nghiệp lập theo tiêu chuẩn của nhà nước
ban hành. Thực tế có rất nhiều công trình xấu kém chất lượng, do lỗi của nhà thiết
kế. Đây là nguyên nhân gây ra tình trạng thất thoát lãng phí nguồn vốn đầu tư Xây
dựng cơ bản
-Nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu: Đấu thầu là một quá trình lựa chọn nhà