I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình
lịch sử nhân loại. Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ
công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến,
chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác
động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ phát triển cảu lực lượng sản xuất là quy luật
cơ bản nhất.
Vậy sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay như thế nào? Chúng ta
sẽ cùng tìm hiểu điều đó thông qua bài luận này.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí thuyết
1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những lực lượng, năng lực của toàn xã
hội (toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất) để
con người tiến hành quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ
biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất làm cải biến các đối tượng
Page | 1
trong quá trình sản xuất, tức tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các
đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con
người và toàn xã hội.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên, biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người.
Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động (như năng lực, kỹ năng,
tri thức,… của người lao động) và tư liệu sản xuất nhất định (như đối
tượng lao động, công cụ lao động, các tư liệu phụ trợ của quá trình sản
xuất…)
Trong toàn bộ lực lương sản xuất thì con người là yếu tố quyết định
nhất vì con người là yếu tố chủ thể của mọi quá trình sản xuất, tư liệu
những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.
Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.
Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của
đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xă hội. Sự thay thế kế tiếp
nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát
triển của xă hội loài người từ thấp đến cao.
Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất và tác động qua lại giữa
lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương
ứng.
1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối
quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định
quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản
xuất.
Page | 4
Điểm thống nhất thể hiện ở chỗ chúng là hai mặt cơ bản, tất yếu của
quá trình sản xuất; lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình
sản xuất, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất đó.
Biện chứng ở chỗ lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất,
quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất thì lực lượng sản xuất mới tồn tại và phát triển được; thực trạng
của lực lượng sản xuất như thế nào yêu cầu phải có quan hệ sản xuất
phù hợp với thực trạng đó thì mới tồn tại và phát triển.
Quan hệ sản xuất tác động lại lực lượng sản xuất theo hai hướng.
Nhóm phù hợp với lực lượng sản xuất thì thúc đẩy lực lượng sả xuất
phát triển, nhóm không phù hợp thì cản trở, hạn chế sự phát triển của
lực lượng sản xuất.
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối
quan hệ giữa nội dung và hình thức.
Sau cuộc cải cách ruộng đất, kinh tế nước ta đã có bước chuyển biến
đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện, ăn đủ no, mặc đủ ấm, quan
trọng nhất là chúng ta đã xây dựng được một nền công nghiệp nặng vô
cùng hùng hậu làm nền tảng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta như: Xí nghiệp gang thép Thái Nguyên, nhà máy xe đạp Hà
Nội, nhà máy Pin Văn Điển…
Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chính trị tư tưởng đê xóa bỏ nhanh
chế độ tư hữu chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân
và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất,
trình độ xã hội hóa sản xuất cũng như sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
oẳ nước ta. Song trong thực tế cách làm này không mang lại kết quả
như mong muốn vì nó trái với quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, và nó đã để lại những
hậu quả xấu đối với những người sản xuất và nền kinh tế quốc doanh.
Page | 7
Đây cũng là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một
số người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền, đặc
lợi.
Nền kinh tế thủ công phổ biến, mới bắt đầu xuất hiện một số ngành
sản xuất tự động. Tuy vậy, nền kinh tế vẫn trong trình độ rất thấp. Vì thế
cần tìm mọi cách để đưa lực lượng sản xuất đi lên, nên cần công nghiệp
hóa nền kinh tế nước ta.
2.2 Quá trình vân dụng trong thực tế của nước ta sau năm 1986 tới
nay
Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra chính sách phát triển kinh tế cũng
như xác định con đường chính trị của nước ta. Nước ta tiếp tục đi theo
con đường của Liên Xô (cũ) là tiến lên chế độ Cộng sản chủ nghĩa mà
thời đoạn đầu tiên là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng vì nước ta vừa
thoát khỏi chiến tranh, nền kinh tế vốn đã nghèo nàn lại bị chiến tranh
tàn phá nặng nề, nên lực lượng sản xuất thì yếu kém, quan hệ sản xuất
giới đạt được. Tuy nhiên, nhờ chính sách phát triển đất nước của Đảng
và Nhà nước, việc áp dụng khá tốt các thành tựu khoa học – công nghệ
và ứng dụng những thành tựu của thế giới trong công cuộc thực hiện
công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng thì nền kinh tế
nước ta đã có những bước phát triển đáng kể.
Ở nước ta hiện nay phát triển kinh tế tập trung ở hai lực lượng chính
là lực lượng sản xuất của doanh nghiệp Nhà nước và lực lượng sản xuất
ngoài quốc doanh.
Kiểu quan hệ sản xuất – quan hệ sở hữu này hay quan hệ sở hữu
khác tùy thuộc vào tính chất và trình độ lực lượng sản xuất. Ở nước ta
Page | 10
hiện nay có trình độ lực lượng sản xuất còn thấp lại không đồng đều
giữa các ngành, các vùng. Do vậy, tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức
sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nên chưa thể đặt
vấn đề xóa ngay mọi hình thức bóc lột. chỉ đến khi trình độ xã hội hóa
sản xuất phát triển cao mâu thuẫn với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất, thì khi ấy mới có điều kiện chin muồi thực hiện cuộc cách
mạng xây dựng xã hội không còn bóc lột. Chúng ta không thể thủ tiêu
chế độ sở hữu ngay lập tức mà chỉ có thể thực hiện dần dần,và chỉ khi
nào đã tạo được một lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa cao với
năng xuất lao động rất cao thì khi đó mới xóa bỏ được chế độ tư hữu.
Điểm nổi bật lên là nền kinh tế của chúng ta còn quá nghèo nàn, vì
vậy khâu trọng yếu mà chúng ta phải xây dựng đó là phát triển lực
lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Đồng thời phải xây dựng nền
kinh tế nhiều thành phần (nhiều hình thức sở hữu đan xen nhau) là phù
hợp với yêu cầu phát triển mạnh mẽ cảu lực lượng sản xuất của nước ta
hiện nay. Cùng với đó là không ngừng đổi mới chính trị, củng cố tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
Page | 11