Tìm hiểu về cồng chiêng Tây Nguyên - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

Bài tập môn:
NGHỆ THUẬT TRUYỀN
THỐNG
ĐỀ TÀI: CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
GIẢNG VIÊN: HỒ THU HÀ
NHÓM:2
BÁO CÁO THỰC HIỆN
BÀI TẬP NHÓM 2
1. Danh sách nhóm và nhiệm vụ phân công
STT HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ ĐƯỢC
PHÂN CÔNG
GHI CHÚ
1 Nguyễn Thị Vân Anh Tổng hợp, làm word, pp
2
Nguyễn Thị Thanh
Ngọc
Thuyết trình
3 Bùi Thị Thu Hường Thuyết trình
4 Trần Thị Hạnh Tìm tài liệu
Cồng chiêng- vật thiêng của người
Tây Nguyên
5 Đỗ Ngọc Tuyên Tìm tài liệu Đặc trưng về diễn xướng
6 Phạm Ngọc Thiệu Tìm tài liệu
Đặc trưng về cách thức diễn
xướng
7 Đỗ Thị Phương Thanh Tìm tài liệu Đặc trưng về cơ cấu dàn nhạc
8 Bùi Thanh Xuân Tìm tài liệu Đặc trưng về hệ bài bản
9 Vũ Đình Đông Tìm tài liệu
Giá trị văn hóa của cồng chiêng

diễn cồng chiêng. Không chỉ trong tháng "ning nơng", "mùa con ong đi lấy mật", quanh
năm ở cao nguyên đất đỏ tràn ngập tiếng cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng theo suốt cuộc
đời con người, theo suốt vòng đời cây trồng
Cồng chiêng có lịch sử từ rất lâu đời, cách đây khoảng 3000 năm từ thời kì phát triển
của đồng thau tại vùng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên .
Cồng chiêng là di sản quý báu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung, đồng
bào các dân tộc thiểu số Đắk Lắk nói riêng. Cồng chiêng được coi là vật linh thiêng nhất,
có giá trị nhất của mỗi gia đình, là bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng.
Cồng, chiêng đại diện cho văn hoá Tây Nguyên, được sử dụng trong nhiều nghi lễ, tín
ngưỡng quan trọng. Khi âm thanh của Cồng chiêng vang lên, người ta quan niệm có thể
giúp con người thông tin trực tiếp đến các đấng thần linh, là chiếc cầu nối giữa các thành
viên trong cộng đồng. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng,
chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao.
Từ lúc cất tiếng khóc chào đời con người đã nghe tiếng chiêng chào đón, khi lớn lên dựng
vợ, gả chồng tiếng chiêng lại rộn ràng trong ngày vui hạnh phúc và khi vĩnh biệt cõi đời về
với tổ tiên thì cũng có tiếng chiêng tiễn đưa. Cồng chiêng không được sử dụng một cách
bừa bãi mà chỉ được sử dụng trong các nghi lễ, lễ hội của gia đình và buôn làng, trong
những dịp tiếp khách quý. Chiêng đem sự thiêng liêng vào cuộc sống, khiến con người cảm
thấy được sống trong một không gian thanh cao, tâm linh, huyền ảo. Tiếng Cồng chiêng
Tây Nguyên hoà nhịp âm vang gợi cho người nghe như thấy được cả không gian săn bắn,
không gian làm rẫy, không gian lễ hội của người nơi đây. Không chỉ có vậy, tiếng Cồng
chiêng còn đem đến đời sống của người Tây Nguyên sự lãng mạn. Đó chính là nguồn gốc
của những áng sử thi, thơ ca đi vào lòng người.
II. Những đặc trưng cơ bản của cồng chiêng Tây Nguyên
1. Đặc trưng về người diễn xướng
Ở phần lớn các tộc người, cồng chiêng là nhạc cụ dành riêng cho nam giới. Đó là
trường hợp của các tộc người như Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu, Cơ Ho
Song, có những tộc người thì cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng, như Mạ, M’Nông. Riêng
một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ giới mới được chơi cồng chiêng.
Văn hóa và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên tồn tại dưới dạng văn hóa và âm nhạc

cũng có tác dụng làm các bước múa của phái nữ có tiếng chuông đồng vang lên theo nhịp.
Ngược lại với phái nam trong cách trang điểm phần đầu quá nhiều chi tiết, phái nữ lại sử
dụng chiếc mũ có chóp nhọn trên đỉnh đầu, được thả dài phía gáy. Chi tiết làm chiếc mũ vải
trở thành bộ phận bắt mắt nam giới có lẽ là những chùm bông bằng sợi nhuộm đỏ đính trên
đỉnh mũ.
Tính chất đặc biệt của y phục lễ hội, thường được dùng luôn cho nhảy múa và đánh
chiêng, ở các dân tộc khác cũng tương tự. Bao giờ những bộ y phục này cũng khác hẳn
những y phục mà của người dân thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Chúng tạo cho
những người dân trên cao nguyên một vẻ đẹp khác thường và là dấu hiệu giàu bản sắc để
phân biệt dân tộc này với các dân tộc khác trong cùng một vùng sinh sống.
2. Đặc trưng về cách thức diễn xướng
Cồng chiêng Tây Nguyên được bảo lưu dưới hình thức diễn xướng tập thể – cộng
đồng:
Mỗi nghệ nhân chơi một nốt (một chiêng) và một mô hình tiết tấu, kết hợp thành bè,
thành giai điệu. Khi hợp tấu thì các nghệ nhân lắng nghe nhau tức là phải có tâm linh cộng
đồng ứng vào Trong quá trình diễn xướng, người đánh cồng chiêng luôn luôn di động còn
động tác thì rất đa dạng như nghiêng mình, cúi người, khom lưng….
Khi đánh cồng, bàn tay của nhạc công vỗ vào núm cồng như xoa dịu. Đánh cồng
không chỉ đơn giản là đánh từ bên ngoài vào mà tay trái của nghệ nhân cũng tham gia biểu
diễn với nhiều cách: hoặc nắm vào vành hoặc bóp vành rồi buông ra giống như cách nhấn
nhá trong các loại đàn dây hay ém hơi trong kĩ thuật hát. Thậm chí cõ những nhạc công đeo
thêm vòng ở tay để khi lắc thì chiếc vòng đụng vào mặt trong phối hợp với tiếng gõ bên
ngoài. Đó là 1 kĩ thuật tinh vi mà một người bình thường khó nhận ra được. Ngoài ra còn
có cách đánh bằng dùi gỗ gõ vào giữa mặt chiêng hay ngoài rìa. Độ mềm hay cứng của dùi
tạo nên các âm thanh khác nhau – đặc trưng cho từng dân tộc:
+ Người Êđê dùng dùi cứng tạo ra âm thanh rất vang, nhưng nhiều tạp âm
+ Người Bana sử dụng dùi bằng cây sắn gỗ mềm hơn tuy nhạc không vang nhưng âm
rất rõ.
+ Loại dùng thứ 3 cũng làm bằng gỗ nhưng có thêm lớp vỏ bọc bên ngoài (bọc cao su là
chủ yếu). Loại dùi này hợp nhất vì tạo nên âm thanh rất hay ….

chiêng bằng thể hiện giai điệu và hòa âm. Bài bản của các dàn chiêng hỗn hợp
này thường có hình thức nhạc chủ điệu.
Từ các dàn có biên chế 3 chiêng trở lên thì thường có chiếc trống lớn và cặp chũm
chọe. Riêng dàn 3 cồng núm của người Chu Ru thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.
* Bố trí sắp xếp hàng âm
Mặc dù mang đặc tính của một loại thể dân gian, nhưng tính khoa học của âm nhạc
cồng chiêng về âm thanh như âm chuẩn, thang âm, âm sắc, tổ hợp dàn chiêng (số lượng,
chức năng của cồng và chiêng – chiêng núm và chiêng bằng, chiêng Mẹ, chiêng Cha và các
chiêng con ) mặc dù có khác nhau giữa các tộc người vì sự cấu tạo, pha màu mang tính
đặc thù về thẩm mỹ của từng sắc tộc nhưng đều có sự hòa hợp, hoàn chỉnh. Thông thường,
theo thứ tự đi đầu hàng chiêng là 1 cái trống, tiếp theo là các chiêng cồng với thứ tự cái có
cao độ trầm đi trước, cái có cao độ cao lần lượt theo sau.
Đáng ngạc nhiên là đôi tai kỳ diệu của những nghệ nhân có trách nhiệm xác định cao
độ chuẩn cho hàng âm dàn chiêng, cũng như xác định độ chênh sai về âm thanh của từng
chiếc chiêng và kỹ năng chỉnh chiêng cho đúng tiếng để nó không trở thành chiêng chết.
Chỉ với một chiếc búa gỗ nhỏ mà có thể điều chỉnh âm chiêng lên cao hay xuống thấp một
cách chính xác. Các nhà nghiên cứu thường gọi đùa là người lên dây chiêng.
4. Đặc trưng về hệ bài bản
Ngoài những đặc trưng về người diễn xướng, cách thức diễn xướng, cơ cấu dàn nhạc,
cồng chiêng Tây Nguyên còn có những đặc trưng về hệ bài bản riêng:
 Thông thường, dàn nhạc được hiểu là sự kết hợp nhạc cụ với nhiều giai điệu
khác , mỗi nhạc cụ đảm nhiệm sự diễn tấu của 1 đường . Thứ âm nhạc đó được
gọi là hoà tấu. Đây cũng là nguyên tắc chung của đại đa số các dàn trong mọi
nến âm nhạc trên thế giới. Thế nhưng ở nghệ thuật cồng chiêng, mỗi nhạc cụ
trong dàn nhạc thực chất chỉ diễn tấu 1 nhạc âm trong đường tuyến giai , nói
cách khác, mỗi 1 nhạc công thực chất chỉ là 1 nốt nhạc,nhiều nhạc cụ ứng với
những cao độ khác nhau kết hợp so le theo chiều ngang sẽ cấu thành giai điệu.
Nếu đánh 6 chiếc chiêng theo thứ tự từ thấp đến cao, sẽ thấy chiêng số 1 được
gọi là chiêng mẹ, chiêng số 2 được gọi là chiêng bố, 4 chiêng còn lại là 4 đứa
con. Trong các chiêng con, tuỳ từng nơi mà người ta phân bậc đâu là con trai,

Xre Zơr….
v.v
Mỗi tộc người cũng chọn cho mình một phong cách âm nhạc, có thể đó là nhạc nhịp
điệu, nhạc hòa điệu, nhạc chủ điệu, nhạc dị điệu. Tuy nhiên cũng có thể thấy 1 thị hiếu âm
nhạc chung nào đó chẳng hạn các tộc người ở phía Bắc Tây Nguyên như Ba Na, Xơ Đăng
và Gia Rai thì nghiêng về nhạc chủ điệu và dị điệu còn các dân tộc ở phía Nam Tây
Nguyên như Êđê, Mnông lại nghiêng về nhạc nhịp điệu và hòa điệu.
III.Giá trị của cồng chiêng Tây Nguyên
PGS.TS Nguyễn Thụy Loan trong tham luận “Giá trị văn hóa của cồng chiêng ở Việt
Nam” đã nhận định cồng chiêng có vị thế đặc biệt nổi bật trong hệ nhạc khí cổ truyền ở
Việt Nam bởi nó bắt nguồn từ sự tổng hoà các giá trị văn hóa đa dạng, được chỉ mặt gọi tên
bằng 10 giá trị như sau:
 Giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng
 Giá trị biểu thị đặc trưng văn hóa tộc người hoặc nhóm tộc người, thậm chí cả đặc
trưng văn hóa của những nhóm địa phương trong cùng một tộc người
 Giá trị phản ánh đa chiều
 Giá trị nghệ thuật
 Giá trị sử dụng đa dạng
 Giá trị vật chất
 Giá trị biểu thị sự giàu sang và quyền uy
 Giá trị tinh thần
 Giá trị cố kết cộng đồng
 Giá trị lịch sử.
Ngày 25-12-2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công
nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại. Có thể nói, văn hoá và âm
nhạc cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện tài năng sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại.
Cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên rất đa dạng,
nhưng thống nhất. Đây chính là đặc điểm rất cơ bản của vùng văn hoá Tây Nguyên và cũng
là đặc điểm của văn hoá Việt Nam.
Không những thế, cồng chiêng Tây Nguyên còn là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á

p’lei có hàng chục bộ. Đến năm 1999, cả tỉnh có 900 p’lei và chỉ còn 5.117 bộ, năm
2002 còn lại chưa đến 3.000 bộ. Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 3.113 bộ. Từ năm 1982 đến
1992, tỉnh Đắc Lắc đã mất 5.325 bộ chiêng, từ năm 1993 đến 2003 lại mất tiếp 850 bộ,
hiện tại cả tỉnh chỉ còn 3.825 bộ cồng chiêng.
+ Các nghệ nhân trải qua thời gian do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản
chiêng dẫn đến nhiều bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên.
+Các nghệ nhân tài năng do tuổi tác cũng lần lượt qua đời mang theo cả kho tàng di sản
văn hóa cồng chiêng mà không dễ dàng tạo dựng và khôi phục được.
+ Cơ hội sinh hoạt cộng đồng – cơ sở xã hội của văn hóa cồng chiêng bị suy giảm do
sự thay đổi trong phương thức sản xuất và sư chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Tây Nguyên
+ Xu hướng cải tiến cồng chiêng hiện nay đang rất phát triển làm cho âm thanh của
cồng chiêng bị méo mó, biến dạng, khiến cho nguy cơ thất truyền càng cao
- Nguyên nhân: sự thay đổi quá nhanh về mọi mặt kinh tế, xã hội, lối sống, văn hóa và
quan hệ giữa các cộng đồng và con người thành viên, cũng như sự phát triển đi lên của
trình độ học vấn và khoa học kĩ thuật của người Tây Nguyên và sự giao lưu, tiếp biến
văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa đang ngày một gia tăng, do phải tiến hành chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc trong mấy chục năm liên tục nên nhân dân Việt Nam nói chung,
các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên nói riêng không có điều kiện tổ chức sinh hoạt
truyền dạy cho các thế hệ trẻ các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, sự đứt gãy dòng
chảy của văn hóa truyền thống đã dẫn đến sự thờ ơ của các lớp trẻ với văn hóa của các
thế hệ tiền nhân trong đó có văn hóa âm nhạc cồng chiêng.
2. Những bước chuyển mình của văn hóa cồng chiêng TN trong thời gian gần đây
 Để tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc có điều kiện giao lưu văn hóa, tỉnh
Gia Lai đã chỉ đạo các cấp tổ chức các cuộc liên hoan cồng chiêng theo định kỳ
2 năm/lần ở cấp xã và huyện, 4 năm/lần ở cấp tỉnh. Đến nay, tỉnh đã tổ chức
thành công 7 cuộc liên hoan cồng chiêng toàn tỉnh.
 Trong những liên hoan gần đây, Gia Lai đã mở rộng nội dung theo hướng liên
hoan nghệ thuật dân gian để thu hút và bảo tồn thêm nhiều loại hình văn hóa dân
gian độc đáo khác mà địa phương khác chưa có điều kiện tổ chức các cuộc thi
riêng.

- Biên soạn và xuất bản các văn hóa phẩm về không gian văn hóa cồng chiêng TN để
giúp cộng đồng nhận thức đúng đắn về các giá trị của không gian văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên
- Thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện cho người dân các dân
tộc ở TN bảo tồn, lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc
- …
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại: không gian
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (Viện Văn hóa- Thông tin)
- Di sản thế giới ở Việt Nam (NXB Thông tin)
- Vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (Viện Văn hóa – Thông tin)
- Tư liệu từ các trang web uy tín như:

/>


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status