BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TÂY
NGUYÊN
TS. Trương Hồng - Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
1. Giới thiệu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là những thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó
bao gồm cả những hoạt động của con người gây ra. BĐKH xuất phát từ sự thay đổi
cán cân năng lượng của mặt trời do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi
trong khí quyển, thảm phủ và lượng bức xạ mặt trời.
Theo dự báo của các nhà khoa học nếu như tình hình phát thải khí nhà kính không
giảm thì vào năm 2030 nồng độ của khí CO
2
trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi so với
thời kỳ tiền công nghiệp, khoảng 700 ppm. Hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ trái đất
tăng lên kéo theo hàng loạt các yếu tố khí hậu khác như: Lượng mưa, độ ẩm, bức
xạ… thay đổi theo. Tần suất và cường độ hiện tượng El – Nino tăng đáng kể, gây
lũ lụt và hạn hán ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Mưa trở nên thất thường hơn,
cường độ thay đổi.
Việt Nam được xem là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng do biến đổi
khí hậu toàn cầu. Theo dự báo thì BĐKH sẽ làm cho các trận bão ở
Việt Nam thường xuyên xảy ra hơn với mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn. Ðường
đi của bão dịch chuyển về phía Nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối
năm. Mưa lớn thường xuyên hơn gây lũ đặc biệt lớn và xảy ra thường xuyên hơn ở
miền Trung và Nam. Hạn hán xảy ra hàng năm ở hầu hết các khu vực của cả nước.
Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,10
o
C/thập kỷ; trong một số tháng mùa hè,
nhiệt độ tăng khoảng 0,1 - 0,30
o
C/ thập kỷ. Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ
ảnh hưởng đến nền nông nghiệp và nguồn nước. Mực nước biển có khả năng dâng
cao 1m vào cuối thế kỷ, lúc đó Việt Nam sẽ mất hơn 12% diện tích đất đai, nơi cư
cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng, ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc,
gia cầm. BĐKH làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm,
gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp.
2. Biến đổi khí hậu đã và đang hiện hữu ở Tây Nguyên
2.1. Nhiệt độ thay đổi theo chiều hướng tăng
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng số liệu quan trắc từ 30 năm đến 33 năm (1979
-2008), trong phạm vi kinh độ 107.41 - 108.39 và vĩ độ 11.32-11.58, để tính toán,
phân tích. So với thập niên 1979 -1988, nhiệt độ không khí trung bình thập niên
1999 - 2008 cao hơn rõ rệt, nhất là vào các tháng mùa Đông và trên độ cao từ 100
mét đến 800 mét. Nhiệt độ trung bình năm phổ biến cao hơn từ 0,5
o
C đến 0,8
o
C;
riêng Kon Tum, cao hơn 1
o
C. Trong khi đó nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam
tăng khoảng 0,5
o
C đến 0,7
o
C. Nhiệt độ trung bình các tháng mùa Đông cao hơn
hẳn so với các thời kỳ khác, tiêu biểu là tháng 1, phổ biến cao hơn từ 0,8
o
C đến
1,5
o
C, cá biệt có trạm ở Kon Tum cao hơn 1,7
o
C. Trong 3 tháng chính Đông, nhiệt
nhỏ nhất là rất cao. Những năm gần đây rừng Tây Nguyên bị chặt phá nghiệm
trọng, cộng với những yếu tố bất lợi như mùa khô kéo dài, sự biến đổi thất thường
của thời tiết làm cho lũ lụt, hạn hán trở nên trầm trọng hơn. Ngoài ra, Tây nguyên
là nơi thượng nguồn của 3 hệ thống sông lớn (Sê rê pốk - Sê San nằm ở phía Tây
Bắc và sông Đồng Nai ở phía Nam), người dân tận lực khai thác nước ngầm ngay
tại đầu nguồn để tưới cà phê, hoa màu khiến mực nước dưới lòng đất không ngừng
bị hạ thấp, dẫn đến quá trình sản xuất tại các vùng hạ lưu gặp khó khăn do thiếu
nước.
Từ năm 1997, tổng trữ lượng nước ngầm (ở trạng thái tĩnh, không có sự tác động
bất thường của môi trường tự nhiên) tại Đak Lak là 120,9 x 10
9
m
3
đến nay chỉ
còn khoảng 30 - 35 %. Sự giàu nghèo tài nguyên nước ở đây phụ thuộc vào lượng
mưa, vào thành phần vật chất của lớp phủ bề mặt và mức độ lưu giữ nước của
thành tạo địa chất từng vùng. Nếu để mất đi (hay suy giảm) một hoặc nhiều yếu tố
trên sẽ khiến tài nguyên nước nghèo đi. Hiện nay, Tây Nguyên đã để mất đi ngày
càng nhiều yếu tố quan trọng và quyết định đó. Ngoài lượng mưa hàng năm có xu
hướng ít đi, do mùa khô kéo dài, thì tình trạng mất rừng và sự thay đổi nhanh
chóng của lớp phủ bề mặt trên thành tạo địa chất, mà cụ thể là trên đất (vì mục đích
quy họach trồng hoa màu, cây công nghiệp và nhiều dự án nông- lâm nghiệp khác)
đã làm cho mực nước ngầm sụt giảm. Mới đây, qua khảo sát của Đoàn Địa chất
704 cho thấy một số vùng như ở huyện Krông Pách, Lắc , Krông Buk và vùng phía
Đông Buôn Ma Thuột…mực nước ngầm tiềm năng không còn nhiều như 5 năm
trước. Ví dụ vùng Krông Pách, Lăk…năm 2004 có thể khai thác tối đa 0,4 - 0,6
triệu m
3
/ngày, thì nay còn chưa đầy 400 nghìn m
3
C so với năm 1990)
Năm Tây Bắc Đông
Bắc
Đồng
bằng BB
Bắc
Trung
Bộ
NamTrun
g Bộ
Tây
nguyên
Nam Bộ
2050 1,41 1,66 1,44 1,68 1,13 1,01 1,21
2100 3,49 4,38 3,71 3,88 2,77 2,39 2,80
Nguồn: Bộ Tài Nguyên Môi trường, 2009.
Thực vật sống nhờ ánh sáng, khí CO
2
và nước thông qua hiện tượng quang hợp để
tạo chất bột, rồi từ đó các phản ứng dây chuyền khác biến đổi thành chất đạm và
chất béo, căn bản cho sự sống. Hiện tượng quang hợp tối đa ở một nhiệt độ tối
thích, quang hợp giảm dần khi nhiệt độ giảm hay tăng vượt quá nhiệt độ đó, quang
hợp không xảy ra ở nhiệt độ tối thiểu hay nhiệt độ tối đa. Các nhiệt độ này thay đổi
tuỳ loại cây trồng. Nhìn chung, nhiệt độ tối thích cho cây vùng ôn đới khoảng 20 -
25
O
C, vùng nhiệt đới khoảng 25-32
O
cây có thể gia tăng 20-30% so với lượng CO
2
hiện nay.
Ở nhóm thực vật C4, khí khổng mở vào ban ngày, hấp thụ CO
2
và đưa vào chu
trình 4C, nhờ enzyme phosphoenolpyruvate (PEP) carboxylase. Trong điều kiện
CO
2
hiện nay (350 ppm), ở ánh sáng mạnh và nhiệt độ cao, nhóm C4 quang hợp và
sử dụng nước hiệu quả hơn nhóm C3. Như vậy, năng suất chất khô của thực vật C4
cao hơn C3 ở cường độ ánh sáng cao.
Gia tăng nhiệt độ có ảnh hưởng xấu nhiều lên cây ăn trái vùng ôn đới. Cây ăn trái
của vùng ôn đới cần có một tổng số giờ lạnh (chilling temperatures) tối thiểu mới
có thể ra nụ hoa. Gia tăng nhiệt độ trong mùa Đông, tổng số giờ lạnh giảm sẽ làm
cây ôn đới không ra hoa hay ra hoa ít hơn. Ngoài ra, màu trái táo (apple) sẽ đỏ
hồng đẹp nếu trái phát triển ở 17 - 20
O
C, nếu nhiệt độ gia tăng trên nhiệt độ này,
màu đỏ hồng sẽ biến mất, và nếu trên 25
O
C thì trái sẽ xanh dờn, không còn giá trị
thương mại. Ngược lại, ở vùng nhiệt đới, yếu tố thiếu nước (water stress) trong
mùa khô hạn kích thích cây ăn trái đa niên (và các loại cây lớn khác như cây rừng,
v.v.) ra hoa nhiều, và sau đó kết trái nhiều nhờ đầy đủ nước trong đầu mùa mưa. Vì
vậy, vùng có ảnh hưởng gió mùa, có mùa khô và mùa mưa rõ rệt, như Tây Nguyên,
sẽ hưởng lợi trong tương lai.
Ở Tây Nguyên, các loại cây rừng, cao su, ca cao, tiêu, điều, cà phê, chè, đậu
tương, - thuộc nhóm C3- sẽ hưởng lợi nhiều khi tăng gấp đôi lượng CO
ngắn hơn 2 ngày. Nếu canh tác trong điều kiện lý tưởng về nước và phân bón đầy
đủ, năng suất có thể cao.Đậu tương là loại cây quang hợp theo chu trình C3 và C4, sẽ gia tăng năng suất
trong môi trường mới. Bởi vì các giống đậu tương đã được tuyển chọn từ lâu đời
để thích ứng với nhiều loại khí hậu, trải dài nhiều vỉ tuyến, từ khí hậu lạnh đến
nóng, nên không có vấn đề gì cho vùng Tây Nguyên trong tương lai, khi nhiệt độ
chỉ gia tăng một vài độ.
Ở các loài đậu khác trong họ Đậu, có cả C3 và C4, nhóm C3 gia tăng năng suất
nhiều hơn khi gia tăng CO
2
.
Các loại cây lấy củ (như khoai mì, khoai lang) cũng hưởng lợi gia tăng năng suất
củ nhờ hâm nóng toàn cầu, bởi vì tỉ lệ rễ/thân tăng khi CO
2
tăng.
Cỏ hoà thảo (C3 và C4, tuỳ loài) cũng hưởng lợi trong môi trường mới.
Cỏ dại đa số thuộc nhóm quang hợp C3, nên sẽ phát triển mạnh trong tương lai, khi
nhiệt độ tăng thêm 1
O
C và CO
2
tăng gấp đôi. Xâm nhập cỏ dại từ một nơi khác sẽ
trầm trọng trong tương lai, ví dụ như cây Mai dương đang là mối đe dọa cho sản
xuất nông nghiệp ở một số địa phương của Tây Nguyên.
Như vậy xét trên phương diện về sự gia tăng nhiệt độ và hàm lượng CO
2
bị rửa trôi, cằn cỗi, tình trạng sa mạc hóa diễn ra nhanh hơn. Rừng mất dần, hệ sinh
thái rừng, kiểu rừng thay đổi, tăng nguy cơ tiệt chủng của động thực vật, mất đi
những nguồn gien quí hiếm.
Sự thay đổi về thời tiết, mà rõ nhất là phân bố mưa, lượng mưa ở Tây Nguyên
trong vòng 10 năm trở lại đây là rất rõ. Tần suất xuất hiện mưa vào các tháng 12, 1
là khá phổ biến. Điều này đã làm cho các loại cây trồng như điều, cà phê gặp trở
ngại trong quá trình thụ phấn thụ tinh. Cà phê sau một thời gian khô cùng với nhiệt
độ giảm đã phân hóa mầm hoa, khi tưới nước đầy đủ, thì hoa nở, những nhiều khi
gặp mưa phùn thì quá trình thụ tinh trở ngại (do phấn không tung được), tỷ lệ đậu
quả thấp, làm giảm năng suất. Hoặc đầu mùa khô, xuất hiện một đợt mua phùn làm
hoa cà phê nở lai rai, nhưng tỷ lệ đậu quả cũng thấp cũng làm ảnh hưởng đến năng
suất và thu hoạch sau này. Ngoài ra mưa trong giai đoạn này đã làm ảnh ảnh đến
việc sơ chế cà phê, thời gian phơi kéo dài, nhân bị đen, lỗi chất lượng theo TCVN
4193 - 2005 sẽ tăng, giá bán sẽ thấp và thu nhập của người nông dân bị ảnh hưởng.
Lượng mưa bình quân có xu hướng thay đổi, đặc biệt là từ tháng 4 - 7 giai đoạn
cây cà phê cần nhiều nước để đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng cây và phát triển
của quả cà phê, song gần đây vào các tháng này, lượng mưa có xu hướng thấp, tần
suất mưa ít gây thiếu nước làm quả cà phê bị khô và rụng, hoặc nhân nhỏ, dẫn đến
thiệt hại về năng suất và giảm chất lượng cà phê nhân.
Cây điều là cây ra hoa, thụ phấn trong mùa khô (tháng 1 - 3), song trong những
năm từ 2006 - 2009 quy luật mưa đã thay đổi, vào các tháng này thường có những
đợt mưa phùn xảy ra ở các vùng trồng điều, vì vậy hoa điều không thể thụ phấn thụ
tinh được. Nếu cây điều ra hoa nhiều đợt thì có thể có các đợt khác đậu quả, song
nếu chỉ ra hoa 1 đợt tập trung, gặp mưa phùn thì tỷ lệ đậu quả gần như bằng không.
Và như vậy điều sẽ không cho năng suất, nông dân thu nhập thấp. Trong vòng
khoảng 5 năm trở lại đây, năng suất điều giảm dần do tác động bất lợi của thời tiết.
Điều tra, nghiên cứu của WASI cho thấy có tới 85,7 % nông dân cho rằng thời tiết
bất thường (mưa, nắng, nhiệt độ cao lúc ra hoa và đậu quả) đã làm cho năng suất
điều giảm sút nghiêm trọng. Năng suất điều thấp, đời sống người trồng điều gặp
khó khăn, vì vậy ở tỉnh Gia Lai, đặc biệt ở các huyện Kon Chro, Krông Pa, người
hại cần phải có những giải pháp đồng bộ mang tính đa ngành, đa lĩnh vực để đối
phó và thích ứng với biến đổi khí hậu.
4. Đề xuất các giải pháp đối phó và thích ứng
- Bảo vệ rừng, siết chặt công tác quản lý rừng, đầu tư trồng rừng cũng như các dự
án trồng cây xanh trên lãnh thổ của mình, các biện pháp quản lý hệ thống thủy lợi
và thoát lũ Rừng chính là “máy điều hòa khí hậu” khổng lồ. Các nhà khoa học
cho biết: Tạm tính với diện tích 1.000.000 ha nếu chỉ 50% diện tích có rừng cây
thân gỗ thì mỗi năm rừng ở Trường sơn giữ được 22-25 triệu tấn CO
2
, góp phần
đáng kể vào giảm hiệu ứng nóng lên toàn cầu mà không cần đầu tư gì ngoài bảo vệ
rừng. Bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là đảm bảo an ninh môi trường sẽ là một
chiến lược thích ứng lợi hại của Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng
trước thảm họa BĐKH. Bởi rừng có vai trò không thể thay thế trước đe dọa của
BĐKH. Rừng làm chậm các tác động tiêu cực do BĐKH tạo ra.
- Đối với sản xuất nông nghiệp chủ yếu là xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp, xây
dựng các biện pháp kỹ thuật, tăng cường hệ thống tưới tiêu và các biện pháp chống
chịu với ngoại cảnh khắc nghiệt. Sử dụng các giống kháng, chịu hạn (cà phê, lúa,
ngô ), giống ra hoa nhiều lần (đối với cây điều), bộ giống cây lương thực, thực
phẩm ngắn ngày; bố trí thời vụ thích hợp để tránh hạn, né lũ. Tăng cường đa dạng
sinh học trên vườn cà phê như trồng cây che bóng, cây ăn quả, cây đai rừng sẽ là
giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu hiệu quả do hệ thống cây trồng này có tác
dụng hỗ trợ lẫn nhau trong việc điều hòa vi khí hậu, hạn chế bốc thóat hơi nước
trên bề mặt đất và lá, cung cấp hữu cơ, cải tạo đất, hạn chế xói mòn và rửa trôi đất
giúp sản xuất cà phê bền vững hơn. Tưới nước tiết kiệm hợp lý cho cà phê cũng là
giải pháp kỹ thuật nhằm thích ứng với sự BĐKH ngày càng rõ nét ở Tây Nguyên.
Chuyển một số diện tích đất trồng điều ở các vùng có điều kiện khí hậu bất thuận,
sản xuất không hiệu quả sang trồng các loại cây khác có hiệu quả hơn như sắn,
khoai lang, khoai môn là những loại cây có khả năng thích ứng cao với sự BĐKH
và từng bước thay đổi khẩu phần lương thực của chúng ta từ gạo là chủ yếu sang
Biến đổi khí hậu. Hà Nội 2003.
6. Anonymous. 2005. Global warming and Vietnam
7. Adaptation to climate change: Theory and Assessment, Cambridge University
Press.
8. Climate Change: 2001 IPCC Synthesis Report.
9. IPCC, 2007. The 4th assessement report of the Intergovernmental Panel on
Climate Change.
10. Ministry of Agriculture and Rural Development of Vietnam. 2002. United
Nations Convention to combat desertification. Vietnam Action Programme to
combat desertification.