Kết quả nghiên cứu khoa học biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp vùng tây nguyên - Pdf 23

Biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp vùng Tây Nguyên
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng
lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn
cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các
ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động
khác.
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70%
tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người
dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ.
Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng 20% tổng
lượng phát thải khí CO2 toàn cầu. Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn
CO2, tiếp theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3 tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB
Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốc Anh 580 triệu tấn. Các nước đang
phát triển phát thải tổng cộng 12 tỷ tấn CO2, chiếm 42% tổng lượng phát thải toàn cầu so
với 7 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí
CO2 của các nước này tăng khá nhanh trong khoảng 15 năm qua. Một số nước phát triển
dựa vào đó để yêu cầu các nước đang phát triển cũng phải cam kết theo Công ước Biến
đổi khí hậu.
Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2. Năm 2004, phát thải 98,6 triệu tấn
CO2, tăng gần 5 lần, bình quân đầu người 1,2 tấn/năm (trung bình của thế giới là 4,5
tấn/năm, Singapo 12,4 tấn, Malaysia 7,5 tấn, Thái Lan 4,2 tấn, Trung Quốc 3,8 tấn,
Inđônêxia 1,7 tấn, Philippin 1,0 tấn, Myanma 0,2 tấn, Lào 0,2 tấn).
Như vậy, phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song
vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực. Dự tính tổng
lượng phát thải các khí nhà kính của Việt Nam sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2 tương đương
vào năm 2020, tăng 93% so với năm 1998.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới,
nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn cầu; các nước
châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và các nước kém phát

lệ từ 6,4 tỷ tấn cacbon (xấp xỉ 23,5 tỷ tấn CO2) trong những năm 1990 lên đến 7,2 tỷ tấn
cacbon (xấp xỉ 45,9 tỷ tấn CO2) mỗi năm trong thời kỳ từ 2000 – 2005.
Các nhân tố khác, trong đó có các sol khí (bụi, cacbon hữu cơ, sulphat, nitrat…) gây ra
hiệu ứng âm (lạnh đi) với lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng trực tiếp là 0,5W/m2 và
gián tiếp phản xạ của mây là 0,7W/m2; thay đổi sử dụng đất làm thay đổi suất phản xạ bề
mặt, tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng được xác định bằng 0,02W/m2; trái lại, sự
gia tăng khí ôzôn trong tầng đối lưu do sản xuất và phát thải các hóa chất và sự thay đổi
trong hoạt động của mặt trời trong thời kỳ từ năm 1750 đến nay được xác định là tạo ra
hiệu ứng dương đối với tổng lượng bức xạ cưỡng bức lần lượt là 0,35 và 0,12W/m2. Như
vậy, tác động tổng cộng của các nhân tố khác, ngoài khí nhà kính, đã tạo ra lượng bức xạ
cưỡng bức âm. Vì thế, trên thực tế, sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu quan trắc
được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói cách khác, sự tăng lên của riêng
hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái đất nóng lên nhiều hơn so với
những gì đã quan trắc được, và điều đó càng khẳng định sự biến đổi khí hậu hiện nay là
do các hoạt động của con người chứ không phải do quá trình tự nhiên.
Nguyên nhân của nước biển dâng
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao
gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc
thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các
yếu tố khác. Mực nước biển được đo thông qua hệ thống thiết bị đo triều ký đặt tại các
trạm hải văn hoặc các máy đo độ cao vệ tinh.
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC), sự nóng lên
của hệ thống khí hậu đã rõ ràng được minh chứng thông qua số liệu quan trắc ghi nhận sự
tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy
nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu.
Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do sự đóng góp của các thành phần
chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: giãn nở nhiệt của các đại dương, các sông
băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền.
Các kết quả nghiên cứu gần đây đưa ra dự báo mực nước biển sẽ cao hơn từ 0,5 – 1,4m
vào cuối thế kỷ XXI.

Thực vật sống nhờ ánh sáng, khí CO
2
và nước thông qua hiện tượng quang hợp để tạo
chất bột, rồi từ đó các phản ứng dây chuyền khác biến đổi thành chất đạm và chất béo,
căn bản cho sự sống. Hiện tượng quang hợp tối đa ở một nhiệt độ tối thích, quang hợp
giảm dần khi nhiệt độ giảm hay tăng vượt quá nhiệt độ đó, quang hợp không xảy ra ở
nhiệt độ tối thiểu hay nhiệt độ tối đa. Các nhiệt độ này thay đổi tuỳ loại cây trồng. Nhìn
chung, nhiệt độ tối thích cho cây vùng ôn đới khoảng 20 - 25
O
C, vùng nhiệt đới khoảng
25 - 32
0
C.
Những thay đổi về cường độ và thời gian nắng, thiếu nước (do khô hạn), gia tăng lượng
khí CO
2
và nhiệt độ trong tương lai sẽ ảnh hưởng tới việc sản xuất chất khô của cây và
cho sản phẩm thu hoạch.
Các nghiên cứu cho thấy nồng độ CO
2
hiện tại trong khí quyển trung bình là 350 ppm và
trong khoảng 50 - 70 năm nữa thì nồng độ này đạt 700 ppm. Việc gia tăng nồng độ
CO
2
đều làm gia tăng quá trình quang hợp cho đến lúc bão hòa. Trên phương diện quang
hợp, thực vật chia làm 3 nhóm, song chủ yếu là nhóm thực vật C3, C4.
Ở nhóm thực vật C3 (chiếm 95 % thực vật trên thế giới), khí khổng mở vào ban ngày,
hấp thụ CO
2
và đưa vào chu trình Calvin với sản phẩm 3C (3 phosphoglycerate). Khi gia

Mía, ngô thuộc nhóm C4, vẫn hưởng lợi trong việc gia tăng năng suất thân cây và độ
đường cao khi tăng gấp đôi CO
2
và 1
O
C, đặc biệt nhất là cây lúa miến sẽ có vị trí quan
trọng hơn vì chịu đựng khô hạn và sử dụng nước hữu hiệu hơn trong tương lai.
Lúa thuộc nhóm thực vật C3 cho năng suất toàn cây cao do gia tăng quang hợp, nhưng
năng suất hạt thấp hơn vì nhiệt độ cao làm chỉ số thu hoạch (harvest index) giảm, lúa cho
nhiều rơm rạ hơn hạt. Ngoài ra, nhiệt độ gia tăng 1
O
C đủ làm rút ngắn chu kỳ sinh trưởng,
nhất là thời gian từ trổ đến chín ngắn hơn, lá cờ chết sớm hơn, hậu quả là hàm lượng tinh
bột sản xuất ít hơn, và chuyển đến hạt ít hơn, vì vậy hạt lép nhiều và trọng lượng hạt nhỏ
hơn. Chẳng hạn, ở giống lúa IR36 chỉ cần tăng nhiệt độ từ 28
O
C lên 29
O
C, lúa trổ bông
sớm hơn 5 ngày, và thời gian từ trổ đến chín ngắn hơn 2 ngày. Nếu canh tác trong điều
kiện lý tưởng về nước và phân bón đầy đủ, năng suất có thể cao.
Đậu tương là loại cây quang hợp theo chu trình C3 và C4, sẽ gia tăng năng suất trong môi
trường mới. Bởi vì các giống đậu tương đã được tuyển chọn từ lâu đời để thích ứng với
nhiều loại khí hậu, trải dài nhiều vỉ tuyến, từ khí hậu lạnh đến nóng, nên không có vấn đề
gì cho vùng Tây Nguyên trong tương lai, khi nhiệt độ chỉ gia tăng một vài độ.
Ở các loài đậu khác trong họ Đậu, có cả C3 và C4, nhóm C3 gia tăng năng suất nhiều hơn
khi gia tăng CO
2
.
Các loại cây lấy củ (như khoai mì, khoai lang) cũng hưởng lợi gia tăng năng suất củ nhờ

nông – lâm nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, sản lượng của hầu hết các loại cây
công nghiệp chủ lực của Tây Nguyên như cà phê, cao su, hồ tiêu Biến động của yếu tố
nhiệt ẩm và các yếu tố khí hậu thời tiết khác cũng khiến năng suất, sản lượng của cây
trồng và vật nuôi bị giảm; sức đề kháng của vật nuôi kém đi, đồng thời tạo môi trường
thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển bùng phát, gây ra nhiều loại dịch bệnh trên
gia súc, gia cầm như bệnh cúm gia cầm, bệnh dịch heo tai xanh Ngoài ra, BĐKH có
thể tác động rất mạnh mẽ tới đa dạng sinh học. Thành phần và phân bố địa lý của các hệ
sinh thái sẽ thay đổi. Mưa lũ lớn, hạn hán và nắng nóng làm cho đất đai bị rửa trôi, cằn
cỗi, tình trạng sa mạc hóa diễn ra nhanh hơn. Rừng mất dần, hệ sinh thái rừng, kiểu rừng
thay đổi, tăng nguy cơ tiệt chủng của động thực vật, mất đi những nguồn gen quí hiếm.
Sự thay đổi về thời tiết, nhất là phân bố mưa, lượng mưa ở Tây Nguyên trong vòng 10
năm trở lại đây là rất rõ. Tần suất xuất hiện mưa vào các tháng 12, 1 là khá phổ biến.
Điều này đã làm cho các loại cây trồng như điều, cà phê gặp trở ngại trong quá trình thụ
phấn thụ tinh. Cà phê sau một thời gian khô cùng với nhiệt độ giảm đã phân hóa mầm
hoa, khi tưới nước đầy đủ, thì hoa nở, nhưng nhiều khi gặp mưa phùn thì quá trình thụ
tinh trở ngại (do phấn không tung được), tỷ lệ đậu quả thấp, làm giảm năng suất. Hoặc
đầu mùa khô, xuất hiện một đợt mua phùn làm hoa cà phê nở lai rai, nhưng tỷ lệ đậu quả
cũng thấp, làm ảnh hưởng đến năng suất và thu hoạch sau này. Ngoài ra mưa trong giai
đoạn này đã làm ảnh ảnh đến việc sơ chế cà phê, thời gian phơi kéo dài, nhân bị đen, lỗi
chất lượng theo TCVN 4193 - 2005 sẽ tăng, giá bán sẽ thấp và thu nhập của người nông
dân bị ảnh hưởng.
Lượng mưa bình quân có xu hướng thay đổi, đặc biệt là từ tháng 4 - 7 giai đoạn cây cà
phê cần nhiều nước để đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng cây và phát triển của quả cà phê,
song gần đây vào các tháng này, lượng mưa có xu hướng thấp, tần suất mưa ít, gây thiếu
nước, làm quả cà phê bị khô và rụng, hoặc nhân nhỏ, dẫn đến thiệt hại về năng suất và
giảm chất lượng cà phê nhân.
Cây điều là cây ra hoa, thụ phấn trong mùa khô (tháng 1 - 3), song trong những năm từ
2006 - 2009 quy luật mưa đã thay đổi, vào các tháng này thường có những đợt mưa phùn
xảy ra ở các vùng trồng điều, vì vậy hoa điều không thể thụ phấn thụ tinh được. Nếu cây
điều ra hoa nhiều đợt thì có thể có các đợt khác đậu quả, song nếu chỉ ra hoa 1 đợt tập

Tóm lại, BĐKH trước mắt đã gây ra nhiều tác động có hại đối với sản xuất nông lâm
nghiệp. Thiên tai, đặc biệt là hạn hán, ngày càng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng
hơn cả về cường độ và quy mô, quy luật phân bố mưa cũng bị thay đổi. Nguyên nhân của
biến đối khí hậu rất phức tạp và đa dạng, bao gồm cả nguyên nhân do tự nhiên và
nguyên nhân do con người. Vì vậy, để giảm thiểu tác hại cần phải có những giải pháp
đồng bộ mang tính đa ngành, đa lĩnh vực để đối phó và thích ứng với biến đổi khí hậu.
4. Các giải pháp đối phó và thích ứng với BĐKH
- Bảo vệ rừng, siết chặt công tác quản lý rừng, đầu tư trồng rừng cũng như các dự án
trồng cây xanh trên lãnh thổ của mình, các biện pháp quản lý hệ thống thủy lợi và thoát
lũ Rừng chính là “máy điều hòa khí hậu” khổng lồ. Các nhà khoa học cho biết: Tạm
tính với diện tích 1.000.000 ha nếu chỉ 50% diện tích có rừng cây thân gỗ thì mỗi năm
rừng ở Trường sơn giữ được 22-25 triệu tấn CO
2
, góp phần đáng kể vào giảm hiệu ứng
nóng lên toàn cầu mà không cần đầu tư gì ngoài bảo vệ rừng. Bảo tồn đa dạng sinh học,
đặc biệt là đảm bảo an ninh môi trường sẽ là một chiến lược thích ứng lợi hại của Việt
Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng trước thảm họa BĐKH.
- Trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp, xây dựng
các biện pháp kỹ thuật, tăng cường hệ thống tưới tiêu và các biện pháp chống chịu với
ngoại cảnh khắc nghiệt. Sử dụng các giống kháng, chịu hạn (cà phê, lúa, ngô ), giống ra
hoa nhiều lần (đối với cây điều), bộ giống cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày; bố trí
thời vụ thích hợp để tránh hạn, né lũ. Tăng cường đa dạng sinh học trên vườn cà phê như
trồng cây che bóng, cây ăn quả, cây đai rừng sẽ là giải pháp thích ứng với biến đổi khí
hậu hiệu quả do hệ thống cây trồng này có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau trong việc điều hòa vi
khí hậu, hạn chế bốc thóat hơi nước trên bề mặt đất và lá, cung cấp hữu cơ, cải tạo đất,
hạn chế xói mòn và rửa trôi đất giúp sản xuất cà phê bền vững hơn. Tưới nước tiết kiệm
hợp lý cho cà phê cũng là giải pháp kỹ thuật nhằm thích ứng với sự BĐKH ở Tây
Nguyên. Chuyển một số diện tích đất trồng điều ở các vùng có điều kiện khí hậu bất
thuận, sản xuất không hiệu quả sang trồng các loại cây khác có hiệu quả hơn như sắn,
khoai lang, khoai môn là những loại cây có khả năng thích ứng cao với sự BĐKH và từng

0
C
nữa, tới ngưỡng gây thảm họa, thế giới cần ngay lập tức loại bỏ hoàn toàn việc thải khí
CO
2
. Dưới đây là 10 giải pháp khả thi đã được Tạp chí Sciencetific America của Mỹ đưa
ra:
1. Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch
Một trong những giải pháp khả thi nhất là hạn chế đốt than, dầu và khí thiên nhiên. Hiện
nay, dầu là nhiên liệu phổ biến và cũng từ dầu người ta sản xuất ra nhiều sản phẩm khác,
còn than lại được sử dụng rất phổ biến ở hầu hết các quốc gia, chủ yếu là để sản xuất
điện. Theo các chuyên gia Năng lượng Mỹ, cho tới thời điểm hiện nay chưa có một giải
pháp hoàn hảo nào để thay thế nhiên liệu hóa thạch mặc dù đây là nguồn gây hiệu ứng
nhà kính rất lớn. Bởi vậy, sớm hay muộn con người cũng sẽ phải tìm ra nguồn nhiên liệu
khác thay thế như nhiên liệu sinh học, điện nguyên tử hay các nguồn năng lượng khác.
2. Cải tạo, nâng cấp hạ tầng
Theo số liệu thống kê, nhà ở chiếm tới gần 1/3 lượng phát tán khí gây hiệu ứng nhà kính
trên quy mô toàn cầu (riêng ở Mỹ là 43%). Vì vậy, việc cải tiến trong lĩnh vực xây dựng
như tăng cường hệ thống bảo ôn, xây dựng các cầu thang điều chỉnh nhiệt, các loại nhà
"môi trường" sẽ tiết kiệm được rất nhiều nhiên liệu và giảm mức phát tán khí thải.
Ngoài ra, các công trình giao thông như cầu đường cũng là yếu tố cần đầu tư thỏa đáng.
Đường tốt không chỉ giảm nhiên liệu cho xe cộ mà còn giảm cả lượng khí phát tán độc
hại hoặc sử dụng các loại lò đốt trong công nghiệp (như lò khí hóa than, lò dùng trong
sản xuất xi măng) cũng sẽ giảm được rất nhiều khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
3. Làm việc gần nhà
Theo các nhà khoa học, cứ khoảng 1 galon nhiên liệu (tương đương 4,5lít) cho xe chạy sẽ
tạo ra khoảng 9 kg CO
2
phát tán, vì vậy phương án làm việc gần nhà không dùng xe mà
đi bộ hay đi xe đạp vừa có lợi cho sức khỏe lại có lợi về mặt kinh tế môi trường.

tăng lên gấp rưỡi so với hiện nay. Với mức tiêu thụ lớn như vậy sẽ tạo ra nguồn phát tán
khí thải gây hiệu ứng nhà kính rất lớn, nhất là ở các nước đang phát triển. Áp dụng
phương án mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 con sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực, được coi
là phương án phát triển bền vững và khả thi nhất trong tương lai.
9. Khai phá những nguồn năng lượng mới
Việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới để thay thế nhiên liệu hóa thạch là thách thức lớn
nhất của con người trong thế kỷ 21. Một số nguồn năng lượng ứng viên sáng giá là
ethanol từ cây trồng, hydro từ quá trình thủy phân nước, năng lượng nhiệt, năng lượng
sóng, năng lượng gió, năng lượng mặt trời và nhiên liệu sinh học
10. Ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ trái đất
Hiện nay các nhà khoa học đang tiến hành những thử nghiệm mới như quá trình can thiệp
kỹ thuật địa chất hay kỹ thuật phong bế mặt trời nhằm giảm hiệu ứng nhà kính. Ngoài
các giải pháp này, các nhà khoa học còn tính đến kỹ thuật phát tán các hạt sulfate vào
không khí để nó thực hiện quá trình làm lạnh bầu khí quyển như quá trình phun nhan
thạch của núi lửa, hoặc lắp đặt hàng triệu tấm gương nhỏ để làm chệch ánh sáng mặt trời
cho tới việc bao phủ vỏ trái đất bằng các màng phản chiếu để khúc xạ trở lại ánh sáng
mặt trời, tạo ra các đại dương có chứa sắt và các giải pháp tăng cường dưỡng chất giúp
cây trồng hấp thụ nhiều CO
2
hơn
Lời kêt Thách thức và cơ hội trong ứng phó với biến đổi khí hậuv
Do vị trí địa lý, Việt Nam là một trong những quốc gia phải hứng chịu tác động của
biến đổi khí hậu nặng nề nhất. Với bờ biển dài 3.260km và 28 tỉnh, thành phố có biển,
các vùng sản xuất lương thực chính của nước ta cũng là các vùng tập trung dân cư
ngay tại 2 đồng bằng châu thổ lớn.

Trong khi đó, 80% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và 30% diện tích Đồng bằng
sông Hồng ở độ cao dưới 2,5m so với mặt nước biển nên mối đe dọa do nước biển dâng,
xói lở bờ biển, xâm nhập mặn là thực sự nghiêm trọng. Biến đổi khí hậu còn làm tăng tần
suất và cường độ của các đợt nắng nóng, lũ quét và hạn hán ở nhiều địa phương. Những

dổi khí hậu của cả cộng đồng.
Biến đổi khí hậu là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại, ảnh hưởng sâu sắc
và làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội toàn cầu. Để chủ động ứng phó, phải tiến hành
đồng thời các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ; trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu
là trọng tâm, coi giảm nhẹ khí nhà kính là cơ hội để phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ
môi trường. Chính phủ đã khẳng định việc phòng chống, kiểm soát và giảm thiểu hậu quả
thiên tai là một trong những mục tiêu ưu tiên. Để giảm thiểu tác động của biến đổi khí
hậu, Việt Nam cần giải quyết ở cả 3 cấp độ. Đó là cộng đồng, chính sách và năng lực thể
chế, trong đó quan trọng nhất là xây dựng năng lực thể chế.
Hậu quả của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện
hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và
sự phát triển bền vững đất nước. Các lĩnh vực, ngành, địa phương dễ bị tổn thương và
chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu là tài nguyên nước, nông nghiệp,
ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông, nhà ở và cơ sở hạ tầng. Biến đổi khí hậu
có tác động mạnh đến các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội quốc gia, của ngành và địa
phương, đến an ninh lương thực, năng lượng, học hành và sức khỏe cộng đồng. Biến đổi
khí hậu đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng triệu người dân nước ta,
gây khó khăn và thậm chí phá hủy chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Như vậy, việc nâng cao nhận thức, hình thành ý thức thường trực ứng phó với biến đổi
khí hậu của các ngành, các cấp, cộng đồng dân cư và người dân là vấn đề cấp thiết hiện
nay. Đồng thời nâng cao khả năng thích ứng của hệ thống hạ tầng, công trình thủy lợi,
kinh tế-xã hội, cộng đồng dân cư trước tác động của biến đổi khí hậu. Trước hết ưu tiên
cho cho các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực thành phố Hồ Chí Minh, dải ven
biển miền Trung và khu vực Đồng bằng sông Hồng. Mặt khác phải đảm bảo 100% chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, ngành, lĩnh vực và vùng được xây
dựng trên cả nước đều cập nhật, bổ sung có tính đến các yếu tố tác động của biến đổi khí
hậu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status