MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC: KỊCH, NGHỊ LUẬN - Pdf 27

TRƯỜNG THPT VĨNH LINH
SVTT: LÊ THỊ THÚY HẰNG
GVHD: NGUYỄN THỊ THANH
Tiết: 4-Thứ 3 ngày 22 tháng 3 năm 2011
Ngày soạn: 16.3.2011
MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC
A. Mục tiêu
I. Chuẩn
1. Kiến thức: Thông qua bài giảng, giúp học sinh:
- Hiểu khái quát đặc điểm một số thể loại văn học: kịch, nghị luận.
2. Kĩ năng: Thông qua bài giảng, giúp học sinh:
- Vận dụng những hiểu biết vào việc đọc văn.
3. Thái độ: Thông qua bài giảng, giúp học sinh:
- Có niềm đam mê khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm kịch, nghị luận.
II. Nâng cao:
- Viết được kịch bản văn học, bài văn nghị luận có sức hấp dẫn.
B. Phương pháp: trình chiếu, thuyết giảng
C. Chuẩn bị của thầy và trò:
- GV: thiết kế giáo án điện tử
- HS: + Đọc lại các vở kịch đã học
+ Tìm hiểu những kiến thức về thể loại kịch, nghị luận.
D. Tiến trình bài dạy
I. Kiểm tra sĩ số
II. Kiểm tra bài cũ
III. Dạy bài mới
*
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG TRÌNH CHIẾU
* TÌM HIỂU THỂ LOẠI KỊCH
- GV giới thiệu lịch sử của kịch: Ngay từ
thuở bình minh của nền văn học Hi-La cổ
đại, kịch đã xuất hiện và khẳng định vị trí

tổng hợp, được diễn trên sân khấu và trong
điện ảnh.
- GV giải thích: Để có được một vở kịch
hoàn hảo ra mắt công chúng, cần phải có
rất nhiều yếu tố: kịch bản, đạo diễn, diễn
viên, âm thanh, ánh sáng Trong đó, kịch
bản được xem là yếu tố đầu tiên, quan
trọng nhất của kịch. Kịch bản văn học là
phần văn bản của tác phẩm kịch, tuy có
nhiều điểm giống với các văn bản văn xuôi
khác (như có nhân vật, cốt truyện, lời
thoại ) nhưng do được viết ra với mục
đích để diễn nên nó phụ thuộc vào nghệ
thuật sân khấu, tạo nên những đặc trưng
riêng, chi phối cách cấu tạo các yếu tố kia.
- GV: Từ những kịch bản văn học các em
đã được học và trích đoạn kịch mà các em
vừa xem, hãy cho biết kịch có những đặc
trưng nào?
- HSTK: xung đột kịch, hành động kịch,
ngôn ngữ kịch.
- GV: Theo em, xung đột kịch là gì? Xung
đột kịch có vai trò như thế nào trong một
tác phẩm kịch?
- GV: Văn học là tấm gương phản ánh
trung thành đời sống xã hội và thời đại.
Thơ, văn xuôi hay kịch bản văn học đều
không nằm ngoài quy luật ấy. Nhưng, nếu
như thơ lấy tâm trạng của nhân vật trữ tình
làm đối tượng phản ánh, văn xuôi lựa chọn

nhất của xã hội và thời đại (đây chính là
tính lịch sử cụ thể của xung đột kịch).
Ví dụ: Trong vở “Vũ Như Tô”, NHT lựa
chọn và xây dựng xung đột cơ bản nổi bật
nhất của xã hội phong kiến: mâu thẫn giữa
tầng lớp thống trị với giai cấp thống khổ,
mâu thuẫn này đã kéo theo mâu thuẫn khác
dẫn đến bi kịch của Đan Thiềm, Vũ Như
Tô, đó là tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài
hoa muốn mượn thế lực của một hôn quân
để “xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ,
thách cả những công trình sau trước, tranh
tinh xảo với hóa công”, để rồi sau đó mộng
tưởng tan hoang theo mây khói bốc cao
trên đống đổ nát của Cửu Trùng đài. Cái
đẹp thuần túy đã thất bại thảm hại trong
cuộc xung đột với quyền lợi chân chính của
cộng đồng.
Thông qua đó, tác giả gửi gắm thái độ,
tình cảm, tư tưởng (thế giới quan, nhân
sinh quan) của mình.
Xung đột kịch được xem như là một thứ
lửa thử vàng để từ đó tính cách nhân vật
được bộc lộ, và làm toát lên những ý nghĩa
về cuộc sống, về nhân sinh. Xung đột kịch
tạo nên tính kịch, gây nên sự hấp dẫn của
vở kịch. Nếu xung đột kịch logic, căng
thẳng có chiều sâu, giải quyết hợp lí, bất
ngờ thì vở kịch có kịch tính cao. Ngược lại,
nếu xung đột giả tạo, phát triển lỏng lẻo thì

toáng lên->mẹ chồng mắng chửi, đuổi đi
- GV: Ngôn ngữ kịch là gì? Ngôn ngữ
kịch được phân thành mấy loại? Giải
thích đặc điểm của từng loại ngôn ngữ
kịch. Vai trò của chúng?
(Ngôn ngữ kịch bao gồm chỉ dẫn sân sấu
(thuyết minh cách bài trí sân khấu, chú
thích không gian, thời gian, chỉ dẫn hành
vi, cử chỉ, thái độ của nhân vật) + lời nói
của nhân vật kịch, không có ngôn ngữ
người kể chuyện như trong văn xuôi. Ở đây
chỉ xét ngôn ngữ của nhân vật kịch. Ngôn
ngữ kịch gián tiếp mang chức năng trần
thuật, đồng thời bộc lộ quan điểm của nhà
văn)
- GV: Một đặc trưng của ngôn ngữ kịch
là ngôn ngữ kịch mang tính hành động
và khẩu ngữ cao. Vì sao?
- HSTL
- GV: Ngôn ngữ kịch là những lời tranh
luận, biện bác làm thay đổi tình thế, khắc
sâu mâu thuẫn, thúc đẩy sự tiến triển của
xung đột. Trong kịch, “nói tức là làm”
(Astin), lời nói bao giờ cũng đi kèm với một
(một chuỗi) hành động (đó là quá trình
diễn xuất của diễn viên khi hóa thân vào
nhân vật). Ví dụ: Trong vở kịch “Vũ Như
Tô), cùng với lời van xin: “Tướng quân tha
cho ông cả. Nước ta còn cần nhiều thợ tài
để tô điểm” là hành động quỳ xuống của

thường ngày.
- GV khái quát: Hành động kịch và ngôn
ngữ kịch được thực hiện bởi các nhân vật,
qua đó bộc lộ mâu thuẫn, xung đột kịch và
tô đậm tính cách nhân vật.
- GV: Dựa trên những cơ sở nào để có thể
phân loại kịch? Phân loại kịch theo từng
cơ sở.
- GV: Giải thích các khái niệm thể loại, lấy
dẫn chứng về từng thể loại (bi kịch: Rô-mê-
ô và Giu-li-ét, Hăm-lét, Vũ Như Tô, ; hài
kịch: Trưởng giả học làm sang, Lão hà
tiện ; chính kịch: Hồn Trương Ba, da
hàng thịt, Bắc Sơn, Tôi và chúng ta )
- HS đọc phần 2: Yêu cầu về đọc kịch bản
văn học. Lí giải các yêu cầu.
- GV yêu cầu HS vận dụng vào việc đọc
trích đoạn “Tình yêu và thù hận” (trích
“Rô-mê-ô và Giu-li-ét”) của Sếch-xpia.
( Phân tích ngôn ngữ, hành động để thấy
được xung đột nội tâm ở nhân vật Rô-mê-ô
và Giu-li-ét)
* Hướng dẫn:
- Xung đột kịch chủ yếu được bộc lộ qua
ngôn ngữ của nhân vật kịch: Rô-mê-ô, Giu-
li-ét.
+ Xung đột nội tâm: tình yêu - thù hận.
+ Xung đột bên ngoài: mối thù truyền kiếp
giữa hai dòng họ.
- Giải quyết xung đột: tình yêu vượt lên thù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status