luận văn thạc sĩ quản trị tài chính Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng
dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang trong suốt quá trình viết và
hoàn thành luận văn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa
học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Kế toán, Viện đào tạo Sau đại
học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn
thành luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Ngô Trung Dũng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, có sự
hỗ trợ từ PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang hướng dẫn và những người tôi đã cảm ơn.
Các nội dung nghiên cứu và kết quả thể hiện trong luận văn này là trung thực và
chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Ngô Trung Dũng
MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ KIỆU, CÁC CHỮ VIẾT VẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
2.2.1. Phân tích cấu trúc tài chính của Công ty 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Báo cáo tài chính BCTC
Bảng cân đối kế toán BCĐKT
Báo cáo kết quả kinh doanh BCKQKD

hình tài chính của công ty luôn dành được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng: Cổ
đông, nhà đầu tư, ngân hàng Chính vì vậy, tình hình tài chính tốt, ổn định, minh
bạch và năng lực tài chính không ngừng được nâng cao đã trở thành một mục tiêu
quan trọng xuyên suốt trong mọi hoạt động của Công ty.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là việc sử dụng một tập hợp các
khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép phân tích xử lý các thông tin kế
toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một
doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp và cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu
khác nhau. Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, phân tích tình hình tài chính sẽ là
cơ sở để đưa ra các quyết định hiệu quả, phù hợp với tình trạng hiện tại và định
hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp.
Nhận thức được yêu cầu bức thiết của việc nâng cao năng lực tài chính và vai
trò của phân tích tình hình tài chính, tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích tình hình tài
chính tại Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ
của mình.
i
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Chương 2. Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Hoàng Anh
Gia Lai
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính tại Công ty
Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai
Chương 1, luận văn trình bày cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp bao gồm các nội dung khái niệm và ý nghĩa của phân tích tình hình
tài chính doanh nghiệp, cơ sở số liệu để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp,
phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nội dung phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp và tổ chức phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là việc sử dụng một tập hợp các
khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép phân tích xử lý các thông tin kế

kế toán hợp nhất của Công ty các thời điểm từ cuối năm 2008-2010, báo cáo kết quả
kinh doanh hợp nhất của Công ty từ năm 2008 -2010, báo cáo lưu chuyển tiền tệ
của Công ty từ năm 2008-2010 và thuyết minh báo cáo tài chính của công ty năm
2010. Nội dung phân tích bao gồm:
* Phân tích cấu trúc tài chính
Tổng tài sản của Công ty cuối năm 2010 so với 2009 tăng tuyệt đối hơn 6.575
tỷ trong đó tài sản ngắn hạn tăng 3.828 tỷ (tăng 52%), tài sản dài hạn tăng 2.747 tỷ
(tăng 57%); so với 2008 tăng tuyệt đối hơn 9.900 tỷ trong đó tài sản ngắn hạn tăng
6.706 tỷ (tăng 148%), tài sản dài hạn tăng 3.193 tỷ (tăng 76%). Có thể thấy nếu như
năm 2008 trong cơ cấu tài sản tỷ trọng giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trên
tổng tài sản của công ty gần như tương đương nhau thì đến năm 2009 tài sản ngắn
hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn tài sản dài hạn trong tổng tài sản điều đó chứng tỏ tốc
độ tăng giá trị tài sản ngắn hạn cao hơn tài sản dài hạn của công ty. Đến năm 2010,
tỷ trọng này gần như không thay đổi so với năm 2009. Tài sản ngắn hạn hiện tại
chiếm tỷ trọng nhiều hơn trong tổng tài sản của Công ty (60% tổng tài sản). Tỷ
trọng tài sản dài hạn trong tổng tài sản của Công ty qua các năm giảm dần nhưng
iii
giá trị tài sản dài hạn của Công ty vẫn tăng mạnh qua các năm. Đặc biệt năm 2010,
tài sản dài hạn của Công ty tăng lên rất nhanh, cụ thể tăng hơn 2.747 tỷ (tăng 57%)
so với 2009 và tăng hơn 3.193 tỷ (73%) so với 2008. Sự tăng lên rất lớn chủ yếu của
tài sản cố định hữu hình chính là nguyên nhân khiến tài sản dài hạn của Công ty
tăng lên mạnh trong năm 2010. Có thể lý giải cho vấn đề này là do trong năm 2010,
Công ty đã tập trung mạnh vào việc đầu tư trang thiết bị máy móc cho các dự án
khai thác khoáng sản và năng lượng của Công ty tại các tỉnh Tây Nguyên và nước
Lào, Campuchia.
Sự tăng lên về tổng tài sản tương ứng với sự tăng lên của tổng nguồn vốn.
Tổng nguồn vốn năm 2010 tăng mạnh so với năm 2008, 2009 chủ yếu là do sự tăng
lên của khoản mục vốn chủ sở hữu cả về giá trị và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn.
Trong cơ cấu nguồn vốn, năm 2010 tỷ trọng vốn chủ sở hữu đã tăng lên là 49% (so
với 42% năm 2008 và 38% năm 2009) và tương đương với tỷ trọng nợ phải trả

thường xuyên ổn định này không phải sử dụng đến nguồn vốn tạm thời tài trợ, tài
sản ngắn hạn của Công ty một phần được tài trợ bằng nợ ngắn hạn, phần khác được
tài trợ bằng nguồn vốn thường xuyên còn lại sau khi tài trợ cho tài sản dài hạn.
* Phân tích tình hình công nợ phải thu, phải trả và khả năng thanh toán
Tỷ lệ các khoản phải thu so với nợ phải trả của Công ty năm 2010 tăng lên
49.87%, cân bằng gần về mức 50% so với mức 42.3% năm 2008 và 41.7% năm
2009. Năm 2009, tỷ lệ này là 41.7% cho thấy Công ty đi chiếm dụng vốn nhiều hơn
so với bị chiếm dụng vốn, sang năm 2010 tỷ lệ này tăng lên mức gần 50% cho thấy
quan hệ giữa các khoản phải thu so với nợ phải trả của Công ty hiện tại là cân bằng.
Các khoản phải thu và nợ phải trả của công ty năm 2010 so với năm 2009 đều tăng
lên về giá trị tuyệt đối nhưng tốc độ tăng các khoản phải thu là lớn hơn nợ phải trả.
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát (= Tổng tài sản/Tổng nợ phải trả) của
Công ty năm 2010 là 2.15 tăng 0.42 so với năm 2009 và 0.25 so với năm 2008 cho
thấy toàn bộ giá trị tài sản thuần hiện có của Công ty hoàn toàn bảo đảm khả năng
thanh toán các khoản nợ của Công ty. Hệ số này năm 2010 tăng mạnh so với năm
2009 là do tổng tài sản của Công ty năm 2010 so với năm 2009 tăng hơn 6.575 tỷ
v
tương ứng tăng 54% trong khi đó nợ phải trả của Công ty tăng ít hơn ở mức tăng
hơn 1.661 tỷ tương ứng tăng 23%. Có thể thấy được tổng tài sản của Công ty năm
2010 tăng mạnh ngoài việc tăng một phần từ nguồn nợ phải trả còn có phần nhiều
từ việc tăng nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn năm 2010 của Công ty tăng mạnh ở
mức 2.16 so với 1.77 của năm 2008 và 1.72 năm 2009 và cao hơn nhiều so với mức
trung bình ngành cho thấy khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty năm 2010
tăng hơn trước và tốt hơn nhiều so với các công ty hoạt động cùng ngành. Hệ số khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty qua các năm đều > 1 cho thấy công ty hòa
toàn đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn. Hệ số này năm
2010 tăng mạnh là do tài sản ngắn hạn năm 2010 tăng mạnh so với năm 2009 (tăng
hơn 3.828 tỷ đồng – 52%) trong khi đó nợ ngắn hạn của Công ty năm 2010 cũng
tăng so với năm 2009 nhưng tăng với giá trị và tốc độ thấp hơn nhiều so với mức

Trên cơ sở đánh giá khái quát hiệu quả sản xuất kinh doanh, luận văn đi vào
phân tích chi tiết hiệu quả sử dụng tài sản (tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn), hiệu
quả sử dụng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu, vốn vay), hiệu quả sử dụng chi phí.
Về hiệu quả sử dụng tài sản: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản
như số vòng quay của tài sản năm 2010 giảm so với năm 2009 và suất hao phí của
tài sản so với doanh thu thuần năm 2010 tăng lên so với năm 2009 cho thấy hiệu
quả sử dụng tài sản nhìn chung của Công ty là chưa cao, tài sản của Công ty vận
động chậm, số vòng quay của tài sản thấp, suất hao phí của tài sản để tạo ra doanh
thu cao. Suất hao phí của tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế của Công ty đã giảm
dần nhưng rõ ràng nó vẫn ở mức khá cao. Thực ra điều này cũng không quá khó lý
giải với Công ty HAGL, Công ty hiện đang có quy mô tài sản rất lớn, giá trị tài sản
tăng rất nhanh cả về mặt tuyệt đối và tương đối đặc biệt ở tài sản dài hạn đầu tư cho
những lĩnh vực hoạt động mới chưa thể tạo ra kết quả ngày lập tức trong thời gian
ngắn cho nên sự tăng trưởng trong doanh thu thuần và lợi nhuận là không tương
ứng, thậm chí ở mức rất khiêm tốn nếu so với mức tăng của tài sản.
Về hiệu quả sử dụng nguồn vốn: Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu của Công ty
không ngừng tăng qua các năm, năm 2010 của công ty là 0.294 tăng 0.017 đồng so
với năm 2009 và 0.111 đồng so với năm 2008. Tuy nhiên, năm 2010 so với năm
2009, số vòng quay của vốn chủ sở hữu giảm 0.34 vòng thể hiện hiệu quả sử dụng
vốn chủ sở hữu trên góc độ tạo doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ năm 2010 bị
giảm sút so với năm 2009. Tuy nhiên điều này có thể giải thích được là do sự gia
tăng của vốn chủ sở hữu năm 2010 so với năm 2009 là rất lớn trong khi sự gia tăng
của doanh thu thuần là không tương xứng và nhỏ hơn rất nhiều. Mặc dù vậy, việc
Công ty tăng mạnh vốn chủ sở hữu năm 2010 so với năm 2009 rõ ràng là bước đi
đúng đắn và sẽ là nhân tố giúp ổn định tình hình tài chính, tạo lợi nhuận bền vững
của Công ty trong tương lai. Hiệu quả sử dụng vốn vay của Công ty là tốt, hệ số khả
năng thanh toán lãi tiền vay và sức sinh lời của vốn đầu tư qua các năm của Công ty
không ngừng gia tăng.
Về hiệu quả sử dụng chi phí: hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty là rất ấn
viii

có được những ưu đãi trong chính sách đầu tư của các nước này, không ngừng sử
dụng các công cụ để quảng bá thương hiệu của HAGL và nâng cao uy tín của Công
ty đối với không chỉ khách hàng, bạn hàng, các tổ chức tín dụng, các cổ đông, nhà
đầu tư trong nước mà còn cả với các nhà đầu tư, đối tác nước ngoài, các tổ chức tài
chính quốc tế.
- Tăng cường biện pháp thu hồi các khoản phải thu
Các khoản phải thu năm 2010 tăng lên nhiều so với năm 2009 và chiếm xấp xỉ
gần 40% trong tổng số vốn lưu động của Công ty, đây là một tỷ lệ khá lớn, và
chứng tỏ Công ty đã bán chịu cho khách hàng nhiều hơn và bị chiếm dụng vốn khá
lớn. Vì thế, Công ty cần nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu mà các bên đang
nợ Công ty bằng các biện pháp như thường xuyên kiểm soát để nắm vững tình hình
nợ phải thu và tình hình thu hồi nợ qua việc mở sổ theo dõi chi tiết nợ phải thu và
tình hình thanh toán với khách hàng, trong hợp đồng kinh tế nên xây dựng các điều
khoản chặt chẽ có ràng buộc để có thể nhanh chóng thu được tiền bán hàng xây
dựng chính sách tín dụng thương mại hợp lý …
- Đẩy nhanh tốc độ vòng quay tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty là chưa cao, sức sinh lời của
tài sản ngắn hạn đã tăng dần nhưng vẫn ở mức thấp, số vòng quay của tài sản ngắn
hạn thấp và lại có xu thế giảm. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có
ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả và tiết kiệm vốn lưu động trong
kinh doanh. Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty có thể tiến
hành các biện pháp như tăng cường công tác quản lý tài sản ngắn hạn, tìm mọi biện
pháp để rút ngắn thời gian ở mỗi khâu mà vốn lưu động đi qua và tăng cường công tác
quản lý hàng tồn kho để có thể tính toán, dự toán chính xác nhu cầu hàng hoá bán ra
trong kỳ nhằm giảm chi phí do dư thừa quá nhiều lượng hàng tồn kho.
- Tăng cường kiểm soát chi phí, đầu tư đổi mới tài sản cố định đi đôi với nâng
cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng chi phí của Hoàng Anh Gia Lai hiện tại khá ấn tượng. Năm
2010 so với năm 2009 các chỉ tiêu này đều tăng khi mà mức đô gia tăng lợi nhuận
x

1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mình rõ
nét. Nền kinh tế phát triển với nhiều ngành nghề, các doanh nghiệp từ nhiều thành
phần kinh tế khác nhau đã và đang không ngừng lớn mạnh phát triển từng bước hội
nhập với xu thế phát triển kinh tế quốc tế.
Trong những năm gần đây, cùng với thành phần kinh tế Nhà nước vẫn đóng
vai trò chủ đạo thì thành phần kinh tế tư nhân đang ngày càng phát triển cả về số
lượng, quy mô và chất lượng doanh nghiệp và có những đóng góp không nhỏ vào
công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Các doanh nghiệp cổ phần thuộc sở hữu tư
nhân này không ngừng lớn mạnh, cạnh tranh ngày càng sâu sắc và bình đẳng với
các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài trong cơ chế thị trường.
Trong bối cảnh hiện tại, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển không còn con
đường nào khác là phải phát huy tối đa nội lực của mình, tức là phải không ngừng
tích lũy tăng cường tiềm lực tài chính, tiềm lực kỹ thuật công nghệ và con người.
Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai là một doanh nghiệp có 100% vốn
thuộc sở hữu tư nhân, hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần. Công ty có quy
mô và tiềm lực rất mạnh trong số các doanh nghiệp Việt Nam, đi kèm với đó là việc
quản lý mọi hoạt động của công ty cũng đạt ra những yêu cầu sao cho phù hợp với
sự phát triển. Tình hình tài chính ổn định, minh bạch luôn là một trong những mục
tiêu quan trọng nhất của Công ty hay bất cứ một doanh nghiệp nào khác để không
ngừng giúp hoạt động của Công ty ngày càng phát triển, nâng cao được khả năng
cạnh tranh trên thị trường Việt Nam, phát triển thị phần ảnh hưởng ra một số nước
trong khu vực.
Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ
phần Hoàng Anh Gia Lai” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
1
2. Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận chung về phân tích tình hình tài chính
tại Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai để làm cơ sở đưa ra đánh giá về tình trạng
tài chính của Công ty và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính tại

nghiệp đó. Có thể nói tình hình tài chính chính là thước đo sức khỏe của doanh
nghiệp, một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt cho thấy doanh nghiệp đó hoạt
động kinh doanh tốt.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là việc sử dụng một tập hợp các
khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép phân tích xử lý các thông tin kế
toán tài chính và các thông tin khác về quản lý hiện hành và trong quá khứ nhằm
đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ chất
lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cung cấp thông tin cho mọi đối
tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau.
Tình hình tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh
doanh và có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển minh bạch và bền
vững của doanh nghiệp. Do đó, có thể thấy phân tích tình hình tài chính có vai trò
quan trọng, thể hiện trên hai mặt sau:
Thứ nhất, phân tích tình hình tài chính cho phép đánh giá đầy đủ, chính xác
tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng
3
tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn, tích luỹ và tăng cường tiềm lực tài chính.
Thứ hai, phân tích tài chính giúp cho công tác quản lý Nhà nước về kinh tế
và phục vụ cho các đối tượng quan tâm khác.
1.1.2. Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính ngày càng được sử dụng phổ biến và rộng rãi
trong mọi đơn vị kinh tế thuộc tất cả các loại hình kinh tế khác nhau với quy trình
thực hiện có tính khoa học và linh hoạt. Sự phát triển của nền kinh tế nói chung và
của các đơn vị, thành phần kinh tế nói riêng đang bộc lộ rõ nét tính đa dạng và phức
tạp của hoạt động tài chính. Do đó, một mặt tạo cơ hội cho phân tích tài chính phát
triển và ngày càng hoàn thiện với tư cách là công cụ phân tích có ý nghĩa quan trọng
đối với sự phát triển lành mạnh và bền vững của tài chính doanh nghiệp, mặt khác
đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính là một trong những nội dung cơ bản của phân tích kinh

bảo nhu cầu sản xuất kinh doanh. Thu nhập của họ là lãi suất tiền vay - là khoản thu
nhập hình thành trong tương lai, do đó phân tích tài chính đối với người cho vay
không chỉ đơn giản là xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng mà còn là đánh
giá hiệu quả hoạt động và hiệu quả sinh lời của doanh nghiệp để làm cơ sở đánh giá
rủi ro cho vay. Đối với những khoản cho vay ngắn hạn: vì nguồn trả là doanh thu
mà doanh nghiệp thu được trong thời hạn tồn tại của khoản vay nên người cho vay
luôn quan tâm trước hết đến tình hình kinh doanh (hoạt động) của doanh nghiệp vì
nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Đối với các
khoản cho vay dài hạn: vì nguồn trả lấy từ lợi nhuận và khấu hao hàng năm nên
người cho vay quan tâm nhiều hơn đến khả năng hoàn trả trong tương lai và khả
năng phát triển thể hiện qua hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, phân tích tình hình tài chính đối với các công ty kiểm toán. Trong
nền kinh tế thị trường các loại hình kiểm toán càng xuất hiện nhiều như kiểm toán
Nhà nước, kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ. Các loại kiểm toán đều dựa trên các
thông tin phân tích tình hình tài chính để xác minh tính minh bạch, khách quan về
5
tình hình tài chính của một tổ chức hoạt động. Ngoài ra, phân tích tình hình tài
chính còn giúp các chuyên gia kiểm toán dự đoán xu hướng tài chính để nâng cao
độ tin cậy của các quyết định.
Thứ năm, phân tích tình hình tài chính đối với cán bộ công nhân viên của
doanh nghiệp. Đây là những người có nguồn thu nhập duy nhất là tiền lương được
trả. Tuy nhiên, trong một số doanh nghiệp cổ phần, người hưởng lương có một phần
cổ phiếu nhất định trong doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp này, người
hưởng lương có thu nhập từ tiền lương được trả và tiền lời được chia. Cả hai khoản
thu nhập này phụ thuộc vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy,
phân tích tài chính giúp họ định hướng việc làm ổn định của mình và yên tâm dốc
sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tùy theo công việc được
phân công đảm nhiệm.
Như vậy, phân tích tình hình tài chính là công cụ hữu ích được dùng để xác
định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của một doanh nghiệp, tìm

quản lý doanh nghiệp. Khi so sánh bảng cân đối kế toán được lập tại các thời điểm
liên tục, người đọc thu được thông tin về sự biến động tài sản và nguồn vốn của
doanh nghiệp, tình hình tài chính thể hiện qua năng lực tài chính, cấu trúc tài chính,
… của doanh nghiệp. Với vai trò đó, người phân tích tài chính sử dụng bảng cân đối
kế toán làm cơ sở cho việc tính toán các chỉ tiêu phân tích như chỉ tiêu về khả năng
thanh toán, chỉ tiêu về tình hình đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, cấu
trúc tài chính, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá về khái quát tình hình tài chính của
doanh nghiệp cũng như phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn
vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cấu trúc của bảng cân đối kế toán gồm hai phần phản ánh vốn (tài sản) và
nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản).
- Phần tài sản: phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có tại thời điểm lập báo
cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Về mặt kinh tế, phần tài sản
phản ánh quy mô và kết cấu các tài sản của doanh nghiệp đang tồn tại dưới mọi
7

Trích đoạn Báo cáo kết quả kinh doanh Thuyết minh báo cáo tài chính Phương pháp chi tiết Phương pháp loại trừ Các phương pháp khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status