Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
MỤC LỤC
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 1 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trên thương trường, các nhà doanh nghiệp cần phải đánh giá đúng kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định được những nguyên nhân tác động tới
quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh , từ đó có biện pháp thích hợp khai thác
khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp.
Đặc biệt trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý kinh doanh, thực hiện cơ chế
kinh doanh hội nhập, vấn đề này càng trở lên cấp thiết.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động lĩnh
vực kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình kinh doanh được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ. Nói cách
khác, tài chính doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức,
huy động phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh.
Vì vậy, việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho
các nhà doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động
tài chính, xác định đầy đủ đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố đến tình hình tài chính. Từ đó có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng
cường tình hình tài chính. Khi người ta quyết định lựa chọn phương án tối ưu, đánh
giá được thực trạng, tiềm năng của doanh nghiệp thì nguy cơ rủi ro sẽ giảm đi rất
nhiều. Từ đó hoạt động sản xuất kinh doanh mới đảm bảo và có hiệu quả. Nhận thức
được tầm quan trọng đó, em quyết định chọn đề tài “ Phân tích tình hình tài chính
và đề xuất biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty Cổ Phần phát
triển phần mềm CATVIET”.
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 2 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
2. Mục tiêu nghiên cứu
Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn tập trung nghiên cứu tình
định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanh
nghiệp tư nhân.
Tài chính doanh nghiệp là một hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong
lĩnh vực phân phối quỹ tiền tệ, quá trình tạo lập và chu chuyển nguồn vốn của một
doanh nghiệp để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp đó.
Để đạt được hiệu quả kinh doanh như mong muốn, doanh nghiệp cần phải có
những quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và kinh doanh. Mọi quyết định phải
gắn liền với hệ thống luật pháp và sự hiểu biết về môi trường xung quanh. Bao
quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế phức tạp và luôn biến động. Doanh
nghiệp phải làm chủ được và dự đoán trước được sự thay đổi của môi trường để sẵn
sàng thích nghi với nó. Trong môi trường đó, toàn bộ quá trình hoạt động đầu tư
và kinh doanh của doanh nghiệp, từ khi ứng vốn tiền tệ cho đến khi doanh nghiệp
có nguồn tài chính và phân phối nguồn tài chính đó đã nảy sinh hàng loạt các quan
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 4 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
hệ kinh tế dưới hình thức giá trị.Nội dung những quan hệ kinh tế phát sinh thuộc
phạm vi tài chính doanh nghiệp bao gồm:
Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: đây là mối quan hệ phát sinh khi
doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (thông qua nộp thuế,
phí, lệ phí cho ngân sách Nhà nước). Ngân sách Nhà nước cấp vốn cho doanh
nghiệp Nhà nước và có thể góp vốn với công ty liên doanh hoặc công ty cổ phần
(mua cổ phần) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tùy theo mục đích yêu cầu quản lý đối
với ngành nghề kinh tế và quyết định tỷ lệ vốn góp hoặc mức cho vay.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể
hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường tài
chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể
trình hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của
doanh nghiệp và được thể hiện ở những điểm sau:
- Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của
doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục.;
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu
vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp
cũng như cho đầu tư phát triển.Việc thiếu vốn sẽ khiến cho các hoạt động của doanh
nghiệp gặp khó khăn không triển khai được. Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt
động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào
tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp.
- Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vai trò này được thể hiện ở chỗ:
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 6 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
+ Việc đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc đánh
giá, lựa chọn đầu tư từ góc độ tài chính.
+ Việc huy động vốn kịp thời, đầy đủ giúp cho doanh nghiệp chớp được cơ
hội kinh doanh
+ Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp có thể
giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, góp phần rất lớn tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp
+ Huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh
được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó
giảm được tiền trả lãi vay góp phần rất lớn tăng lợi nhuận sau thuế của doanh
nghiệp.
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích để giám sát, kiểm tra thường
xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để có thể
kịp thời đưa ra các quyết định để điều chỉnh phù hợp.
Tổng tài sản bình quân
Vòng quay tài sản ngắn hạn
Vòng quay TSNH cho biết một đồng TSNH góp phần tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu.
Vòng quay TSNH =
Doanh thu thuần
TSNH bình quân
Vòng quay hàng tồn kho
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 8 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
Vòng quay thể hiện một đồng vốn đầu tư vào hàng tồn kho góp phần tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu.
Vòng quay HTK =
Doanh thu thuần
Hàng Tồn Kho bình quân
Vòng quay khoản phải thu
Vòng quay khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt
Vòng quay khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Khoản phải thu bình quân
Vòng quay TSDH
Vòng quay TSDH cho biết một đồng đầu tư vào TSDH góp phần tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu.
Vòng quay TSDH =
Doanh thu thuần
TSDH bình quân
1.1.1.2. Các chỉ tiêu về an toàn tài chính
1.1.3.1.3. Hệ số thanh toán hiện hành
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành thực chất là mối quan hệ giữa nợ ngắn hạn và
Vốn bằng Tiền
Nợ ngắn hạn
Tỷ số này phản ánh mối quan hệ giữa các khoản tiền mặt và coi như tiền mặt
(TGNH, ngân phiếu, chứng khoán ) với số nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Nhìn chung
tỷ số này càng cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng mạnh, tuy nhiên nếu tỷ
số này quá cao thì lượng vốn bằng tiền của doanh nghiệp bị ứ đọng ở doanh nghiệp quá
lớn, nó sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn và kết quả cuối cùng là tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ ngày càng xấu.
Tóm lại, khả năng thanh khoản cao thì rủi ro thanh khoản sẽ thấp, tuy nhiên lợi
nhuận có thể thấp vì khoản phải thu nhiều và hàng tồn kho nhiều. Khả năng thanh khoản
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 10 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
thấp thì rủi ro thanh khoản sẽ cao, tuy nhiên lợi nhuận có thể cao vì TSLĐ được sử dụng
hiệu quả, nguồn vốn đầu tư cho TSLĐ nhỏ, ROA và ROE có thể tăng.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp
Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thường được thực hiện trong một
số ngành kinh doanh nhất định. Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm kinh tế-
kỹ thuật riêng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp:
+ Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thì vốn lưu
động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu động nhanh hơn so với
các ngành nông nghiệp, công nghiệp. Ở các ngành này thì vốn cố định thường
chiếm tỷ lệ cao hơn vốn lưu động, thời gian thu hồi vốn cũng chậm hơn.
+ Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất
ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến
động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng nhờ đó có thể dễ
dàng đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh, doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất
dài thì phải ứng ra lượng vốn lưu động lớn hơn. Những doanh nghiệp hoạt động
trong ngành sản xuất có tính thời vụ thì nhu cầu về vốn lưu động giữa các thời kỳ
trong năm chênh lệch nhau rất lớn, giữa thu và chi bằng tiền thường không ăn khớp
nghiệp cần có những biện pháp tích cực.
+ Chính sách kinh tế và tài chinh của nhà nước với doanh nghiệp
Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát, điều tiết các hoạt động của doanh
nghiệp trong các thành phần kinh tế. Thông qua chính sách kinh tế, pháp luật kinh
tế và các biện pháp kinh tế…Nhà nước tạo môi tường và hành lang cho các doanh
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 12 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng dẫn các hoạt động kinh tế của
doanh nghiệp đi theo quỹ đạo của kế hoạch vĩ mô.
+ Mức độ cạnh tranh
Nếu doanh nghiệp hoạt động những ngành nghề có mức độ cạnh tranh cao đòi
hỏi doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho việc đổi mới thiết bị, công nghệ và nâng cao
chất lượng sản phẩm, dịch vụ …
+ Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính
Sự phát triển của thị trường tài chính làm đa dạng hóa các công cụ và các hình
thức huy động vốn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như sự xuất hiện và phat triển của
hình thức thuê tài chính, sự phát triển của thị trường chứng khoán v.v…Sự phát
triển của lớn mạnh của các trung gian tài chính sẽ cung cấp các dich vụ tài chính
ngày càng đa dạng và phong phú cho doanh nghiệp, như sự phát triển của các ngân
hàng thương mại đã làm đa dạng hóa các hình thưc thanh toán như chuyển khoản,
tín dụng, và chuyển tiền điện tử….
+ Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp chỉ có nguồn tài trợ chính để đầu tư ở giới hạn nhất định
bao gồm nguồn vốn tự có và nguồn vốn có khả năng huy động, doanh nghiệp không
thể quyết định đầu tư hay thực hiện các dự án vượt xa khả năng tài chính của mình.
Đây là một yếu tố nội tại chi phối đến việc quyết định đầu tư của một doanh nghiệp.
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối
chiếu, so sánh và đánh giá các chỉ tiêu tài chính trên báo cáo tài chính nhằm xác
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
tới lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh; từ đó so sánh
với nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Ngoài
ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng
vốn của chủ sở hữu bởi vì số vốn của hủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong
trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Không mấy ai sẵn sang cho vay nếu các thông
tin cho thấy người vay không đảm bảo chắc chắn rằng khoản vay đó có thể và sẽ
được thanh toán khi đến hạn. Người cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi
của doanh nghiệp vì đó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn.
Đối với nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hóa, dịch vụ:
Họ cũng giống như các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, nhóm
người này cũng cần được biết khả năng thanh toán hiện tại và sắp tới của doanh
nghiệp để quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng,
thanh toán chậm hay không.
Đối với các nhà đầu tư:
Các nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu, lợi tức cổ phần và
giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết
khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đó là một trong những căn cứ giúp họ ra quyết
định bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không. Mặt khác nhà đầu tư cũng quan tâm tới
thu nhập của doanh nghiệp. Để đánh giá thu nhập của nó, họ quan tâm đến tiềm
năng tăng trưởng các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành được
những tiềm năng gì và như thế nào, đã sử dụng chúng ra sao, cơ cấu vốn của doanh
nghiệp.
Đối với cơ quan thuế
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 15 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
Cơ quan thuế cần thông tin từ phân tích tài chính để xác định số thuế mà
doanh nghiệp phải nộp.
Đối với các cơ quan quản lý khác của Chính phủ
Các cơ quan quản lý khác của Chính phủ cần các thông tin từ phân tích tài
Vốn chủ sở hữu bình quân
Tỷ số này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp góp
phần tạo ra bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu. Tỷ số này càng cao chứng tỏ trình
độ sử dụng vốn chủ sở hữu càng tốt và ngược lại. Đây là chỉ số tài chính quan trọng
nhất và thiết thực nhất đối với chủ sở hữu.
+ Chỉ tiêu an toàn tài chính tổng quát
Quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Tài sản dài hạn Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu
Mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn
+ Nếu TSNH ≥ NNH thì đây là dấu hiệu hợp lý thể hiện doanh nghiệp giữ
vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích
nợ ngắn hạn. Đảm bảo nguyên tắc tài trợ về sự hài hoà kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài
sản ngắn hạn. Cân bằng tài chính này được đánh giá là tốt và an toàn
+ Nếu TSNH ≤ NNH chứng tỏ doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cân đối
giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng một phần
nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Cân bằng tài chính này được
đánh giá không tốt và không an toàn
Mối quan hệ giữa tài sản dài hạn và nợ dài hạn
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 17 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
+ Nếu TSDH ≥ NDH lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn
chủ sở hữu thì điều này là hợp lý, doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích nợ dài hạn
và cả vốn chủ sở hữu. Nhưng nếu như phần thiếu hụt được bù đắp bằng nợ ngắn hạn
thì điều này là bất hợp lý như trình bày ở phần cân đối tài sản ngắn hạn và nợ ngắn
hạn.
+ Nếu TSDH ≤ NDH : Doanh nghiệp sử dụng 1 phần nợ dài hạn để tài trợ cho
tài sản ngắn hạn. Hiện tượng này vừa lãng phí lãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử
dụng sai mục đích nợ dài hạn dẫn tới lợi nhuận kinh doanh giảm và rối loạn tài
chính của doanh nghiệp
ra bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu. Tỷ số này càng cao chứng tỏ trình độ sử dụng vốn
chủ sở hữu càng tốt và ngược lại. Đây là chỉ số tài chính quan trọng nhất và thiết thực
nhất đối với chủ sở hữu.
1.2.3.1.2. Phân tích các chỉ tiêu thành phần ảnh hưởng đến hiệu qủa tài chính
Đẳng thức Dupont thứ nhất
ROE
=
Lợi nhuận sau thuế
TTS bình quân
=
Lợi nhuận sau thuế
x
DTT bình quân
DTT bình quân TTS bình quân
= ROS x Vòng quay TTS
Từ đẳng thức trên ta thấy, ROA chịu ảnh hưởng của hai nhân tố là: ROS và VQTTS.
Muốn tăng ROA cần tăng ROS và vòng quay TTS.
Để tăng ROS: cần phấn đấu tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí và tăng giá bán.
Để tăng vòng quay tổng tài sản: cần phấn đấu tăng doanh thu bằng cách giảm giá bán
và tăng cường các hoạt động xúc tiến bán hàng.
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 19 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
Bằng phương pháp thay thế liên hoàn chúng ta có thể xác định được mức độ ảnh
hưởng của hai nhân tố này
Đẳng thức Dupont thứ hai
ROE
=
Lợi nhuận sau thuế
VCSH bình quân
=
ROS x VQ TTS x
TTS bình quân
VCSH bình quân
ROE phụ thuộc vào 3 nhân tố: ROS, ROA và tỷ số TTSbq/ VCSH
bq
.
Các nhân tố này có thể ảnh hưởng cùng chiều hoặc trái chiều nhau đối với ROE.
Phân tích Dupont là xác định ảnh hưởng của 3 nhân tố này đến ROE của doanh nghiệp để
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 20 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
tìm hiểu nguyên nhân làm tăng, giảm chỉ số này. Bằng việc tiến hành phương pháp thay
thế liên hoàn ta sẽ làm rõ ảnh hưởng của từng nhân tố với chỉ số này.
1.2.3.1.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiếu thành phần
Lợi nhuận biên - Sức sinh lợi trên doanh thu - ROS:
Chỉ số này cho biết trong một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho chủ sở hữu.
ROS =
LNST
=
DT - Tổng CP - Thuế TNDN
DTT DTT
+ Phân tích doanh thu
Doanh thu là một chỉ tiêu tài chính quan trọng. Khi phân tích doanh thu ta cần
so sánh giữa các chỉ tiêu biến động trên với doanh thu thuần để đánh giá hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp tăng hay giảm so với kỳ trước hay so với doanh
nghiệp khác là cao hay thấp.
Doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hóa tiêu thụ trong kỳ không phân
biệt đã thu tiền hay chưa và trừ đi phần chi phí hoa hồng chiết khấu, giảm giá hay
hàng bán bị trả lại. Doanh thu thuần đơn vị sản phẩm hàng hoá là nhân tố có quan hệ
cùng chiều với lợi nhuận gộp trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi.
TSNH
bq
VQTSNH cao chứng tỏ TSNH có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị
nhàn rỗi và không bị giam giữ trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
VQTSNH cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu tiết kiệm được chi phí sản xuất
và giảm được lượng vốn đầu tư.
VQTSNH thấp là do tiền mặt bị nhàn rỗi nhiều, công tác thu hồi khoản phải thu
kém, quản lý vật tư không tốt, quản lý sản xuất chưa tốt và công tác bán hàng chưa tốt.
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 22 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
+ Vòng quay hàng tồn kho
VQHTK =
DTT
HTKbq
Giá trị HTKbq là bình quân của khoản muc HTK giữa đầu kỳ và cuối kỳ trên bảng
cân đối kế toán.
Vòng quay hàng tồn kho cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu doanh nghiệp
tiết kiệm được chi phí trên cơ sở sử dụng tốt các tài sản khác. Vòng quay hàng tồn kho
thấp chứng tỏ công tác quản lý vật tư, tổ chức sản xuất, tổ chức bán hàng chưa tốt.
Kỳ luân chuyển HTK =
360 ngày
VQHTK
Kỳ luân chuyển HTK phản ánh số ngày trung bình của một VQHTK. Số ngày
trong kỳ được quy định là 360 ngày. Số ngày một VQHTK càng nhỏ chứng tỏ VQHTK
càng lớn, hiệu quả hoạt động kinh doanh được đánh giá là tốt.
+ Vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân
VQKPT =
DTT
Khoản phải thu
bq
Ta xem xét tỷ trọng của vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn, so sánh giữa kỳ này
với kỳ trước cả về số tuyệt đối lẫn tương đối. Thực chất là phân tích biến động và cơ cấu
nguồn vốn
Tỷ suất tự tài trợ =
NVCSH
Tổng NV
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập về
mặt tài chính của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài
chính càng cao, hầu hết các tài sản mà doanh nghiệp hiện đang có đều được đầu tư bằng
nguồn vốn của mình.
SV: Đỗ Thị Minh Phương Trang 24 Lớp: QTTC K52
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Đại Thắng
1.2.3.2. Phân tích an toàn tài chính
Khả năng thanh toán tổng quát
Khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà doanh nghiệp
đang quản lý và sử dụng với tổng nợ phải trả. Nó cho phép chúng ta đánh giá một cách
nhanh nhất về tình hình và năng lực thanh toán của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất
định.
Chỉ số thanh toán tổng quát =
Tổng tài sản
Nợ phải trả
Để đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt yêu cầu đối với hệ số này luôn > 1, như thế thì
tổng tài sản của doanh nghiệp mới đủ để thanh toán các khoản nợ. Ngược lại nếu hệ số này < 1 thì đây là dấu
hiệu của sự phá sản của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán hiện hành
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là mối quan hệ giữa nợ ngắn hạn và TSNH. Tỷ
số khả năng thanh toán hiện hành thể hiện mức độ đảm bảo của TSNH với nợ ngắn hạn.
Bởi vì đ ể thanh toán nợ ngắn hạn thì doanh nghiệp phải dùng tài sản có thực của mình
bằng cách chuyển đổi bộ phận tài sản đó để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đó.
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành =