BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN THỤY ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN THỤY
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần
tại TP. Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện. Các kết
quả nghiên cứu chính của luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác. Tất cả những phần kế thừa cũng như tham khảo đều được
trích dẫn đầy đủ và trích dẫn nguồn gốc rõ ràng trong danh mục tài liệu tham khảo
Tác giả Nguyễn Văn Thụy
ii
MỤC LỤC
Trang bìa phụ Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục Hình, Bảng và Biểu đồ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1. Cơ sở nghiên cứu 1
1.1.1. Sự cần thiết của nghiên cứu 1
1.1.2. Khái quát tình hình cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam 3
1.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 10
2.4. Mô hình nghiên cứu lý thuyết về năng lực cạnh tranh của ngân hàng
thương mại 63
2.4.1. Các khái niệm nghiên cứu 63
2.4.1.1. Khả năng quản trị (Manangement capability - MC) 63
2.4.1.2. Khả năng marketing (Marketing Capability – MAC) 67
2.4.1.3. Khả năng tài chính (Financial Capapbility – FC) 69
2.4.1.4. Khả năng đổi mới sản phẩm – dịch v
ụ (Innovation Products-Services
Capability - IPSC) 71
2.4.1.5. Khả năng tổ chức phục vụ (Organization Service Capability – OSC) 72
2.4.1.6. Khả năng quản trị rủi ro ( Risk Management Capability – RMC) 73
2.4.2. Mô hình nghiên cứu lý thuyết 76
Tóm tắt chương 2 77
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 78
3.1. Nghiên cứu định tính 78
3.1.1. Mục đích 78
3.1.2. Phương pháp nghiên cứu 79
3.1.3. Kết quả nghiên cứu định tính 79
3.2. Xây dựng và phát triển thang đo 80
3.2.1. Phương pháp xây dựng thang đo 80
3.2.2. Phát triển thang đo năng lực cạnh tranh 81
3.2.2.1. Thang đo khả năng quản trị 81
3.2.2.2. Thang đ
o khả năng marketing 83
3.2.2.3. Thang đo khả năng tài chính 85
iv
4.2.2.1. Thang đo khả năng tài chính 116
4.2.2.2. Thang đo khả năng đổi mới sản phẩm – dịch vụ 117
v
4.2.2.3. Thang đo khả năng tổ chức phục vụ 119
4.2.2.4. Thang đo khả năng quản trị rủi ro 119
4.2.3. Kết quả CFA năng lực cạnh tranh của NHTM 120
4.2.4. Kết quả CFA kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM 123
4.2.5. Kết quả CFA đo lường mô hình tới hạn 124
4.3. Kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu bằng SEM 127
4.3.1. Kiểm định mô hình lý thuyết 127
4.3.2. Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết bằng Bootstrap 129
4.3.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 130
4.4. Kiểm định giá trị trung bình mẫu tổng thể 135
4.4.1. Giá trị trung bình mẫu tổng thể của các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh
của các NHTMCP trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 135
4.4.2. Kiểm định giá trị trung bình mẫu của các yếu tố cấu thành năng lực cạnh
tranh theo đặc điểm mẫu nghiên cứu 138
4.4.2.1. Theo giới tính 139
4.4.2.2. Theo độ tuổi 141
4.4.2.3. Theo trình độ chuyên môn 142
4.4.2.4. Theo thâm niêm làm việc 143
4.4.2.5. Theo thâm niên quản lý 144
Tóm tắt chương 4 146
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 147
5.1. Kết quả nghiên cứu 147
BP Bank Peformance
CAMEL
Capital Adequacy, Asset quality, Management
competence, Earnings strength, Liquidity ris
k
CBV Competence-
b
ased View
CFA Confirmatory Factor Analysis
CFI Comparative Fit Index
CIEM Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
COMPE Competitor responsiveness
CTTC Công ty tài chính
CUSRE Customer resposiveness
EFA Exploratory Factor Analysis
FC Finacial capabilit
y
GFI Goodness of Fit Index
IO Industrial Organization economic
IPSC Innovation Products-Services capability
LEC Leadership capabilities
MAC Marketing capabilities
MC Management capabilities
MO Market orientation
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương
m
ại
NHTMCP Ngân hàng thương
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Qui trình nghiên cứu 18
Hình 2.1: Mối quan hệ giữa nguồn lực của doanh nghiệp và duy trì lợi thế cạnh tranh 33
Hình 2.2: Các thực thể cơ bản trong quan điểm năng lực 36
Hình 2.3: Mối quan hệ giữa nguồn lực, khả năng và năng lực 39
Hình 2.4: Quan điểm hệ thống mở của công ty 41
Hình 2.5: Sự phát triển của nghiên cứu cạnh tranh dựa trên nguồn lực và năng lực 44
Hình 2.6: Chuỗi giá trị đầu tư nguồn lực và khả năng 46
Hình 2.7: Chuỗi giá trị đầu tư các nguồn lực và khả năng của công ty - giai đoạn 6 47
Hình 2.8: Chuỗi giá trị của ngân hàng thương mại 49
Hình 2.9: Xu hướng nghiên cứu quản lý và đo lường kết quả hoạt động kinh doanh 61
Hình 2.10 : Mô hình nghiên cứu 76
Hình 4.1: Kết quả CFA thang đo khả năng lãnh đạo (chuẩn hoá) 109
Hình 4.2. Kết quả CFA thang đo khả năng tổ chức nhân sự (chuẩn hoá) 111
Hình 4.3: Kết quả CFA (chuẩn hoá) thang đo Khả năng quản trị 112
Hình 4.4: Kết quả CFA thang đo khả năng marketing (chuẩn hoá) 114
Hình 4.5: Kết quả CFA thang đo khả năng tài chính (chuẩn hoá) 117
Hình 4.6: Kết quả CFA thang đo khả năng đổi mới sản phẩm-dịch vụ (chuẩn hoá) 118
Hình 4.7: Kết quả CFA thang đo khả năng tổ chức phục vụ (chuẩn hoá) 119
Hình 4.8: Kết quả CFA thang đo khả năng quản trị rủi ro (chuẩn hoá) 120
Hình 4.9: Kết quả CFA thang đo năng lực cạnh tranh (chuẩn hoá) 121
Hình 4.10: Kết quả CFA thang đo kết quả kinh doanh của NHTM (chuẩn hoá) 123
Hình 4.11: Kết quả CFA mô hình tới hạn (chuẩn hoá)
125
Hình 4.12: Kết quả SEM mô hình lý thuyết (chuẩn hoá) 128
Bảng 4.7: Hệ số tin cậy tổng hợp các thang đo năng lực cạnh tranh 123
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các nhân tố trong mô hình tới hạn 126
Bảng 4.9: Hệ số tin cậy tổng hợp các nhân tố trong mô hình tới hạn 127
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong mô hình
lý thuyết (chưa chuẩn hoá) 129
x
Bảng 4.11: Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1000 130
Bảng 4.12: Hệ số hồi quy chuẩn hoá của mô hình lý thuyết 131
Bảng 4.13: Tóm tắt kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 135
Bảng 4.14: Giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố năng lực cạnh tranh của
NHTMCP trên địa bàn TP.HCM 136
Bảng 4.15: So sánh giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng lực
cạnh tranh của các NHTMCP tại TP.HCM với giá trị trung bình thang đo 137
Bảng 4.16: Kiểm định sự khác biệt giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của từng cặp yếu
tố năng lực cạnh tranh 138
Bảng 4.17: Giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của các yếu tố năng lực cạnh tranh
NHTMCP theo giới tính 140
Bảng 4.18: Kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố năng
lực cạnh tranh của NHTMCP theo giới tính 141
Bảng 4.19: Kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố năng
lực cạnh tranh của NHTMCP theo độ tuổi 142
Bảng 4.20: Kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố năng
lực cạnh tranh của NHTMCP theo trình độ chuyên môn 143
Bảng 4.21: Kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố năng
lực cạnh tranh của NHTMCP theo thâm niên làm việc 144
Bảng 4.22: Kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố năng
lực cạnh tranh của NHTMCP theo thâm niên quản lý
vững ngay trên “sân nhà” đòi hỏi các doanh nghiệp của trong nước phải không
ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh so với doanh nghiệp trong nước mà còn cả với
các doanh nghiệp nước ngoài. Các ngân hàng không có khả năng cạnh tranh sẽ được
thay thế bằng các ngân hàng có năng lực tốt hơn, điều này cho thấy chỉ có các ngân
hàng có năng lực cạnh tranh cao nhất mới có lợi thế về cạnh tranh.
Ở Việt Nam quá trình thực hiện cơ cấu lại hệ thống ngân hàng trong giai đoạn
1990 – 2010 và đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 –
2015 theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ, đã
tạo ra cho ngành ngân hàng nhiều thay đổi lớn cả về số lượng, quy mô và chất lượng,
đây là những tiền đề cơ bản ban đầu đáp ứng các cam kết đã ký trong lộ trình hội
nhập của lĩnh vực ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng bước
vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công trong
quá trình hội nhập, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bộc lộ một số bất cập
như trình độ quản trị, nguồn nhân lực còn yếu, tỷ lệ nợ xấu gia tăng, thanh khoản
thấp…dẫn đến năng lực cạnh tranh chưa cao. Thực trạng này đặt ra vấn đề cấp bách
phải tái cấu trúc hệ thống các ngân hàng thương mại từ đó năng cao năng lực cạnh
tranh. Do vậy, trong môi trường cạnh tranh và đòi hỏi của hội nhập như hiện nay, hệ
thống ngân hàng không những phải duy trì được sự ổn định trong hoạt động của
mình mà còn phải có năng lực cạnh tranh đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng
2
và các định chế tài chính khác. Các ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn
Thành Phố Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài những đòi hỏi này.
Mặt khác, khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra rất phức tạp và nhiều
ngân hàng thương mại tại Mỹ và Châu Âu đã phải đóng cửa, phá sản hoặc hợp nhất.
Từ năm 2000 đến nay, theo thống kê của Bảo hiểm tiền gửi liên bang của Mỹ (2014)
(FDIC - Federal Deposit Insurance Corporation) đã có 538 ngân hàng trên thế giới
phá sản, chỉ riêng giai đoạn 2011 – 2014 đã có 183 ngân hàng tuyên bố phá sản. Đây
nó” (Sanchez & Heene, 1996, 2004). Như vậy, tiếp cận dựa trên nguồn lực dựa vào
lợi thế nguồn lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh còn tiếp cận dựa trên
năng lực thì dựa vào khả năng kết hợp các nguồn lực để tạo ra năng lực - đòi hỏi
doanh nghiệp phải năng động, hệ thống, nhận thức và toàn diện trong quản lý chiến
lược (Sanchez, 2008). Bản chất của năng lực cạnh tranh đã được chuyển hướng chú
trọng vào năng lực thay vì nguồn lực (Sanchez & Heence, 1996, Sanchez, 2001;
Freiling & ctg, 2008). Theo quan điểm dựa trên năng lực của doanh nghiệp thì năng
lực là chìa khóa để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững và đạt hiệu quả cao (Grant,
1996; Jackson, Hitt & DeNisi, 2003; Teece, Pisano & Shuen, 1997; Sanchez &
Heence, 1996, 2004; Sanchez, 2008). Như vậy, năng lực cạnh tranh trở thành một
tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng trong môi
trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng.
Ngoài ra, để đặt vấn đề nghiên cứu trong một bối cảnh cụ thể, ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam và các chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần tại
Thành phố Hồ Chí Minh được lựa chọn để nghiên cứu bởi vì còn thiếu những nghiên
cứu thực nghiệm về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và TP. Hồ Chí
Minh là thành phố tập trung hầu hết tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần
(NHTMCP) Việt Nam đang hoạt động tại đây.
1.1.2. Khái quát tình hình cạnh tranh các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng cả
về số lượng lẫn quy mô. Số lượng ngân hàng từ 9 ngân hàng vào năm 1991 lên 74
ngân hàng vào năm 2001 và tới thời điểm 31/12/2013 là 98 ngân hàng. Trong đó, 1
ngân hàng thương mại quốc doanh, 37 ngân hàng TMCP, 4 ngân hàng liên doanh, 5
ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa kể văn
phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Như vậy, số lượng ngân
4
hàng tăng lên tập trung vào 2 khối là NHTMCP và các chi nhánh ngân hàng nước
29
48
51
1
4 4 4 4
0 0 0
5 5
9
74
75
96
98
1991 2001 2005 2010 2013
Biểu đồ 1.1: Số lượng NHTM Việt Nam 2013
Ngân hàng TMQD Ngân hàng TMCP Chi nhánh NHNN
Ngân hàng Liên doanh
Ngân hàng 100% vốn NN Tổng số ngân hàng
5
Cuộc cạnh tranh về thị phần càng trở nên gay gắt hơn khi quá trình tái cơ cấu
ngân hàng được đẩy nhanh để giải quyết vấn đề nợ xấu cũng như đáp ứng các tiêu
chuẩn quốc tế. Thêm vào đó, hiện khối NHTMNN tập trung chủ yếu vào cho vay các
tập đoàn, DNNN, trong khi khối NHTMCP tập trung cho vay DN nhỏ và vừa, khách
hàng cá nhân, trong khi khối ngân hàng ngoại t ích cực chào vay các doanh nghiệp
trong nước, thì khối ngân hàng nội cũng tích cực tiếp cận doanh nghiệp FDI.
Bên cạnh sự tăng trưởng về số lượng, quy mô hoạt động của các ngân hàng
cũng phát triển mạnh mẽ. Năm 2007, tổng tài sản của các ngân hàng là 1.500 ngàn tỷ
KHÁC
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
7
bán 85% cổ phần cho một nhóm các nhà đầu tư (do Tập đoàn Thiên Thanh đứng
đầu), và vụ sát nhập Ngân hàng TMCP Phương Tây (Western Bank) với Công ty Tài
chính Dầu khí (PVFC). Các nhà đầu tư nước ngoài đã tăng cư ờng sự hiện diện của
mình trong khu vực ngân hàng, với vụ mua lại 20% cổ phần của Ngân hàng Tiên
Phong của một nhóm các nhà đầu tư do DOJI đứng đầu Theo báo cáo kết quả tài chính năm 2013 của nhiều ngân hàng thương mại
cho thấy, đã bị lỗ hoặc sụt giảm mạnh về lợi nhuận. Nhiều NHTM phải cắt giảm
nhân sự, thu hẹp mạng lưới… để giảm chi phí. Hệ thống NHTM cũng đang bước vào
cuộc thanh lọc mạnh mẽ. Theo báo cáo của NHNN, lợi nhuận của toàn hệ thống
ngân hàng lũy kế đến hết tháng 11/2013 đạt 29.500 tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm
2012. Tuy nhiên, nếu so sánh với các năm 2010-2011, thì lợi nhuận trước thuế lũy kế
năm 2013 chỉ bằng 53% -64%. Đặc biệt, có tới 17% ngân hàng lỗ trong năm 2013.
Nhìn chung, trong năm 2013 trên 50% số ngân hàng giảm lợi nhuận so với năm
2012. Do tình hình kinh tế khó khăn trong giai đoạn 2010 – 2013, các doanh nghiệp
tiếp tục gặp khó khăn nên không vay thêm và chỉ tập trung duy trì và ổn định sự hoạt
động. Theo tổng cục Thống kê số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc
ngừng hoạt động năm 2013 là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước,
133.749
176.856
91.273
9.373
2.174
Đến hết năm 2013, ROA, ROE của các ngân hàng cũng chưa được cải thiện,
đều giảm so với năm 2012 khi chỉ đạt lần lượt 0.53% và 5,6%. So với năm 2012 đã
giảm trên 50% ROA và trên 40% ROE. Nguyên nhân chủ yếu là chênh lệch lãi suất
đầu ra, đầu vào giảm mạnh, chi phí dự phòng rủi ro, tập trung là rủi ro tín dụng trong
hoạt động cho vay tăng mạnh, trong khi chất lượng dự phòng giảm sút. Tỷ lệ an toàn
vốn CAR đến 31/12/2013 đạt 13,25% giảm mạnh so với mức 13,75% của cuối tháng
12/2012. Trong đó, CAR của khối ngân hàng thương mại Nhà nước đạt 10.91%,
khối ngân hàng thương mại cổ phần đạt 12,56%. Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn
vốn huy động tại thị trường 1 của toàn hệ thống đạt 84,71%.
CTG VCB STB EIB SHB ACB BID MBB NVB TECH EAB
Tổng tài sản
576.368 468.994 161.378 169.835 143.626 166.599 548.386 180.381 29.074 158.896 74.919
Tiền gửi khách hàng
364.497
332.246
131.645
79.472
90.761
138.111
338.902
136.089
18.377
119.977
65.086
Vốn chủ sở hữu
54.075 42.386 17.064 14.680 10.356 12.504 32.040 15.148 3.204 13.920 5.884
Thu nhập lãi thuần
18.277
10.782
180.381
29.074
158.896
74.919
54.075
42.386
17.064
14.680
10.356
12.504
32.040
15.148
3.204
13.920
5.884
5.808
4.378
2.229
0.659
0.850
0.826
4.051
2.286
0.018
0.659
0.328
0.000
100.000
200.000
300.000
soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại như thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân
loại nợ (có hiệu lực từ tháng 6 năm 2014), bên cạnh đó Quyết định số 493/2005/QĐ-
2.90%
3.20%
3.00%
2.00%
3.50%
2.20%
2.60%
3.40%
4.08%
4.67%
4.73%
3.79%
0.00%
0.50%
1.00%
1.50%
2.00%
2.50%
3.00%
3.50%
4.00%
4.50%
5.00%
12/200412/200512/200612/200712/200812/200912/201012/201112/2012 4/2013 10/201312/2013
Biểu đồ 1.6: Tỷ lệ nợ xấu của NHTMVN giai đoạn 2004 - 2013
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
10
11
người, (3) cảm nhận danh tiếng của tổ chức, (4) kiểm soát nội bộ, (5) quan hệ lao
động, và (6) văn hoá tổ chức có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của tổ chức.
Kết quả cho thấy cả 6 yếu tố đều có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của tổ
chức.
(2) Nghiên cứu của Aziz & ctg (2006) về cạnh tranh nguồn lực của các nhà
đầu tư phát triển nhà tư nhân tại Malaysia đã xếp hạng các nguồn lực để tạo ra năng
lực cạnh tranh của các nhà đầu tư phát triển địa ốc của Malaysia với 14 yếu tố (Vị trí
đắc địa; dòng tiền; Đánh giá tiềm năng thị trường; Mối quan hệ với chính quyền;
Quản trị cấp cao; tổ chức và dịch vụ uy tín; Khả năng quản lý thay đổi; Mối quan hệ
với các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ có năng lực; nhân viên có tay nghề cao; quản lý
rủi ro và khủng hoảng; Chiến lược và chính sách của tổ chức; Đào tạo và phát triển
nhân viên; Bí mật thương mại và dự án đổi mới; Một phần của tập đoàn lớn). Trong
đó, tập trung vào 3 nhóm là: quản trị, tổ chức và mạng lưới tạo ra năng lực cạnh
tranh của các nhà phát triển nhà tư nhân tại Malaysia.
(3) Nghiên cứu của Thompson, Strickland & Gamble (2007) đã đ ề xuất các
yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh tổng thể của một doanh nghiệp dựa trên 10 yếu
tố (Hình ảnh/uy tín, công nghệ, mạng lưới phân phối, khả năng phát triển và đổi mới
sản phẩm, chi phí sản xuất, dịch vụ khách hàng, nguồn nhân lực, tình hình tài chính
và trình độ quảng cáo, khả năng quản lý thay đổi). Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ
xây dựng các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đánh giá nó
dựa trên phương pháp cho điểm nhằm so sánh năng lực giữa các doanh nghiệp mà
chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố này đến kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
(4) Nghiên cứu của Aboagye-Debrah (2007) về tình hình cạnh tranh, tăng
trưởng và hiệu quả của ngành ngân hàng tại Ghana đã phân tích các y ếu tố cạnh
tranh về thị phần cho vay và huy động vốn và mức độ tập trung thị trường của các
doanh của doanh nghiệp trên thế giới tập trung vào các các doanh nghiệp và đã đ ề
xuất một số yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Riêng trong lĩnh
vực ngân hàng thì các nghiên cứu tập trung vào đánh giá năng lực cạnh tranh chỉ dựa
trên góc độ tài chính thông qua các chỉ tiêu CAMEL mà chưa đánh giá các yếu tố
như nguồn nhân lực, quản trị, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, quản trị rủi ro.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
13
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc cần phải đẩy mạnh khả năng cạnh tranh
và nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại thời kỳ hội nhập,
trong thời gian qua đã có m ột số tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu về vấn đề
này được tóm tắt dưới đây:
(1) Nghiên cứu của Trịnh Quốc Trung (2004) đã phân tích năng lực cạnh
tranh của NHTMVN trên các khía cạnh: sản phẩm; chất lượng sản phẩm-dich vụ; giá
cả của sản phẩm dịch vụ; yếu tố tạo thuận tiện cho khách hàng (mạng lưới; thời gian
phục vụ; phong cách và kỹ năng phục vụ, gia tăng sự lựa chọn cho khách hàng); các
hoạt động Marketing; công nghệ hiện đại; thu hút nhân viên. Tuy nhiên, đề tài chỉ
dừng lại phân tích định tính truyền thống mà chưa xác định được sự ảnh hưởng của
từng yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, đề tài chưa xây dựng thang đo
cho từng yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh.
(2) Nghiên cứu của Lê Đình Hạc (2006), Luận án đã đánh giá năng l ực cạnh
tranh của NHTMVN thông qua 2 khía cạnh: 1/ Năng lực cạnh tranh thông qua các
phương thức cạnh tranh (qua các yếu tố: tính đa dạng danh mục dịch vụ tài chính;
chất lượng dịch vụ; giá cả dịch vụ; khả năng tạo cơ hội tiếp cận, thu hút khách hàng);
2/ Đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua các yếu tố tiềm năng (bao gồm: chất
lượng nguồn nhân lực; trình độ công nghệ; tiềm lực tài chính; chiến lược kinh doanh;
khả năng sinh lời; độ an toàn; thị phần). Như vậy, đề tài đã đề xuất và phân tích năng
lực cạnh tranh cả ở năng lực cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ và các yếu tố nội tại của