CHƯƠNG V: PHƯƠNG PHÁP XUẤT KHẨU & HỆ THỐNG PHÂN
PHỐI HÀNG HÓA
(Export Method and Distribution System)
Phương pháp xuất khẩu thông thường nhất là bán gián tiếp và bán trực tiếp. Trong trường
hợp bán gián tiếp nhà xuất khẩu phải thông qua các tổ chức hoặc cá nhân để làm trung
gian. Trong việc bán hàng trực tiếp, nhà xuất khẩu phải làm ăn trực tiếp với một nhà nhập
khẩu nước ngoài.
Ðể quyết định nên xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp, doanh nghiệp xuất khẩu cần phải
xem xét một số yếu tố như sau:
· Tầm vóc của công ty.
· Ðặc tính của sản phẩm do công ty làm ra.
· Kinh nghiệm về xuất khẩu đã qua và khả năng chuyên môn của công ty.
· Các điều kiện về kinh doanh tại các thị trường đã được tuyển chọn ở nước ngoài.
I. XUẤT KHẨU GIÁN TIẾP
Loại hình này giúp cho các công ty nhỏ có một phương thức để thâm nhập vào thị trường
nước ngoài mà không phải đương đầu với những rắc rối và rủi ro như trong xuất khẩu trực
tiếp.
Nhà sản xuất có thể xuất khẩu gián tiếp thông qua các tổ chức hoặc cá nhân như sau:
· Công ty quản lý xuất khẩu.
· Khách hàng ngoại kiều.
· Nhà ủy thác xuất khẩu.
· Nhà môi giới xuất khẩu.
· Hãng buôn xuất khẩu.
II. XUẤT KHẨU TRỰC TIẾP
Thuận lợi: các lợi thế đối với một công ty trực tiếp xuất khẩu là kiểm soát được nhiều
hơn tiến trình xuất khẩu, có khả năng thu được nhiều lợi nhuận và nắm được một cách chặt
chẽ hơn mối quan hệ với người mua bên ngoài và thị trường liên quan.
Khó khăn: công ty mất nhiều thời gian, tốn nhiều nhân sự và sử dụng nhiều nguồn tài
lực của công ty hơn xuất khẩu gián tiếp.
Một nhà xuất khẩu trực tiếp thường tuyển chọn kỹ các thị trường mà họ muốn thâm nhập
vào, chọn ra các hệ thống phân phối riêng cho mỗi thị trường.
2.6 Bán hàng trực tiếp cho người sử dụng sau cùng:
Một công ty xuất khẩu có thể bán sản phẩm hoặc dịch vụ của mình trực tiếp cho người sử
dụng hoặc tiêu dùng sau cùng ở nước ngoài. Những người mua hàng trực tiếp này có thể là
các chính phủ nước ngoài, các cơ quan như bệnh viện, trường học hoặc các doanh nghiệp.
Thông thường mỗi sản phẩm bán ra nước ngoài phải kèm theo sự bảo đảm, bảo hành hoặc
dịch vụ kèm theo nhà xuất khẩu có thể tổ chức nhờ hệ thống phân phối của mình ở nước
ngoài để thực hiện các dịch vụ trên.
III. PHÂN PHỐI SẢN PHẨM XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Nhìn chung, tình hình xuất khẩu ở Việt Nam trong những năm qua như sau:
· Mạng lưới bạn hàng, khách hàng hẹp, nhiều trường hợp phải thông qua trung gian.
· Quy mô hoạt động còn hạn chế nên các công ty chưa có tham vọng hình thành một
mạng lưới tiêu thụ ở nước ngoài, việc tiêu thụ sản phẩm của công ty được xem như
chấm dứt khi hàng rời khỏi Việt Nam.
Mặt khác, vì hoạt động đa dạng, đa ngành hàng nên phần lớn các công ty không thể đi vào
chuyên sâu nhằm phát huy sở trường của mình ở lãnh vực nhất định nào.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật trang bị làm hàng xuất khẩu thiếu đồng bộ, lạc hậu, hệ
thống kho chuyên dùng để bảo quản, dự trữ còn quá kém... Những hạn chế này ảnh hưởng
đến tổ chức phân phối hợp lý hàng xuất khẩu đến các phân đoạn của thị trường .