Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
MỤC LỤC
Lê Mạnh Cường CQ490286
1
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
LỜI MỞ ĐẦU
Phân phối là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng của mỗi doanh
nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay các
công ty sử dụng nhiều trung gian phân phối thực hiện các chức năng khác nhau để
đảm bảo hiệu quả trong việc đưa sản phẩm của công ty đến tay người tiêu dùng sau
cùng. Vì thế, để một công ty hoạt động có hiệu quả thì ban lãnh đạo công ty phải tìm
mọi cách để quản lý tốt nhất hệ thống phân phối của mình, làm sao đảm bảo hệ thống
phân phối hoạt động hiệu quả nhất, luôn đưa được hàng hoá tới người tiêu dùng sau
cùng một cách thuận tiện nhất, đồng thời thoả mãn lợi ích của các thành viên trong
kênh phân phối tốt nhất.
Quyết định về phân phối trở thành một trong những quyết định quan trọng
nhất mà ban lãnh đạo công ty phải thông qua. Các kênh phân phối mà công ty lựa
chọn sẽ ảnh hưởng tới các quyết định khác trong chính sách marketing hỗn hợp của
công ty, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Vì thế
việc thường xuyên nghiên cứu, nắm rõ tình hình hoạt động của hệ thống phân phối là
hết sức cần thiết đối với bất cứ công ty nào.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp phát triển dịch vụ
logistics nhằm hoàn thiện mạng lưới phân phối hàng hóa ở nước ta hiện nay dựa trên
cơ sở thực trạng hệ thống phân phối trong quá trình phát triển của nền kinh tế nước
ta.
Đối tượng nghiên cứu là việc tìm ra các giải pháp phát triển dịch vụ logistics
trong hệ thống phân phối hàng hóa dựa trên phân tích thực trạng của hệ thống phân
phối hàng hóa nước ta hiện nay.
Kết cấu đề tài gồm ba chương:
Chương I: Tổng quan về dịch vụ logistics trong hệ thống phân phối hàng
hóa
còn có quan niệm khác nhau. Mặc dù vậy, nhưng tất cả đều có một số quan niệm
chung là:
- Nhấn mạnh đến vai trò của phân phối hàng hóa, đều coi phân phối hàng hóa
là nội dung quan trọng trong tổ chức hoạt động kinh doanh.
- Coi phân phối là hình thức vận động hàng hóa từ người sản xuất đến người
tiêu dùng hoặc người sử dụng cuối cùng, là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các
công ty để cùng thực hiện một mục đích thương mại, là các hình thức bán buôn, bán
lẻ, bán đại lý …
- Hoạt động phân phối cơ bản bao gồm việc khởi tạo tổ chức nguồn hàng,
quản lý dự trữ, tổ chức và thiết kế kênh phân phối bán lẻ hay bán qua trung gian, vận
chuyển hàng hóa, quan hệ với các tổ chức, cá nhân bên ngoài doanh nghiệp.
Từ đó có thể hiểu: “Phân phối là hoạt động liên quan đến quá trình đưa sản
phẩm từ người sản xuất (người nhập khẩu) đến người sử dụng (tiêu dùng) cuối cùng”.
1.2 Quan niệm về hệ thống phân phối hàng hóa
Theo lý thuyết Macxit về thương mại (phân phối và lưu thông) được trình bày
trong nhiều tác phẩm, mà cơ sở lý luận của nó là lý luận về phân công lao động xã
hội, lý luận giá trị và lý luận giá trị thặng dư. Trong những tác phẩm đó, các nhà kinh
điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin, đặt thương mại (mà trực tiếp là hệ thống phân phối
Lê Mạnh Cường CQ490286
4
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
hàng hóa) là một khâu trong tổng thể 4 khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, là kết
quả tất yếu của phân công lao động xã hội. Quá trình tái sản xuất xã hội theo Mác bao
gồm các khâu: sản xuất- phân phối- trao đổi và tiêu dùng. Lý luận và thực tế cho thấy
các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, mỗi khâu có một vị trí nhất định song giữa
chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong đó, sản xuất là khâu xuất phát có vai
trò quyết định đối với các khâu tiếp theo. Tiêu dùng là khâu cuối cùng của quá trình
tái sản xuất xã hội. Tiêu dùng gắn với khách hàng, giữ vai trò là mục đích của sản
xuất. Còn phân phối, trao đổi là khâu trung gian nối liền sản xuất với tiêu dùng. Vì
vậy hàng hóa sau khi sản xuất ra muốn đến tay người tiêu dùng nhất thiết phải thông
cùng và họ được gọi là các thành viên của hệ thống” [Quản trị kênh phân phối – nhà
xuất bản thống kê 2004].
Có thể nói trong nền kinh tế thị trường, các quan niệm trên thường nhấn mạnh
và đề cao vai trò của hệ thống phân phối hàng hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng. Với
cách đặt vấn đề như vậy, tôi quan niệm:
Hệ thống phân phối là một tập hợp các tổ chức, cá nhân, cơ sở vật chất kỹ
thuật tham gia vào quá trình đưa hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất (nhập khẩu)
đến người tiêu dùng; là quá trình tạo nguồn hàng, quản lý dự trữ, vận chuyển hàng
hóa, giao nhận và bán hàng hóa với chi phí thấp và tối đa hóa lợi nhuận.
2. Đặc điểm dịch vụ logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa
Về bản chất, dịch vụ logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa có những nét
rất khác biệt, khiến các nhà phân phối không thể bỏ qua. Những dặc điểm đó là:
- Là sản phẩm vô hình, chất lượng dịch vụ rất khó đánh giá, vì nó chịu nhiều
tác động như người bán, người mua và cả thời điểm mua bán dịch vụ ấy. Có những
sản phẩm là một quá trình thực hiện đồng thời rất nhiều khâu rất nhiều công việc. Ví
dụ như : logistics và dịch vụ logistics tron ghệ thống phân phối. Logistics là một quá
trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm
đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho tới tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua
hàng lọat các hoạt động kinh tế.
- Là sản phẩm vô hình, dịch vụ có sự khác biệt về chi phí so với các sản phẩm
vật chất. Nó là sản phẩm không thể cầm nắm được, không thể định mức được NVL
như đối với sản phẩm vật chất cho nên chi phí của nó cũng rất khác so với sản phẩm
vật chất thông thường.
- Dịch vụ không thể cất trữ trong kho, làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi
nhu cầu thị trường như các sản phẩm vật chất khác ... Do đặc điểm sản xuất và tiêu
dùng của sản phẩm dịch vụ phải diễn ra đồng thời, tức sản xuất được sản phẩm dịch
vụ nào sẽ tiêu thụ hết ngay nên đã nảy sinh thêm đặc điểm dịch vụ không thể cất trữ.
- Dịch vụ logistics là một hệ thống các hoạt động nhằm tối ưu hoá mọi công
việc, mọi thao tác từ khâu cung ứng , sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm chứ
1. Sơ lược về logistics
Thuật ngữ logistics đã có từ khá lâu trong lịch sử.Lần đầu tiên logistics được
phát minh và ứng dụng không phải trong hoạt động thương mại mà là trong lĩnh vực
quân sự.Logistics được các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi trong hai cuộc Đại chiến
thế giới để di chuyển lực lượng quân đội cùng các vũ khí có khối lượng lớn và đảm
bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến.Sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, các
chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng logistics của họ trong
hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu chiến. Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics ngày
càng được nghiên cứu và áp dụng sâu vào lĩnh vực kinh doanh.Có rất nhiều khái
Lê Mạnh Cường CQ490286
7
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
niệm khác nhau về logistics cũng như dịch vụ logistics được đưa ra bởi các tổ chức,
cá nhân nghiên cứu về lĩnh vực này.
Theo Hội đồng quản trị Logistics của Mỹ (CLM) thì "Quản trị logistics là quá
trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả chi phí lưu thông, dự trữ
nguyên vật liệu, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng dòng thông tin
tương ứng từ điểm xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích
đáp ứng yêu cầu của khách hàng".
Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, thì logistics là quá trình tối ưu hoá về vị
trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là
nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối
cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (xem logistics and supply chain
management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime University,
1999).
Theo ông Nguyễn Hùng, Phó Tổng Giám Đốc Công ty Kho vận miền Nam
(Sotrans): Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát một cách hiệu quả
những luồng lưu thông và khối lượng tồn kho của hàng hóa, dịch vụ và những thông
tin liên quan đến chúng.
Theo quan điểm "5 đúng" thì :"Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm
suốt từ quá trình sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp.
Qua các quan niệm ở trên có thể chia khái niệm dịch vụ logistics thành hai
nhóm như sau:
Thứ nhất, nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương
mại 2005, coi logistics gần tương tự với giao nhận hàng hoá. Tuy nhiên trong đó có
tính mở, thể hiện trong đoạn "hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá".
Theo nhóm này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho
quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Theo đó, dịch vụ
logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics không có nhiều
khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức(MTO).
Thứ hai, nhóm định nghĩa dịch vụ logistics theo phạm vi rộng, có tác động từ
giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hoá tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo
nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật
liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hoá và đưa vào các kênh
lưu thông, phân phối để tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này về
Lê Mạnh Cường CQ490286
Quá
trình
sản
xuất
(sản
xuất và
lắp ráp)
Đóng
gói
Kho
lưu
trữ
thành
phẩm
ngắn:quần áo, giầy dép, thực phẩm...
+ Logistics cho ngành ôtô
+ Logistics cho ngành hoá chất
+ Logistics cho ngành điện tử.
+ Logistics cho ngành dầu khí...
- Theo nghị định số 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ, dịch vụ logistics được
phân thành 3 nhóm:
+ Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm:
Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hoá, bao gồm cả hoạt động kinh doanh
kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan
và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hoá.
Lê Mạnh Cường CQ490286
10
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt cả chuỗi logistics;
hoạt động xử lý lại hàng hoá bị khách hàng trả lại, hàng hoá tồn kho, hàng hoá quá
hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.
+ Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
Dịch vụ vận tải hàng hoá
Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
Dịch vụ vận tải hàng không;
Dịch vụ vận tải đường sắt;
Dịch vụ vận tải đường bộ;
Dịch vụ vận tải đường ống;
+ Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:
Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;
Dịch vụ bưu chính;
Về phân phối hàng hoá, các doanh nghiệp lớn có thế mạnh trong việc cung
ứng dịch vụ vận chuyển hàng hoá có khối lượng lớn, hàng theo kế hoạch, hàng siêu
trường, siêu trọng thì các doanh nghiệp nhỏ lại có lợi thế trong cung ứng dịch vụ vận
chuyển hàng thông thường như hàng bách hoá, hàng rời, hàng container có khối
lượng nhỏ và đặc biệt là thầu việc phân phối các sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi
tiêu thụ trong nội địa cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc vận chuyển
máy móc, thiết bị, hàng công trình ra vào các cảng Việt Nam theo yêu cầu của khách
hàng.
2. Nhóm những nhân tố chung
2.1.Yếu tố chính trị, pháp luật
Trong kinh doanh hiện đai, các yếu tố chính trị, pháp luật ngày càng có ảnh
hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế thị trường có sự
điều tiết của Nhà nước hiện nay là nền kinh tế phổ biến trên thế giới. Khi tham gia
vào kinh doanh, để thành công trên thương trường thì các doanh nghiệp phải không
những nắm vững pháp luật trong nước mà còn phải hiểu và nắm vững pháp luật quốc
tế tại thị trường mà mình kinh doanh. Đồng thời với việc nắm vững luật pháp thì các
doanh nghiệp cũng phải chú ý tới môi trường chính trị. Chính trị có ổn định thì sẽ
giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh của mình. Các yếu
tố cơ bản thuộc môi trường chính trị, pháp luật là:
- Sự ổn định về chính trị và đường lối ngoại giao.
- Sự cân bằng của các chính sách của Nhà nước.
- Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế xã hội.
- Hệ thống pháp luật và mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật...
Trước năm 2005, luật pháp Việt Nam chưa hề có quy định về việc kinh doanh
dịch vụ logistics cũng như các hình thức dịch vụ logistics. Đến tận khi luật Thương
mại được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và nghị định 140/2007/NĐ-CP của
Lê Mạnh Cường CQ490286
12
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
Chính phủ mới có quy định chi tiết về các dịch vụ logistics và điều kiện kinh doanh
logistics càng phong phú, chất lượng dịch vụ logistics càng được nâng cao. Khi đề
Lê Mạnh Cường CQ490286
13
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
cập đến vấn đề cạnh tranh, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics phải xem xét
xem đối thủ của mình là ai, số lượng bao nhiêu, mức độ cạnh tranh thế nào. Trong
thời gian qua cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước là định
hướng mở cửa kinh doanh dịch vụ logistics. Số lượng các doanh nghiệp logistics
được mở ngày càng nhiều và dẫn đến cạnh tranh trong ngành ngày một gay gắt hơn
không chỉ các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước mà còn có sự
góp mặt của nhiều doanh nghiệp logistics nước ngoài.
2.5. Yếu tố khách hàng
Khách hàng chiếm vị trí trung tâm trong mọi hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, để hoạt động có
hiệu quả thì các doanh nghiệp phải bán được hàng tức là phải có khách hàng thuê
dịch vụ logistics. Khách hàng của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics chủ
yếu là các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics
lớn thì ngành dịch vụ logistics mới phát triển được. Hiện nay không ít doanh nghiệp
tự mình thực hiện các hoạt động logistics mà không thuê dịch vụ ngoài. Vì vậy,
ngành dịch vụ logistics muốn phát triển thì phải cho các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh thấy được lợi ích to lớn của việc sử dụng dịch vụ logistics.
2.6. Hệ thống thông tin
Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống thu thập thông tin về các yếu tố thuộc
môi trường vĩ mô, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nguồn hàng...Đối với doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì yếu tố thông tin là quan trọng.Thu thập được
thông tin thiết thực, kịp thời giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhiều cơ hội tốt trong
kinh doanh. Cũng từ đó có các quyết định, các chính sách và chiến lược kinh doanh
thích hợp.
3. Kết luận
Như vây, qua nghiên cứu tổng thể các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của
đặc trưng chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: nhà nước quản lý hệ thống phân phối hàng hóa (mà thực chất là
phân phối hiện vật) bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu gắn với hệ thống chỉ tiêu
pháp lệnh chi tiết dội từ trên xuống dưới. Do đó hoạt động phân phối hàng hóa của
các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu pháp lệnh hoặc là các quyết định của
cơ quan quản lý nhà nước cấp trên từ phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, đến địa
chỉ phân phối, địa chỉ tiêu thụ sản phẩm, đến việc xác định giá cả, và cả đến việc sắp
xếp tổ chức bộ máy.
Thứ hai: các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp quá sâu vào hệ thống phân
phối, nhưng lại không chịu trách nhiệm về vật chất đối với các quyết định không
đúng của mình. Với cách làm đó, nhà nước đã vi phạm yêu cầu của các quy luật kinh
tế khách quan vi phạm quyền tự chủ của các doanh nghiệp đang thực thi chức năng
phân phối lưu thông, gây ra những thiệt hại buộc ngân sách nhà nước phải gánh chịu.
Thứ ba: Trong mô hình và cơ chế kế hoạch hóa chỉ huy tập trung quan liêu bao
cấp, các phạm trù kinh tế và các quy luật kinh tế của kinh tế tập trung hầu như bị lãng
Lê Mạnh Cường CQ490286
15
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
quên. Chính nó đã làm cho hệ thống phân phối hàng hóa bị biến dạng, sự vận động của
hệ thống phân phối hàng hóa ngày càng xa rời bản chất đích thực vốn có của quan hệ
hàng hóa – tiền tệ, làm mất đi tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đưa nền
kinh tế chìm sâu trong chế độ bao cấp, trong cơ chế ”xin cho” và cơ chế “lãi nộp nhà
nước, lỗ nhà nước chịu” kéo dài. Điều kiện này biểu hiện:
-Bao cấp qua giá là hình thức mang tính phổ biến và nghiêm trọng nhất đối
với hệ thống phân phối hàng hóa vật tư, máy móc thiết bị.
-Bao cấp qua tiền lương, biến tiền lương thành tiền lương hiện vật, làm phá vỡ
nguyên tắc phân phối theo lao động, vi phạm quy luật giá trị bởi việc thiết lập một hệ
thống qua phân phối hàng hóa với giá quá thấp so với giá trị của nó được thực hiện
dưới hình thức tem phiếu đối với hàng tiêu dùng.
-Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn từ ngân sách nhà nước theo cơ chế “xin cho”,
trường mà ở đó hệ thống phân phối hàng hóa ngành thương mại hoạt động.
2.1. Một số vấn đề cơ bản về cơ chế kinh tế vận hành của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN – cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước XHCN
2.1.1. Cơ chế thị trường
• Khái niệm: cơ chế thị trường là kiểu điều tiết sự vận hành nền kinh tế mà
trong đó các nhà sản xuất, nhà kinh doanh và các hộ tác động qua lại với nhau để giải
quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế đặt ra.
Cơ chế thị trường phát sinh và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển
của kinh tế thị trường. Do vậy, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có thị
trường và theo đó có cơ chế thị trường. Tổng quan các khái niệm của nhiều sách,
nhiều tác giả, luận văn cho rằng có thể hiểu cơ chế thị trường là tổng thể các yếu tố
tác động giữa các chủ thể tham gia mua bán trong nền kinh tế thị trường, chịu sự chi
phối bởi các quy luật kinh tế vốn có của kinh tế thị trường, để tự điều tiết mối quan
hệ cung cầu thông qua việc phân phối hàng hóa, dịch vụ từ nơi sản xuất tới người tiêu
dùng trong nền kinh tế thị trường.
• Cơ chế thị trường cấu thành bởi các yếu tố như cung, cầu, cạnh tranh và
giá cả thị trường tác động tới hoạt động kinh doanh thương mại, đến hệ thống phân
phối hàng hóa. Dưới đây là các yếu tố và tác động của nó:
Một là, cạnh tranh, một yếu tố cơ bản, một nguyên tắc, một quy luật kinh tế của
kinh tế thị trường. Cạnh tranh mà sự tác động của nó mang tính 2 mặt: động lực thúc
đẩy lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật nghệ phát triển, đây là mặt mang tính trội
thể hiện một sự cạnh tranh lành mạnh và chỉ có sự cạnh tranh lành mạnh – một sự cạnh
tranh đúng pháp luật, hiệu quả và thẩm định tính nhân văn – mới là động lực, một sự
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cần coi trọng.
Hai là, giá cả thị trường, tín hiệu của cơ chế thị trường. Giá cả thị trường lấy
giá trị thị trường (của một ngành) làm cơ sở, đồng thời có tính đến giá cả sản xuất tức
giá trị thị trường liên ngành – vì giá cả thị trường đầu ra của ngành này là giá cả thị
trường đầu vào của ngành kia. Ví dụ: giá xăng dầu, giá điện cao hay thấp liên quan
Lê Mạnh Cường CQ490286
17
- Nhà nước thực thi vai trò điều tiết nền kinh tế thông qua các chức năng như:
định hướng sự phát triển; vạch hành lang pháp lý; tạo môi trường kinh tế, chính trị,
xã hội thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh
doanh; thực hiện chức năng công bằng xã hội.
Lê Mạnh Cường CQ490286
18
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
- Nhà nước thực hiện mục tiêu và chức năng của mình không phải bằng các
công cụ mang tính mệnh lệnh như cơ chế cũ, mà bằng các công cụ kinh tế vĩ mô như:
kế hoạch hóa, luật pháp, chính sách và cơ chế kinh tế, chính sách xã hội và thực lực
kinh tế của nhà nước trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế khách quan.
Bằng những nội dung trên, nhà nước XHCN điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh
tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng phát triển theo mô hình kinh tế thị trường
định hướng XHCN trong từng thời kỳ ở nước ta.
2.2. Những đặc trưng của hệ thống phân phối hàng hóa ngành thương mại
trong thời kỳ cơ chế thị trường ở nước ta
Có thể nói hệ thống phân phối hàng hóa của ngành thương mại trong thời kỳ
này khác về cơ bản so với thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp. Điều đó biểu hiện ở các đặc trưng sau:
• Chuyển hệ thống phân phối hàng hóa từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp sang hệ thống phân phối hàng hóa dựa trên việc mua bán hàng hóa theo
cơ chế thị trường, giá cả thị trường được hình thành trên cơ sở giá trị thị trường và
quan hệ cung cầu. Hệ thống phân phối hàng hóa thời kỳ này đã chịu sự chi phối, tác
động theo quỹ đạo của các quy luật kinh tế thị trường, nên có tiêu chuẩn khách quan
để đánh giá kết quả hoạt động đúng đắn và khách quan hệ thống phân phối hàng hoá
trong các doanh nghiệp thương mại.
• Trạng thái chia cắt khép kín theo địa giới hành chính, mang nặng tính tự cấp
tự túc của hệ thống phân phối hàng hóa trước đây đã chuyển sang trạng thái mới,
trạng thái mà ở đó hệ thống phân phối hàng hóa dựa trên nguyên tắc tự do kinh tế (tự
chủ, tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, tự do lưu thông) và mở cửa theo các quy luật
1. Giai đoạn 2001-2005
Đây là thời kỳ hoạt động giao nhận kho vận, đặc biệt là giao nhận vận tải quốc
tế đã có những bước chuyển biến đáng kể, gần như các công ty nhà nước chiếm ưu
thế và làm đại lý cho các công ty giao nhận vận tải có quy mô toàn cầu nước ngoài.
Tuy vậy, khối lượng thuê ngoài dịch vụ giao nhận kho vận chỉ ở mức 25%, phần còn
lại các doanh nghiệp chủ hàng tự tổ chức đầu tư phương tiện hoặc tự làm.
Là một ngành kinh doanh còn mới mẻ trong phân phối hàng hóa, khó cạnh
tranh bình đẳng với các công ty nước ngoài nên ngành giao nhận kho nói chung và
giao nhận trong phân phối bán buôn bán lẻ nói riêng được nhà nước bảo hộ và
khuyến khích phát triển. Cùng với hệ thống 9.063 chợ truyền thống đang hoạt động,
các loại hình phân phối hàng hóa hiện đại theo mô hình của các nước tiên tiến (gồm
cả siêu thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng tiện dụng, trung tâm thương mại …) đã cải
cách mạnh mẽ hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam.
Nếu cuối năm 2000, tại Việt Nam mới chỉ có gần 50 siêu thị và trung tâm
thương mại nằm ở một vài tỉnh, thành phố thì sau 5 năm con số này đã tăng lên gần
200, đang hoạt động tại 25/64 tỉnh, thành phố và có khoảng 600 cửa hàng bán hàng
Lê Mạnh Cường CQ490286
20
Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta
theo phương thức tự chọn. Đó là chưa kể cả nước đang có khoảng 20 siêu thị và 35
trung tâm thương mại đang triển khai xây dựng.
Phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp cũng hiện đại và chủ động
hơn, đó là tự xây dựng chiến lược đầu tư lâu dài cho sản xuất, tạo nguồn hàng ổn
định mang tính cạnh tranh cao. Do vậy, chỉ sau 5 năm hình thành và phát triển, loại
hình phân phối hàng hóa hiện đại đã làm một cuộc hành trình đảo ngược, từ 60%
hàng nhập khẩu trong thời gian đầu, đến nay đã giảm xuống chỉ còn khoảng 30%,
thậm chí ở một số ngành hàng, hàng VN đã chiếm tới 85%.
Bình quân mỗi hệ thống siêu thị có 2.000-3.000 nhà cung cấp hàng hóa là các
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước. Siêu thị đang trở thành kênh quảng bá
thương hiệu quan trọng cho hàng Việt Nam và là một trong những mục tiêu mà nhiều