Đề tài: Giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại công ty cổ phần thương
mại Hải Phòng –Hanosimex.
A. Lời Mở Đầu
Công ty cổ phần thương mại Hải Phòng-Hanosimex là một trong
những công ty được ra đời từ rất sớm của thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên
sự phát triển của công ty lại chưa tương xứng với tiềm năng và bề dày lịch
sử của nó. Mặc dù hoạt động trong một lĩnh vực logistics một lĩnh vực có tỷ
suất lợi nhuận cao nhưng hoạt động đó chưa đem lại hiệu quả như mong
muốn. Do đã trải qua một quá trình tương đối dài thực tập và làm việc tại
công ty, được sự giúp đỡ của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sơn cùng toàn thể các cán
bộ công nhân viên công ty tôi, xin đề xuất một số giải pháp phát triển dịch
vụ logistics tại công ty cổ phần thương mại Hải Phòng - Hanosimex. Đây
chỉ là ý kiến chủ quan của tôi khi có tham khảo mô hình và cách thức tổ
chức hoạt động của một số công ty cung cấp dịch vụ logistics hàng đầu thế
giới. Trong quá trình thực hiện đánh giá và đưa ra các giải pháp không thể
tránh khỏi những thiếu xót rất mong có được sự tham gia góp ý của thầy
giáo, tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sơn cùng ban lãnh đạo công ty, để các giải pháp
này có thể hoàn thiện hơn, có tính ứng dụng trong thực tế. Điều này sẽ giúp
công ty nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập, tạo doanh
thu, lợi nhuận lớn hơn tương xứng với tiềm năng hiện có.
Em xin trân thành cám ơn sự giúp đỡ của tiến sỹ Nguyễn Ngọc Sơn, cùng
các cán bộ công nhân viên trong công ty đã giúp đỡ em hoàn thành bài khoá
luận này.
B, Nội Dung
Chương I
Cơ sơ lý luận về dịch vụ logistics vai trò của dịch vụ logistics đối với
công ty cổ phần thương mại Hải Phòng –Hanosimex
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm logistics
Khái niệm :Logistics là nghệ thuật và khoa học của quản lý và điều
chỉnh luồng di chuyển của hàng hoá, năng lượng, thông tin và những nguồn
logistics trong kinh doanh. Một thì đánh giá một cách lạc quan, đơn giản coi
đó như là sự chu chuyển ổn định của nguyên liệu trong mạng lưới vận
chuyển và lưu trữ một phía thì coi đó là sự kết hợp giữa các nguồn lực để
tiến hành cả quá trình. Các hãng sản xuất kinh doanh ứng dụng Logistics
vào ngay từ phần lập kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu để đưa vào sản
xuất, trong quá trình sản xuất và trong khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm.
Họ có thể ứng dụng Logistics để phân công dây chuyền sản xuất, chuyên
môn hoá sản xuất bố trí, bố trí các cơ sở, các công ty con, các chi nhánh ở
trong nước hoặc nước ngoài để nhằm mục đích mua nguồn nguyên vật liệu
thuận lợi, thuê nhân công với giá rẻ, đưa hàng đi tiêu thụ nhanh chóng đến
các thị trường có nhu cầu, do đó mà đạt được mục tiêu giá rẻ, thuận tiện và
bán được nhiều sản phẩm, thu được nhiều lợi nhuận. Các công ty lớn ngày
càng nghiên cứu ứng dụng Logistics ở mức độ cao hơn. Đã có một số hãng
đạt được mô hình sản xuất tối ưu. Toàn bộ quá trình sản xuất – lưu thông –
tiêu dùng của nền sản xuất hàng hoá được mô hình hoá như sau:
(Sơ đồ chuỗi cung ứng)
(nguồn )
Trên thực tế, các hoạt động của quá trình này còn phức tạp hơn nhiều. Ngày
nay, nền sản xuất hiện đại, với sự phát triển của kinh tế quốc tế và thương
mại toàn cầu, đã mở rộng nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ Logistics.
Trong quá trình sản xuất
Chủ yếu áp dụng trong nghành công nghiệp mục đích của nó là đảm
bảo mỗi một máy móc thiết bị hay trạm làm việc được ‘nạp’ đủ sản phẩm
với đúng số lượng, chất lượng và đúng lúc. Vấn đề như vậy không phải là
chỉ liên quan đến việc vận chuyển, mà còn là phâm luồng và điều chỉnh các
kênh xuyên suốt quá trình gia tăng giá trị và xoá bỏ những giá trị không gia
tăng. Logistics trong quá trình sản xuất được ápdụng cho cả những nhà máy
đang tồn tại hoặc mới được thành lập. Sản xuất chế tạo là một nhà máy với
quá trình thay đổi ổn định ( có thể hiểu là một nhà máy thì luôn phải hoạt
động nhưng với một công suất ổn định). Máy móc được thay đổi vày thay
kinh doanh của đơn vị. Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các
khâu công việc để thực hiện hợp đồng, đơn vị kinh doanh XNK phải cố gắng
tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ
nghiệp vụ giao dịch. Do vậy sự lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ logistics
là giải pháp tối ưu cho các doanh nghiệp giúp doanh nghiệp chỉ tập trung
vào lĩnh vực thế mạnh của mình, tối đa hoá lợi nhuận. Đến nay đã có rất
nhiều hình thức tổ chức hoạt động của dịch vụ logistics.
• Logistics bên thứ nhất (1 PL) người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ
chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản
thân.
Logistics bên thứ hai (2 PL) người cung cấp dịch vụ Logistics bên
thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ của
Logistics (vận tải, kho bãi, thanh toán,…) để đáp ứng nhu cầu của chủ
hàng, chưa có tích hợp hoạt động Logistics
• Logistics bên thứ ba (3 PL) là người thay mặt cho chủ hàng quản lý
và thực hiện các dịch vụ Logistics, do đó 3 PL tích hợp các dịch vụ
khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý
thông tin,… trong dây chuyền cung ứng.
• Logistics bên thứ tư (4 PL) – là người tích hợp chịu trách nhiệm quản
lý dòng lưu chuyển Logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung
ứng, hoạch định, tư vấn Logistics, quản trị vận tải,… 4 PL hướng đến
quản trị cả quá trình Logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ
tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
• Logistics bên thứ năm (5 PL) Gần đây, cùng với sự phát triển của
thương mại điện tử, người ta đã nói đến khái niệm Logistics bên thứ
năm (5 PL). 5 PL phát triển nhằm phục vụ cho Thương mại điện tử,
các nhà cung cấp dịch vụ 5 PL là các 3 PL và 4 PL, đứng ra quản lý
toàn chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử.
Nếu theo tính chất thì hoạt động logistics gồm:
• Logistics đầu vào
Trước khi dỡ hàng, tàu hoặc đại lý phải cung cấp cho cảng bản lược
khai hàng hoá, sơ đồ hầm tàu để cảng và các cơ quan chức năng khác như
Hải quan, điều độ, cảng vụ tiến hành các thủ tục cần thiết và bố trí phương
tiện làm hàng.Cảng và đại diện tàu tiến hành kiểm tra tình trạng hầm tàu.
Nếu phát hiện thấy hầm tàu ẩm ướt, hàng hoá ở trong tình trạng lộn xộn hay
bị hư hỏng, mất mát thì phải lập biên bản để hai bên cùng ký. Nếu tàu không
chịu ký vào biên bản thì mời cơ quan giám định lập biên bản mới tiến hành
dỡ hàng. Dỡ hàng bằng cần cẩu của tàu hoặc của cảng và xếp lên phương
tiện vận tải để đưa về kho, bãi. Trong quá trình dỡ hàng, đại diện tàu cùng
cán bộ giao nhận cảng kiểm đếm và phân loại hàng hoá cũng như kiểm tra
về tình trạng hàng hoá. Hàng sẽ được xếp lên ô tô để vận chuyển về kho theo
phiếu vận chuyển có ghi rõ số lượng, loại hàng, số B/L. Cuối mỗi ca và sau
khi xếp xong hàng, cảng và đại diện tàu phải đối chiếu số lượng hàng hoá
giao nhận. Lập bản kết toán nhận hàng với tàu, cảng và tàu đều ký vào bản
kết toán này, xác nhận số lương thực giao so với Bản lược khai hàng (Cargo
Manifest) và B/L. Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận như
Giấy chứng nhận hàng hư hỏng (COR) nếu hàng bị hư hỏng hay yêu cầu tàu
cấp Phiếu thiếu hàng (CSC), nếu tàu giao thiếu.
1.3.3.2 Cảng giao hàng cho chủ hàng:
Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn gốc,
giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng. Hãng tàu
hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3 bản cho người nhận hàng. Chủ
hàng đóng phí lưu kho, phí xếp dỡ và lấy biên bản, chủ hàng mang biên lai
nộp phí, 3 bản lệnh và danh mục hàng đến văn phòng quản lý tàu tại cảng
để ký xác nhận lệnh và tìm vị trí hàng.
Sau khi hải quan xác nhận hoàn thành thủ tục hải quan chủ hàng có
thể mang ra khỏi cảng và chở hàng về kho riêng. Ðối với hàng không lưu
kho, bãi tại cảng. Khi chủ hàng có khối lượng hàng hoá lớn chiếm toàn bộ
hầm hoặc tàu hoặc hàng rời như phân bón, xi măng, clinker, than quặng,
thực phẩm…thì chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác có thể đứng ra
Nếu tính cước theo trọng lượng, cũng cần ghi rõ trọng lượng tính cước phí
theo số lượng hàng xếp lên tàu ở cảng xếp hay theo số lượng hàng giao ở
cảng đến. Người thuê phải trả toàn bộ tiền cước cho chủ tàu sau khi xếp
xong hàng hoặc sau khi ký B/L một số ngày do hai bên quy định nếu bán
theo CIF, CF. Người thuê tàu có thể trả cước phí sau, thời điểm trả có thể ấn
định tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên. Trả tiền trước khi mở hầm tàu để dỡ
hàng, trả đồng thời với việc dỡ hàng, trả sau khi dỡ xong hàng, trả trước một
phần và trả sau một phần. Việc giữ lại một phần tiền cước nhằm giúp người
thuê gây áp lực nếu có tranh chấp, thưởng phạt với hãng tàu. Hợp đồng cũng
phải quy định tiền cước được thanh toán tại ngân hàng nào, cách thức trả
tiền…
Khi tất cả các hợp đồng và thủ tục cần thiết được hoàn tất chủ tàu sẽ
gửi các bản thông báo cho bên thuê tàu gồm. Thông báo ngày dự kiến tàu
đến cảng. Việc thông báo ngày dự kiến tàu đến cảng trong một khoảng thời
gian ngắn (7,5,3 ngày) trước khi tàu đến cảng xếp dỡ là rất cần cho có đủ
thời gian làm thủ tục cho tàu ra vào cảng và chuẩn bị xếp dỡ hàng theo đúng
lịch trình đã quy định giữa hai bên chủ tàu và người thuê tàu. Thông báo sẵn
sàng xếp dỡ hàng. Thời gian đưa thông báo sẵn sàng xếp dỡ còn tuỳ thuộc
vào điều khoản về tàu đến bến.
Thưởng phạt về xếp dỡ:
Mức tiền bội thường hoặc phạt thường được quy định theo ngày hoặc
tấn dung tích đăng ký toàn phần của tàu mỗi ngày.
Nguyên tắc của phạt là khi đã phạt là luôn bị phạt ,tức các ngày sau đó dù là
ngày chủ nhật, ngày lễ, xấu hay tốt trời đều bị phạt.Mức thưởng thường chỉ
bằng 1/ 2 mức phạt. Tiền thưởng thường được tính theo ngày hoặc theo tỷ lệ
một phần của ngày, không hẳn ngày chẵn mà còn tính thêm giờ phút.
Tàu chợ không có tiền thưởng phạt về xếp dỡ nhanh chậm, chỉ có trong tàu
chuyến.Việc nảy sinh tranh chấp giữa hai bên ngoài hợp đồng hiện tại sẽ
được chuyển cho trọng tài do hai bên thoả thuận từ trước.Nói chung các hợp
đồng đều quy định chủ tàu phải chịu trách nhiệm tổn thất hư hỏng của hàng
phụ,nhận lại một phiếu xếp hàng để xếp hàng xuống tàu đã chỉ định.Nhân
viên nhận hàng của tàu ký xác nhận vào phiếu xếp hàng sau đó chuyển cho
bộ phận chuyên trách. Bộ phận chuyên trách cấp chính thức một vận đơn
hợp lệ cho người gửi hàng, có chữ ký của thuyền trưởng hay đại lý.
1.3.4.2 Cách thức thuê tàu chợ
Phải tập trung đủ số lượng hàng quy định rồi nghiên cứu lịch tàu chạy,
lịch này thường được đăng trên các báo và tạp chí. Từ đó, chọn hãng tàu có
uy tín và cước phí thấp sau đó lập bảng kê khai hàng và uỷ thác cho công ty
đại lý vận tải giữ chỗ trên tàu. Chủ hàng ký Ðơn xin lưu khoang với đại lý
sau khi hãng tàu đồng ýnhận chuyên chở, đồng thời đóng cước phí vận
chuyển. Sau đó giao hàng cho tàu và lấy vận đơn,thong báo cho người mua
biết về kết quả giao hàng
1.4 Các loại chứng từ có lien quan đến giao nhận vận tải.
Chứng từ là một văn bản có trong đó chứa các thông tin và cung cấp
bằng chứng cho sự việc và sự kiện .Với ý nghĩa như vậy chứng từ là căn cứ
quan trọng cho việc giao nhận và vận chuyển hàng hoá giữa nhà xuất khẩu
và nhà nhập khẩu.
1.4.1 Chứng từ sử dụng đối với hàng nhập khẩu
1.4.1.1 Chứng từ hải quan
Chứng từ hải quan là chứng từ theo quy định người chủ hang phải
xuất trình cho cơ quan hải quan khi hàng hoá đi qua biên giới quốc
gia.Những chứng từ phải xuất trình và phải nộp khi làm thủ tục hải quan cho
hàng xuất khẩu gồm. Một bản chính văn bản cho phép xuất khẩu (đối với
hàng xuất khẩu có điều kiện) để đối chiếu với bản sao phải nộp.Ba bản chính
tờ khai hải quan hàng xuất khẩu, một bản sao hợp đồng mua bán ngoại
thương hoặc giấy tờ có giá trị tương đương như hợp đồng, giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệp, bản
chính bản kê chi tiết hàng hoá. Một bản sao hợp đồng uỷ thác xuất khẩu.
Tờ khai hải quan
Tờ khai hải quan là một văn bản do chủ hàng, chủ phương tiện khai
cho người gửi hàng hay chủ hàng xác nhận tàu đã nhận hàng xong.Việc cấp
biên lai thuyền phó là một sự thừa nhận rằng hàng đã được xếp xuống tàu,
đã được xử lý một cách thích hợp và cẩn thận. Do đó trong quá trình nhận
hàng ngưòi vận tải nếu thấy tình trạng bao bì không chác chắn thì phải ghi
chú vào biên lai thuyền phó.Dựa trên biên lai thuyền phó, thuyền trưởng sẽ
ký phát vận đơn đường biển là tàu đẫ nhân hàng đển chuyên trở.
Bản lược khai hàng hoá
Đây là bản lược kê các loại hàng hoá xếp trên tàu để vận chuyểnđến
các cảng khác nhau, do đại lý tại cảng xếp hàng căn cứ vào vận đơn lập lên.
Bản lược khai phải chuẩn bị xong ngay khi xếp hàng cũng có thể lập
khiđang chuẩn bị ký vận đơn, phải lập xong và ký trước khi làm thủ tục cho
tàu rời cảng.BẢn lược khai cung câp số liệu thống kê về xuất khẩu cũng như
nhập khẩu và là cơ sở đẻ công ty vận tải dung để đối chiếu lúc dỡ hàng .
Phiếu kiểm đếm
Dock sheet là một loại phiếu kiểm đếm tại cầu tàu trên đó ghi số
lượng hàng hoá giao nhận tại cầu.
Tally sheet là phiếu kiểm đếm hàng hoá đã xếp lên tàu do nhân viên
kiểm đếm chịu trách nhiệm ghi chép.
Phiếu kiểm đém là một chứng từ gốc về số lượng hàng hoá được xếp
lên tàu. Do đó bản sao của phiếu kiêm đếm phải được cho thuyền phó phụ
trách về hàng hoá một bản để lưu giữ, nó cần thiết cho những khiếu lại tố
cáo sau này.
Sơ đồ xếp hàng
Đây chính là bản vẽ vị trí sắp xếp hàng trên tàu.Nó có thể dung màu
sắc khác nhau đánh dấu hàng của từng cảng khác nhau để dễ theo dõi, kiểm
tra khi dơ hàng lên xuống các cảng.KHi nhận đựoc bản dăng ký hàng
chuyên chở do chủ hàng gửi tới, thuyền trưởng cùng nhân viên điều độ sẽ
lập sơ đồ xếp hàng, mục đích là nhằm sư dụng một cách hợp lý các khoang,
hầm chứa hàng trên tàu.
1.4.1.3 Chứng từ khác
nhận bảo hiểm.
1.4.1.4 Chứng từ sử dụng đối với hàng nhập khẩu bằng đường biển
Khi thay mặt nhà nhập khẩu nhận hàng từ tầu biển, người giao nhận
phải xuất trình và lập nhiều loại chứng từ. Để tiện cho việc theo dõi ta chia
các chắng từ này thành 2 nhóm:
Chứng từ bắt buộc theo quy định của Nhà Nước trong giao nhận hàng xuất
khẩu. Chứng từ phát sinh trong giao nhận hang xuất khẩu.Các chứng từ phải
nộp hoặc xuất trình để thông quan hàng nhập khẩu gồm cũng giống như các
chứng từ trong giao nhận hàng hoá xuất khẩu. Quy trình và thủ tục giao
nhận cũng tương tụ đối với hàng hoá xuất khẩu. Chỉ khác nhau ở một số chi
tiết nhỏ. Khi làm thủ tục hải quan cho hàng nhập khẩu, người giao nhận chỉ
cần nộp một bản sao vận đơn đường biển. Thế nhưng khi nhận hàng trực tiếp
từ tàu thì phải sử dụng bản gốc vì bản gốc cảu vận đơn cung cấp bằng chứng
về quyền sở hữu hàng hóa. Ngoài ra còn có một số chứng từ phát sinh trong
giao nhận hàng nhập khẩu. Khi giao nhận hàng nhập khẩu, người giao nhận
phải tiến hành kiểm tra, phát hiện thiếu hụt, mất mát, tổn thương hang hóa
để kịp thời giúp đỡ người nhập khẩu khiếu nạn đòi bồi thường.Việc đòi bồi
thường phải dựa vào các biên bản như, biên bản kết toán nhận hàng với tàu,
biên bản kê khai hàng thừa thiếu, biên bản hàng hư hỏng đổ vỡ biên bản
giám định phẩm chất, biên bản giám định số lượng/trọng lượng, biên bản
giám định cảu công ty bảo hiểm.
Như vậy giao nhận vận tải hang hóa xuất khẩu chuyên chở bằng
đường biển là nghiệp vụ phức tạp trong buôn bán quốc tế. Hợp đồng xuất
khẩu chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động giao nhận vận tải thực hiện.
Hợp đồng xuất nhập khẩu là hợp đồng thay đổi quyền sở hữu, song quyền sở
hữu di chuyển như thế nào phải cần đến giao nhân vận tải hàng hoá. Chính
vì vật giao nhận hàng vận tải đóng vai trò hết sức quan trọng trong buôn bán
quốc tế.
1.4 Sự cần thiết của dịch vụ logistics tại công ty cổ phần thương mại Hải
tiêu thụ sản phẩm. Một khi nhà máy có thể tháo gỡ khó khăn trước mắt và
từng bước mở rộng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy mảng dịch vụ phát triển mạnh
mẽ hơn.
Chương II Thực trạng hoạt động logistics tại công ty cổ phần thương
mại Hải Phòng –Hanosimex
2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty cỏ phần thương mại Hải Phòng-
Hanosimex
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
Công ty Cổ phần thương mại Hải Phòng-Hanosimex, tiền thân là trạm
vật tư thuộc Bộ Công Nghiệp chuyên nhập các nguyên vật liệu phục vụ cho
ngành sản xuất dệt may ,và một số ngành khác.Được thành lập từ năm 1964
đến nay đã được hơn bốn mươi năm hình thành và phát triển trải qua nhiều
thăng trầm công ty cũng có những tên gọi và thuộc nhiều đơn vị chủ quản
khác nhau. Được Bộ Công Nghiệp chuyển giao về tổng công ty dệt may Việt
Nam với chức năng nhiệm vụ chính là nhập khẩu các nguyên phụ liệu cho
ngành may và thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến xuất nhập khẩu cho
ngành dệt may.Gần đây công ty lại được chuyển giao về làm đơn vị trực
thuộc của công ty HANOSIMEX với nhiệm vụ chính là nhâp nguyên liệu
cho tổng công ty và tham gia một số chức năng mang tính chất tự doanh như
vận tải ,tờ khai hải quản ,cho thuê kho tàng bến bãi.Đến ngày 27-11 năm
2006 Bộ trưởng bộ công nghiệp đã ký quyết định số 3376/QĐ-BCN về việc
phê duyệt phương án chuyển công ty sản xuất-xuất nhập khẩu Dệt May Hải
Phòng của tổng công ty Dệt May Ha Nội thành công ty cổ phần thương mại
Hải Phòng-HANOSIMEX.
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ
2.1.2.1 Chức năng , nhiệm vụ
• Chịu trách nhiệm nộp các loại thuế và các nghĩa vụ tài chính khác
theo quy định của luật pháp
• Chịu trách nhiệm trước nhà nước về hoạt động kinh doanh của
công ty
Đưa ra các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị
bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính
gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công
ty
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với
Giám đốc và người quản lý quan trọng khác do điều lệ công ty quy định,
quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó, cử người
đại diện theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở
công ty khác, quyết định mức thù lao và lợi ích khác của những người đó.
Giám sát, chỉ đạo Giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công
việc kinh doanh hằng ngày của công ty
Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định
thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn,
mua cổ phần của doanh nghiệp khác.
2.1.3.2 Ban giám đốc
Điều hành mọi hoạt động của công ty, quyết định các vấn đề lien quan
đến công việc kinh doanh hằng ngày của công ty bao gồm việc thay mặt
công ty ký kết các hợp đồng kinh tế, tổ chức điều hành hoạt động kinh
doanh thường nhật theo những thông lệ quản lý tốt nhất.
Tổ chức thực hiện các quyết định của hội đồng quản trị, thực hiện các
kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty đã được hội đồng
quản trị thông qua, nếu trái pháp luật, điều lệ công ty và các quyết định của
đại hội cổ đông thì có thể từ chối nhưng việc từ chối này phải làm thành văn
bản gửi hội đồng quản trị.
Xây dựng trình hội đồng quản trị phê duyệt cơ cấu tổ chức, phương án
thay đổi tổ chức, thành lập hoặc giải thể các đơn vị thuộc công ty, trình hội
đồng quản trị quy chế quản lý nội bộ. Báo cáo tổng công ty và cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài
chính tổng hợp, bảng cân đối tài sản của công ty theo quy định của nhà nước
Điều tra trực tuyến
Tham gia quản lý, điều hành vốn của HTPC- Hanosimex lien kết
kinh doanh
2.1.3.3 Các phòng ban chức năng
Phòng tổ chức hành chính
Tham mưu cho giám đốc về công tác tổ chức cán bộ, đào tạo, chế độ
chính sách, hành chính, phục vụ sức khỏe đời sống cán bộ công nhân viên và
công tác đổi mới doanh nghiệp.
Tuyển chọn, bố trí, sắp xếp, điều chuyển, đề bạt, bổ nhiệm, miễn
nhiệm cán bộ. Đánh giá, nhận xét cán bộ, thực hiện các chế độ chính sách
liên quan đến cán bộ. Lập kế hoạch tổ chức, thực hiện công tác đào tạo cán
bộ công nhân viên. Triển khai, tổ chức và theo dõi tất cả các hoạt động liên
quan tới việc tuyển dụng lao động, thỏa ước lao động tập thể, chế độ về bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm lao động, khen thưởng, kỷ luật. Quản lý các chế độ
chính sách về tiền lương, công tác y tế chăm sóc sức khỏe.
Chịu trách nhiệm trước giám đốc về mọi hoạt động khen thưởng, kỷ
luật công nhân viên, quản lý công tác xây dựng, củng cố lực lượng tự vệ, an
ninh, an toàn trong công ty. Quản lý việc lập kế hoạch, mua sắm trang thiết
bị, phương tiện làm việc, phối hợp với các đơn vị tổ chức các phong trào văn
hóa, văn nghệ, thể thao.
Phòng kế hoạch thị trường
• Phòng kế hoạch thị trường là đơn vị thực thuộc cơ quan, giám đốc
công ty. Có chức năng tham mưu cho giám đốc công ty về công tác
xây dựng và kiểm soát thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Công tác triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO, công
tác mạng máy tính và công tác đầu tư xây dựng cơ bản của công ty.
• Xây dựng, triển khai báo cáo công tác kế hoạch sản xuất kinh
doanh, thực hiện xuất nhập khẩu và uỷ thác xuất nhập khẩu nguyên
vật liệu, sản phẩm ngành dệt may và các mặt hàng khác theo đăng
ký kinh doanh của công ty.