QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 27

.

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
---------
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: “QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI”
Giảng viên: TS.GVC. Nguyễn Trọng Tài
Sinh viên: Nguyễn Thu Hà
Lớp: A1C
Khoa: Tài chính ngân hàng
Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
Hà Nội, 20/04/2011
MỤC LỤC
Phần 1
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ
RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THUONG MẠI
I. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1. Khái niệm về rủi ro
1.1. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
2. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
II. Quản trị rủi ro thanh khoản
1. Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản
2. Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản
3. Các nguyên nhân dẫn dến rủi ro thanh khoản
3.1. Nhóm nguyên nhân khách quan
3.2. Nhóm nguyên nhân chủ quan
4. Ðánh giá trạng thái thanh khoản
5. Chiến lược quản trị thanh khoản
5.1. Ðuờng lối chung về quản trị thanh khoản

Phần 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ
RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THUONG MẠI
I. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
1. Khái niệm về rủi ro: Có nhiều định nghia khác nhau về rủi ro, nhưng nhìn chung
có thể chia làm hai quan diểm sau:
Theo quan điểm truyền thống:
Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố khác liên quan dến
nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con nguời. Xã hội loài
nguời càng phát triển, hoạt dộng của con nguời càng đa dạng, thì nhiều loại rủi ro mới phát
sinh.
Theo quan điểm trung hoà:
Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường duợc. Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa
mang tính tiêu cực, theo nghĩa rủi ro có thể mang đến cho con nguời những tổn thất, mất
mát, nguy hiểm, nhung cũng có thể mang dến những cơ hội, thời co không ngờ. Nếu tích
cực nghiên cứu, nhận dạng rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng
ngừa, hạn chế mặt tiêu cực và tận dụng, phát huy mặt tích cực do rủi ro mang tới.
. 1.1. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng duợc hiểu là những biến cố không mong dợi
mà khi xãy ra sẽ dẫn dến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so
Nguyễn Thu Hà – A1C Page 3
Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí dể có thể hoàn thành duợc một nghiệp
vụ tài chính nhất dịnh.
Các loại rủi to trong kinh doanh ngân hàng:
Có bốn loại rủi ro co bản trong kinh doanh ngân hàng:
 Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân
hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả duợc nợ hoặc trả nợ không
dúng hạn cho ngân hàng.
 Rủi ro tỷ giá hối doái: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ
hoặc kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến dộng theo chiều huớng bất lợi cho ngân hàng.

Quản trị rủi ro thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản
(tính lỏng) của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục của nguồn vốn.
Bản chất của hoạt dộng quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàng có thể dúc kết ở
hai nội dung sau:
Một là, hiếm khi nào tại một thời diểm mà tổng cung thanh khoản bằng với tổng
cầu thanh khoản. Do vậy, ngân hàng phải thuờng xuyên dối mặt với tình trạng thâm hụt
hay thặng du thanh khoản.
Hai là, thanh khoản và khả nang sinh lời là hai dại luợng tỷ lệ nghịch với nhau, nghia
là một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả nang sinh lời của tài sản dó càng thấp và
nguợc lại; một nguồn vốn có tính thanh khoản càng cao thì thuờng có chi phí huy dộng càng
lớn và do dó, làm giảm khả nang sinh lời khi sử dụng dể cho vay. Ngân hàng cần dự trữ
thanh khoản dể chi trả những chi phí thuờng xuyên, nhu lãi tiền gửi..., và cả những cú sốc
thanh khoản không mong dợi, nhu một cuộc rút tiền gửi hàng loạt hay yêu cầu vay vốn lớn.
Một ví dụ diển hình cho cú sốc thanh khoản là nhiều nguời dổ xô dến ngân hàng rút tiền ở
cùng một thời diểm. Trong hoàn cảnh dó, hầu nhu không một ngân hàng nào có thể dáp ứng
hết những yêu cầu này và dễ dẫn dến nguy co sụp dổ, ngay cả khi ngân hàng dó chua mất
khả nang thanh toán. Tất nhiên, khả nang dự trữ thanh khoản kém chua hẳn sẽ dua dến sự
sụp dổ của một ngân hàng, nhung chắn chắc, ngân hàng sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí lớn
dể ứng phó với một cú sốc thanh khoản không luờng truớc. Và diều dó sẽ làm giảm dáng kể
lợi nhuận của ngân hàng và suy dến cùng khả nang sụp dổ là hoàn toàn có thể.
Thanh khoản mang ý nghia thời diểm rất lớn, theo nghia, một số yêu cầu thanh khoản
là tức thời hoặc gần nhu tức thời. Chẳng hạn, một khoản tiền gửi lớn dến hạn và khách hàng
không có ý dịnh tiếp tục duy trì số vốn này tại ngân hàng; khi dó, ngân hàng buộc phải tìm
kiếm các nguồn vốn có thể sử dụng ngay nhu vay từ TCTD khác. Ngoài ra, yếu tố thời vụ,
chu kỳ cung rất dáng quan trọng trong việc dự kiến cầu thanh khoản dài hạn. Ví dụ, cầu về
thanh khoản thuờng rất lớn vào mùa hè, cuối hè gắn với ngày tựu truờng, ngày nghỉ và các
kế hoạch du lịch của khách hàng. Việc kế hoạch duợc những yêu cầu thanh khoản này, sẽ
giúp ngân hàng hoạch dịnh duợc nhiều nguồn dáp ứng cầu thanh khoản dài hạn hon là trong
truờng hợp dối với cầu thanh khoản ngắn hạn.
3.Các nguyên nhân dẫn dến rủi ro thanh khoản: Thanh khoản có vấn dề của

nhu: các chứng khoán dang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không
dủ cho nhu cầu chi trả..
4. Ðánh giá trạng thái thanh khoản: Trạng thái thanh khoản ròng NPL của một ngân
hàng đuợc xác dịnh nhu sau :
Nguyễn Thu Hà – A1C Page 6
Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
NPL = Tổng cung về thanh khoản - Tổng cầu về thanh khoản
Có ba khả nang có thể xãy ra sau dây:
-Thặng du thanh khoản: Khi cung thanh khoản vuợt quá cầu thanh
khoản (NPL>0), ngân hàng dang ở trạng thái thặng du thanh khoản. Nhà quản trị ngân
hàng phải cân nhắc dầu tu số vốn thặng du này vào dâu dể mang lại hiệu quả cho tới khi
chúng cần duợc sử dụng dáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tuong lai.
-Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hon cung thanh
khoản (NPL<0), ngân hàng phải dối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị
phải xem xét, quyết dịnh nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ dâu, bao giờ thì có và chi phí bao
nhiêu.
-Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu
thanh khoản (NPL=0), tình trạng này duợc gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy nhiên, dây là
tình trạng rất khó xãy ra trên thực tế.
5. Chiến luợc quản trị thanh khoản:
5.1 Ðuờng lối chung về quản trị thanh khoản: Một số nguyên tắc mang tính chỉ
dạo sau cần duợc tôn trọng dể quản trị thanh khoản một cách hiệu quả:
Một là, nhà quản trị thanh khoản phải thuờng xuyên bám sát hoạt dộng của
các bộ phận huy dộng vốn và sử dụng vốn dể diều phối hoạt dộng của các bộ phận này sao
cho an khớp với nhau. Chẳng hạn, khi một khoản tiền gửi lớn dến hạn trong vài ngày tới,
thông tin này cần duợc chuyển ngay dến nhà quản trị thanh khoản, dể có quyết sách thích
hợp chuẩn bị nguồn vốn dáp ứng nhu cầu này.
Hai là, nhà quản trị thanh khoản cần phải biết ở dâu, khi nào khách hàng gửi tiền,
xin vay dự dịnh rút vốn hoặc bổ sung tiền gửi hay trả nợ vay, nhất là các khách
hàng lớn. Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ giúp nhà quản trị thanh khoản dự kiến truớc

 Giá cả ổn dịnh dể không ảnh huởng dến tốc dộ và doanh thu bán tài sản.
 Nguời bán có thể mua lại dễ dàng với giá không cao hon nhiều so với giá cả dã bán ra
dể khôi phục khoản dầu tu ban dầu. Những tài sản có tính thanh khoản phổ biến bao
gồm: trái phiếu kho bạc, các
khoản vay ngân hàng trung uong, trái phiếu dô thị, tiền gửi tại các ngân hàng khác, chứng
khoán của các co quan chính phủ, chấp phiếu của ngân hàng khác. Nhu vậy, trong chiến
luợc quản trị thanh khoản dựa trên tài sản “Có”, một ngân hàng duợc coi là quản trị thanh
khoản tốt nếu ngân hàng này có thể tiếp cận nguồn cung thanh khoản với chi phí hợp lý, số
luợng vừa dủ theo yêu cầu và kịp thời.
Chiến luợc quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Có” có uu diểm là ngân hàng hoàn
toàn chủ dộng trong việc tự dáp ứng nhu cầu thanh khoản cho mình mà không bị lệ thuộc
vào các chủ thể khác.
Tuy nhiên, chiến luợc này cung có những nhuợc diểm sau:
 Một khi bán tài sản tức là ngân hàng mất di thu nhập mà các tài sản này tạo ra.
Nhu vậy, ngân hàng dã chịu chi phí co hội khi bán di các tài sản dã dầu tu.
 Phần lớn các truờng hợp khi bán tài sản dều tốn kém chi phí giao dịch nhu hoa
hồng trả cho nguời môi giới chứng khoán.
 Tổn thất càng lớn cho ngân hàng nếu các tài sản dem bán bị giảm giá trên thị
truờng, hoặc bị nguời mua ép giá do phải gấp rút bán dể dáp ứng nhu cầu thanh khoản.
 Ngân hàng phải dầu tu nhiều vào các tài sản có tính thanh khoản cao, lại là các tài
Nguyễn Thu Hà – A1C Page 8
Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
sản có khả nang sinh lợi thấp nên tất yếu ảnh huởng dến hiệu quả sử dụng vốn của ngân
hàng.
B- Chiến luợc quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Nợ”:
Ðây là chiến luợc quản trị thanh khoản phổ biến duợc các ngân hàng lớn sử dụng
vào những nam 60 và 70 của thế kỷ truớc. Trong chiến luợc này, nhu cầu thanh khoản
duợc dáp ứng bằng cách vay muợn trên thị truờng tiền tệ. Việc vay muợn chủ yếu là dể
dáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời và chỉ thực hiện khi có nhu cầu thanh khoản phát
sinh.

Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
Tính cấp thiết của nhu cầu thanh khoản: Một nhu cầu thanh khoản tức thời sẽ
duợc tài trợ bằng ngân quỹ dự trữ, vay qua dêm hoặc tái chiết khấu tại ngân hàng trung
uong.
Thời hạn nhu cầu thanh khoản: Một nhu cầu thanh khoản kéo dài vài ngày, vài
tuần hoặc vài tháng có thể duợc tài trợ bằng nguồn bán tài sản “Có” hay vay trên thị truờng
tiền tệ.
Khả nang thâm nhập thị truờng tài sản “Nợ”: Thuờng chỉ có các ngân hàng lớn
mới có thể tham gia thị truờng tài sản “Nợ”; cho nên nhà quản trị ngân hàng phải giới hạn
phạm vi lựa chọn các thị truờng tài sản “Nợ” mà ngân hàng muốn tham gia.
Chi phí và rủi ro: Lãi suất các nguồn vốn trên thị truờng thay dổi hàng ngày; do
dó, các ngân hàng phải thuờng xuyên theo dõi thị truờng dể nắm bắt duợc các thông tin về
lãi suất và các diều kiện cho vay di kèm.
Dự báo tỷ lệ lãi suất: Khi lập kế hoạch dể xử lý tình trạng thâm hụt thanh khoản
dự kiến, nhà quản trị phải dua ra các nguồn vốn có thể dáp ứng nhu cầu thanh khoản với lãi
suất mong dợi thấp nhất.
Triển vọng chính sách của ngân hàng trung uong và các khoản vay muợn của kho
bạc: Nhà quản trị cung cần nghiên cứu dộng thái của ngân hàng trung uong, tình hình ngân
sách nhà nuớc dể dịnh huớng diều kiện tín dụng và dự doán lãi suất trên thị truờng tiền tệ
sẽ thay dổi ra sao. Chẳng hạn, một kế hoạch huy dộng vốn lớn của chính phủ, hoặc việc
thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm giảm hạn mức tín dụng và gia tang lãi suất. Khi
dó, quản trị thanh khoản gặp khó khan hon và chi phí lãi vay của ngân hàng cung tang
tuong ứng.
Các quy dịnh liên quan dến nguồn vốn thanh khoản: Các quy dịnh của các co
quan quản lý ngân hàng ngày càng có xu huớng quốc tế hoá nên ngân hàng trong nuớc phải
vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thông lệ chung.
6.Các tiêu chuẩn đánh giá cho thanh khoản
6.1-Trên thực tế, không một ngân hàng nào có thể khẳng dịnh dự trữ thanh khoản của ngân
hàng mình dã hợp lý hay không, nếu nhu chua vuợt qua thử thách của thị truờng. Do vậy,
các nhà quản trị cần chú ý dến các tín hiệu sau dây của thị truờng tài chính:

*Tỷ lệ khả năng chi trả
= TTS có có thể thanh toán ngay/TTS nợ sẽ đến hạn thanh toán
7. Mục tiêu quản trị rủi ro thanh khoản
-Cảnh báo các nguy cơ và những nguy cơ và tổn thất khi rủi to thanh khoản xảy ra
-Đảm bảo khả năng chi trả kịp thời của các NHTM với các chi phí hợp lý
8.Dấu hiệu rủi ro thanh khoản
-Sự gia tăng tập trung của tài sản có hoặc tài sản nợ
-Tốc độ tăng các khoản vay lớn hơn tốc độ tăng của các khoản tiền gửi
-Các xu hướng bất lợi hoặc rủi ro gia tăng lien quan tới 1 dòng sản phẩm cụ thể
-Dư luận xấu trên thị trường
-Chỉ số tín dụng,tín nhiệm giảm
-Chi phí tài trợ vốn trên thị trường bán lẻ,bán buôn tăng
Nguyễn Thu Hà – A1C Page 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status