luận văn quản trị khách sạn du lịch Hoàn thiện chính sách giá nhằm thu hút khách đến khách sạn Hoàng Hà Hà Nội - Pdf 27

Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Lời Mở Đầu
Ngày nay du lịch là một ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng và
ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân. Du
lịch không những là sự giao lưu giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa
nền văn hoá này với nền văn hoá khác mà còn là chiếc cầu nối đi tới hoà
bình.
Khi nhắc tới du lịch chúng ta không thể không nhắc tới kinh doanh lữ
hành và kinh doanh khách sạn, đây là hai loại hình kinh doanh chủ yếu của
ngành du lịch. Do vậy, khi du lịch phát triển thì tất yếu kinh doanh lữ hành
và khách sạn cũng phát triển theo, nhưng để du lịch phát triển tốt ngoại trừ
có một nền kinh tế ổn định, một nền văn hoá phong phú đặc sắc ra, điều
quan trọng không kém đó là các phương pháp tổ chức quản lý, các chính
sách kinh doanh, trong đó có chính sách giá. Vậy chính sách giá được sử
dụng nh thế nào?
Trên thị trường hiện nay, giá đã dần nhường chỗ cho chất lượng song
nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh. Đặc biệt trong môi
trường kinh doanh hiện nay thì giá cả còn là một trong những công cụ đắc
lực có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu khách hàng, do đó quyết định sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp.
Giá cả một mặt là yếu tố chiến lược chủ chốt của marketing mix. Vì
nó có ảnh hưởng đến sự chấp nhận của khách hàng về chất lượng sản phẩm
do đó đóng vai trò quan trọng đối với vị thế của sản phẩm. Đồng thời giá là
một yếu tố chiến thuật chủ yếu, vì nó có thể thay đổi nhanh hơn bất kỳ một
yếu tố nào khác của marketing-mix và đặc tính này góp phần tăng giá chiến
thuật của nó.
Ở nước ta hiện nay khi mà thu nhập của người dân chưa cao thì giá
và chính sách giá vẫn còn rất quan trọng đặc biệt trong nhu cầu đi du lịch.
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Nhu cầu và mong muốn đi du lịch của người dân có thực hiện được hay
không hay nói cách khác nó có trở thành cần hay không điều này phụ thuộc

Chương I
Cơ sở lý luận về chính sách giá
1. Khái quát chung về hoạt động kinh doanh khách sạn.
Ngày nay chung ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học kỹ
thuật và công nghệ thông tin. Cuộc sống của con người ngày càng được nâng
cao, khi nhu cầu vật chất đã được đáp ứng đầy đủ thì họ lại nẩy sinh các nhu
cầu về tinh thần. Do cuộc sống trong thế giới khoa học kỹ thuật quá căng
thẳng nên con người đòi hỏi nhu cầu được nghỉ ngơi, giải trí, khám phá thế
giới thiên nhiên và những điều mới mẻ. Từ đó thúc đẩy ngành kinh doanh
khách sạn du lịch phát triển không ngừng
Ở Việt Nam du lịch ra đời cách đây khoảng 40 năm và đến nay nó
được coi nh một ngành kinh tế mũi nhọn, có vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân .
1.1. Khái niệm về khách sạn và kinh doanh khách sạn .
Khái niệm về khách sạn
Ngành kinh doanh khách sạn là một ngành kinh tế mới phát triển
nhưng hoạt động kinh doanh khách sạn đã ra đời từ rất sớm, hình thức sơ
khai ban đầu là kinh doanh chỗ ngủ cho khách vãng lai hoặc các thương
gia. Do nhu cầu của khách ngày càng phát triển nên kinh doanh chỗ ngủ đã
trở thành kinh doanh khách sạn.
Theo qui chế cơ sở lưu trú quan niệm về khách sạn nh sau:
Khách sạn là cơ sở lưu trú đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và tiện nghi
cần thiết phục vụ khách du lịch lưu trú, đáp ứng một số yêu cầu của khách
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
về nghỉ ngơi ăn uống, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác. Khách sạn có
thể xây dựng cố định hoặc lưu động .
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Khái niệm về kinh doanh khách sạn
Bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào khi bỏ vốn ra xây dựng khách sạn và
kinh doanh đều nhằm mục đích lợi nhuận do đó kinh doanh khách sạn được

Vốn: lượng vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian thu hồi vốn chậm .Vốn
có vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định quy mô của khách sạn.
Lao động: sản phẩm chủ yếu của khách sạn là dịch vụ nên trong kinh
doanh khách sạn du lịch đòi hỏi sử dụng nhiều lao động sống .chí phí tiền
lương trong ngành rất cao.
Đặc điểm sẵn sàng đón tiếp phục vụ khách hàng
Khác với các ngành khác, ngành kinh doanh khách sạn du lịch luôn
phục vụ khách 24/24h gắn với thời gian đến và đi của khách. Có thể nói
khách hàng luôn được phục vụ khi có nhu cầu.
Đặc điểm về tính thời vụ
Ngành kinh doanh khách sạn du lịch mang tính thời vụ rõ rệt vào
chính vụ lượng khách du lịch rất đông và ngược lại vào mùa trái vụ thì
lượng khách du lịch rất vắng. Do đó các doanh nghiệp khách sạn du lịch
phải khắc phục tình trạng này.
2. Giá cả và chính sách giá trong kinh doanh khách sạn du lịch
2.1. Khái niệm về giá
Giá cả là nhân tố quan trọng quyết định thị phần của công ty và khả
năng sinh lời của nó. Vậy giá cả là gì ?
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Giá cả có rất nhiều tên gọi khác nhau, đứng ở các góc độ khác nhau
thì giá có các quan niệm khác nhau:
Theo khái niệm cổ điển: “Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng
hoá “
Theo khái niệm về giá gắn với hành vi trao đổi (thị trường): “Giá là
một tương quan trao đổi trên thị trường giữa một bên là hàng hoá một bên
là tiền tệ “
Theo lý thuyết marketing: “Giá kinh doanh được xem như là một dẫn
xuất lợi Ých tương hỗ khi cầu gặp cung thị trường và được thực hiện là giá
trị tiền tệ giữa sản phẩm phát sinh trong các tương tác thị trường, giữa
người bán và người mua .Giá là thuộc tính căn bản của sản phẩm, thực tế

sản phẩm. Giá cả là một trong những yếu tố linh hoạt nhất của marketing-
mix. Nó có thể thay đổi nhanh chóng không giống nh các tính chất của sản
phẩm và những lời cam kết của kênh. Do đặc tính dễ dàng thay đổi nhanh
hơn bất kỳ một yếu tố nào khác của marketing-mix nên đã góp phần vào
việc tăng giá chiến thuật của nó.
Việc định giá và cạnh tranh giá là vấn đề số một được đặt ra cho nhiều
uỷ viên quản trị marketing.
Việc định giá là một bộ phận tinh vi phức tạp và quan trọng trong việc
quản trị marketng. Một mặt nó là yếu tố chiến lược chủ chốt của marketng-
mix vì nó ảnh hưởng tới sự chấp nhận chất lượng sản phẩm do đó đóng vai
trò quan trọng đối với vị thế của sản phẩm. Mặt khác giá cũng là một biến
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
số chiến thuật chủ yếu vì nó có thể được thay đổi nhanh chóng để phục vụ
các mục đích cạnh tranh.
Bên cạnh đó giá cả giữ vai trò thiết yếu trong marketing-mix của một
dịch vụ bởi vì việc định giá thu hót doanh lợi trong kinh doanh .Các quyết
định về giá là quan trọng trong việc xác định giá trị cho khách hàng và giữ
vai trò trong việc tạo dựng một hình ảnh của dịch vụ. Giá cũng đưa ra sự
nhận thức về chất lượng .Các quyết định về giá thường được hình thành
trong cách tăng thêm một tỷ lệ %trong chi phí. Sự tiếp cận này, tuy nhiên
làm mất đi lợi Ých mà một chiến lược giá có thể đáp ứng trong chiến lược
chung marketing.
Các doanh ngiệp dịch vụ, nhất là các thị trường cạnh tranh tù do cần
thiết phải sử dụng việc định giá một cách có chiến lược nhằm đạt được lợi
thế cạnh tranh.Thông thường trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thì giá và
chất lượng sản phẩm dịch vụ có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Việc định giá dịch vụ có vai trò quan trọng, nó được xem nh là một
dấu hiệu vật chất duy nhất để khách hàng hình dung liên tưởng ra chất
lượng dịch vụ trong trường hợp khách hàng chưa có chút kinh nghiệm nào
về dịch vụ đó .

Chính sách giá sai lầm sẽ làm mất đi khoản lợi nhuận lớn của doanh nghiệp
(nếu giá quá rẻ) hoặc sẽ làm mất đi uy tín với khách hàng (nếu giá quá
cao). Nh vậy sẽ đẩy doanh nghiệp vào tình thế bất ổn định về tài chính.
Chính sách giá giữ vai trò quan trọng đặc biệt đối với các doanh nghiệp mở
cửa vào thị trường mới hoặc các doanh nghiệp mới thành lập vì các loại
doanh nghiệp này thường dùng chính sách giá để thu hút khách hàng nhằm
chiếm hữu một phần thị trường. Ở nước ta, nhu cầu ăn uống nghỉ ngơi của
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
phần lớn người dân chưa cao, yêu cầu về chất lượng sản phẩm ăn uống và
dịch vụ nhìn chung còn ở mức độ thấp. Do đó cạnh tranh bằng giá cả vẫn
được các doanh nghiệp coi trọng.
4. Các bước xây dựng chính sách định giá
4.1. Lựa chọn mục tiêu định giá
Trước tiên công ty phải quyết định xem mình muốn đạt được điều
gì với sản phẩm cụ thể đó. Nếu công ty đã lựa chọn thị trường mục tiêu của
mình và định vị trên thị trường một cách thận trọng, thì khi đó chiến lược
marketing-mix của nó, trong đó có giá, sẽ rất dễ hiểu. Ví dụ, nếu một công
ty kinh doanh phương tiện giải trí muốn sản xuất một kiểu nhà lưu động
sang trọng cho khách giầu có, thì điều đó đã hàm ý việc tính giá cao. Vì
vậy chiến lược định giá phần lớn là do quyết định trước về cách định vị
trên thị trường chi phối.
Đồng thới công ty cũng có thể theo đuổi các mục tiêu phụ. Mục tiêu
của công ty càng rõ ràng thì càng dễ Ên định giá. Mỗi giá khả dĩ sẽ có tác
động khác nhau đến những mục tiêu như lợi nhuận, doanh số từ việc bán
hàng và thị phần. Điều này thể hiện trên hình sau:
Một công ty có thể theo đuổi bất kỳ một mục tiêu nào trong số sáu
mục tiêu chính sau thông qua việc định giá.
Đảm bảo sống sót
Các công ty lấy việc đảm bảo sống sót làm muc tiêu chính của mình,
nếu nó đang gặp khó khăn do bị quá sức, cạnh tranh quyết liệt hay những

Sau đây là những điều kiện thuận lợi cho việc định giá thấp:
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Thị trường rất nhạy cảm với giá và giá thấp sẽ kích thích thị trường
phát triển hơn nữa
Chi phí sản xuất và phân phối hạ xuống cùng với việc tích luỹ được
kinh nghiệm sản xuất
Giá thấp sẽ khuyến khích cạnh tranh thực tế và tiềm Èn.
Tăng tối đa hớt phần ngon của thị trường
Nhiều công ty thích Ên định giá cao để hớt phần ngon của thị trường.
Chiến lược hớt phần ngon của thị trường chỉ có ý nghĩa trong những điều
kiện sau:
Khá đông người mua có nhu cầu hiện tại lớn
Giá thành đơn vị khi sản xuất lại nhỏ không cao đến mức độ có thể
làm mất đi lợi thế trong việc tính cước vận chuyển
Giá lúc đầu cao sẽ không thu hút thêm các đối thủ cạnh tranh
Giá cao tạo nên hình ảnh về một sản phẩm thượng hạng.
Giành vị trí dẫn đầu về chất lượng sản phẩm
Công ty có thể đề ra mục tiêu trở thành người dẫn đầu thị trường về
chất lượng sản phẩm. Chiến lược chất lượng cao, giá cao sẽ đem lại cho
doanh nghiệp tỷ suất lợi nhuận luôn cao hơn mức trung bình của ngành.
Những mục tiêu khác của việc định giá
Các tổ chức phi lợi nhuận và quần chúng có thể chấp nhận một số mục
tiêu khác của việc định giá.
4.2. Xác định nhu cầu
Mỗi giá mà công ty có thể đặt ra sẽ dẫn đến một mức nhu cầu khác
nhau và vì thế sẽ tác động khác nhau đến những mục tiêu marketing của
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
nó. Mối liên hệ giữa giá hiện hành và nhu cầu hiện tại đã hình thành được
biểu diễn bằng đồ thị nhu cầu sau:
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự nhạy cảm với giá.

đổi bất kể công ty tính giá nh thế nào
Cách thứ 2 là giả thiết rằng các đối thủ cạnh tranh sẽ tính giá khác
nhau ứng với mỗi giá mà công ty có thể đưa ra .
Để xác định đồ thị nhu cầu cần cho giá biến thiên
Tính co giãn của nhu cầu theo giá cả:
Những người làm marketing cần phải biết nhu cầu phản ứng lại nh thế
nào đối với sự biến động của giá cả. Nếu nhu cầu khó thay đổi khi có sự
biến động nhỏ về giá, thì ta nói nhu cầu là không co giãn. Nếu sức cầu thay
đổi đáng kể thì ta nói nhu cầu là co giãn .Tính co giãn của nhu cầu theo giá
được xác định bằng công thức đặc trưng sau :
% biến động của số lượng nhu cầu
Tính co giãn của nhu cầu theo giá =
%biến động của giá
* Nhu cầu sẽ Ýt co giãn hơn trong các trường hợp sau :
Có Ýt hay không có hàng thay thế hay đối thủ cạnh tranh .
Người mua không nhận thấy ngay việc tăng giá.
Người mua chậm thay đổi thói quen mua hàngvà không vội tìm kiếm
hàng rẻ hơn
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Người mua cho rằng giá tăng là do tăng chất lượng, lạm phát bình
thường
Nếu nhu cầu là co giãn thì người bán sẽ phải xem xét đến việc giảm
giá. Giá hạ sẽ làm cho số lượng hàng hoá bán ra tăng nên , do đó làm tăng
tổng doanh thu .Điều này chỉ có ý nghĩa khi các chi phí cho việc sản xuất
tiêu thụ nhiều đơn vị hàng hoá hơn không tăng lên một cách không cân đối
4.3 Xác định chi phí
Nhu cầu là yếu tố chủ yếu quyết định trần của giá mà công ty có thể
tính cho sản phẩm của mình, còn giá thành của công ty thì quyết định sàn
của giá . Công ty muốn tính một giá nào đó đủ để trang trải những chi phí
của mình như: chi phí sản xuất, chi phí phân phối tiêu thụ sản phẩm, kể cả

trình tích luỹ được kinh nghiệm sản xuất. Đường giảm dần chi phí bình
quân trong quá trình tích luỹ kinh nghiệm gọi là đường cong kinh nghiệm.
Việc định giá theo đường cong kinh nghiệm nghĩa là khi kinh nghiệm được
tích luỹ càng nhiều thì chi phí sản xuất càng thấp và khi đó công ty có thể
hạ dần giá thành sản phẩm xuống. Do đó công ty có thể định giá sản phẩm
của mình thấp dần xuống so với đối thủ cạnh tranh. Việc định giá này chứa
đựng rủi ro lớn vì việc định giá tiến công có thể tạo cho sản phẩm của công
ty một hình ảnh yếu kếm trong con mắt khách hàng .
Xác định chi phí mục tiêu
Chi phí thay đổi theo qui mô và kinh nghiệm sản xuất và chi phí
cũng có thể thay đổi là do những người thiết kế, các kỹ sư và nhân viên
cung ứng của công ty đã tập trung nỗ lực để giảm bớt chi phí. Xác định chi
phí mục tiêu là một cách cải tiến với phương pháp phát triển sản phẩm
mới bình thường, nghĩa là thiết kế sản phẩm, ước tính chi phí, sau đó xác
định giá của nó.Thay vì thế , việc xác định chi phí mục tiêu tập trung vào
khâu cắt giảm giá thành của sản phẩm ngay trong giai đoạn lên kế hoạch và
thiết kế chứ không phải là cố gắng sắp xếp lại các chi phí sau khi đã đưa
sản phẩm vào sản xuất .
4.4 Phân tích giá thành ,giá cả và hàng hoá của các đối thủ cạnh
tranh
Mặc dù nhu cầu của thị trường có thể quyết định trần của giá và chi
phí của công ty có thể quyết định sàn cho việc định giá, nhưng giá thành,
giá cả của các đối thủ cạnh tranh và những phản ứng có thể có về giá của
họ vẫn giúp công ty xác định xem giá của mình có thể quyết định ở mức
nào. Công ty cần phải so sánh giá thành của mình với giá thành của các đối
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
thủ cạnh tranh để biết là mình đang ở thế có lợi hay bất lợi về chi phí.
Công ty ccó thể biết giá cả và chất lượng hàng hoá của các đối thủ cạnh
tranh bằng nhiều cách khác nhau, công ty có thẻ cử người đi mua hàng hoá
để so sánh giá cả và đánh giá hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh hoặc

nhu cầu
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Mô hình 3c để Ên định giá
Các công ty giải quyết vấn đề định giá bằng cách lựa chọn một
phương pháp định giá bao trùm được một hay nhiều vấn đề trong sè ba
vấn đề này. Nh vậy, phương pháp định giá sẽ dẫn đến một giá cụ thể.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét một vài phương pháp định giá như định
giá theo g cách cộng lời vào chi phí, định giá theo lợi nhuận mục tiêu, định
giá theo giá trị nhận thức được, định giá theo giá trị, định giá theo giá trị
hiện hành và định giá trên cơ sở đấu giá kín .
Định giá theo cách cộng lời vào chi phí
Đây là phương pháp định giá sơ đẳng nhất mà các công ty hay sử
dụng ,các công ty thường định giá bằng cách cộng thêm vào chi phí của sản
phẩm một phần phụ giá chuẩn .
Chi phí cố định
Chi phí đơn vị = Chi phí biến đổi +
Số lượng tiêu thụ
Giả sử công ty muốn kiếm thêm một phần phụ giá nào đó trên doanh
số bán thì công ty sẽ Ên định giá là :
chi phí cho một đơn vị sản phẩm
Giá đã cộng phụ giá =
1- lợi nhuận mong muốn trên doanh số bán
Mức phụ giá thay đổi rất nhiều tuỳ theo loại hàng hoá . Việc sử dụng
mức phụ giá chuẩn để Ên định giá nói chung không hợp lý bởi vì phương
pháp định giá này không chú ý đến nhu cầu hiện tại ,giá trị nhận thức được
và tình hình cạnh tranh . Phương pháp định giá này chỉ thích hợp khi giá đó
trên thực tế đảm bảo mức tiêu thụ dự kiến.Những công ty tung ra một sản
phẩm mới thường định giá cao cho nó với hi vọng thu hồi được vốn nhanh
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
nhất . Thế nhưng chiến lược phụ giá nhanh có thể gây tai hoạ nếu một đối

thức sau:
Chi phí cố định
Khối lượng hoà vốn =
giá - chi phí biến đổi
Trong phương pháp này người sản xuất phải xem xét những giá khác
nhau và ước tính những ảnh hưởng có thể có của chúng đến khối lượng tiêu
thụ và lợi nhuận .Đồng thời người sản xuất cũng phải tìm cách giảm các chi
phí cố định và chi phí biến đổi bởi vì chi phí càng thấp sẽ càng giảm bớt
được khối lượng cần thiết để hoà vốn .
Định giá theo giá trị nhận thức được.
Ngày càng có nhiều công ty xác định giá của mình trên cơ sở giá trị
nhận thức được của sản phẩm. Họ xem nhận thức của người mua về giá trị,
chứ không phải chi phí của người bán là căn cứ quan trọng để định giá. Họ
sử dụng những biến phí giá cả trong Marketing mix để tạo nên giá trị nhận
thức được trong suy nghĩ của người mua. Giá cả được Ên định theo giá trị
nhận thức được.
Phương pháp định giá theo giá trị nhận thức được rất phù hợp với ý
tưởng định vị sản phẩm. Vấn đề mấu chốt của phương pháp này là xác định
chính xác nhận thức của thị trường về giá trị của hàng hoá. Người bán có
cách nhìn thổi phồng giá trị hàng hoá của mình sẽ định giá quá cao cho sản
phẩm của mình. Người bán có cách nhìn quá khắt khe sẽ tính giá thấp hơn
mức mà đáng ra họ có thể tính. Việc nghiên cứu thị trường là cần thiết để
xác định nhận thức của thị trường về giá trị rồi dựa vào đó và định giá cho
có hiệu quả.
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Định giá theo giá trị.
Trong những năm gần đây một số công ty đã chấp nhận theo phương
pháp định giá theo giá trị, theo đó họ có thể tính giá thấp cho những hàng
hoá chất lượng cao. Phương pháp định giá theo giá trị không giống nh
phương pháp theo giá trị nhận thức được. Phương pháp này trên thực tế là

hợp đồng.
Hiệu quả thực sự của việc định giá cao hay thấp hơn chi phí này có
thể mô tả bằng lợi nhuận dự kiến. Việc sử dụng lợi nhuận dự kiến làm tiêu
chuẩn để Ên định giá chỉ có ý nghĩa đối với công ty thường hay phải tham
gia đấu giá. Bằng cách sử dụng những lợi thế cao nhất công ty sẽ đạt được
lợi nhuận tối đa về lâu dài.
Những công ty thỉnh thoảng mới tham gia đấu giá hay cần một hợp
đồng cụ thể sẽ không thể có được lợi thế gì khi sử dụng lợi nhuận tiêu
chuẩn dự kiến.
4.6. Lựa chọn giá cuối cùng.
Các phương pháp định giá trên đều thu hẹp khoảng giá để từ đó lựa
chọn lấy một giá cuối cùng. Khi lựa chọn giá cuối cùng công ty phải xem
xét thêm các yéu tố phụ nữa.
Yếu tố tâm lý trong việc định giá.
Ngoài những yếu tố kinh tế ra, người bán cần phải xem xét đến yếu tố
tâm lý của giá cả. Nhiều người sử dụng giá cả làm tiêu chuẩn chất lượng,
trong trưòng hợp người mua không hề có được những thông tin khác nhau
về chất lượng đích thực thì giá có tác dụng nh tín hiệu của chất lượng.
Nhưng khi người mua có được những thông tin này thì giá sẽ trở thành một
chỉ tiều về chất lượng Ýt quan trọng hơn.
Luận văn tốt nghiệp Lê Anh Tuấn
Khi định giá cho sản phẩm của mình người bán thường hay sử dụng
những giá tham khảo. Còn người mua khi ngắm nhìn một sản phẩm cụ thể
thì cũng nghĩ đến một giá tham khảo nào đó để so sánh. Giá tham khảo có
thể hình thành qua việc thông báo giá cả hiện hành, giá cả trước đó hay từ
tình huống mua hàng.
Nhiều người bán tin chắc rằng giá cả nhất thiết phải có số lẻ. Hầu hết
các quảng cáo trên báo chí đều đưa ra giá với những con số lẻ. Có thể
những có số lẻ gợi cho người mua về một khoản chiết khấu hay một giá
hời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status