Đề tài : MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG
TIẾT HỌC THỂ DỤC
1 / Đt vn đ:
Giáo dục thể chất là một mặt của giáo dục toàn diện, đồng thời là một bộ phận
không thể tách rời của sự nghiệp giáo dục của Đảng và nhà nước ta.
Sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng đã góp phần hết sức quan
trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ
và thể chất để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, giữ vững
và tăng cường an ninh quốc phòng.
Tầm quan trọng của TDTT thể hiện rõ trong tư tưởng và việc làm của Chủ Tịch
Hồ Chí Minh – Người dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới,
việc gì cũng cần đến sức khỏe mới thành công”.
TDTT trong giai đoạn mới đã khẳng định phương hướng “Phát triển TDTT là bộ phận
quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế – Xã hội của Đảng và nhà nước, nhằm
bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác TDTT phải góp phần tích cực
nâng cao sức khỏe, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú
đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động của xã hội và
năng lực chiến đấu của lực lượng vũ trang”.
Trong cuộc sống hiện nay, vị trí công tác TDTT trong nhà trường càng được xác
định theo đúng tầm quan trọng của nó. Thông qua giáo dục trong bộ môn thể dục, bồi
dưỡng cho học sinh những đức tính dũng cảm, giúp học sinh biết được kĩ năng cơ bản để
tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực, góp phần rèn luyện nếp sống lành mạnh, tác
phong nhanh nhẹn, kỉ luật, thói quen tự giác tập luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh. Có
sự tăng tiến về thể lực, thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và thể hiện khả năng của bản
thân về thể dục thể thao, biết vận dụng những điều đã học vào nếp sinh hoạt ở trong và
ngoài nhà trường, góp phần chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nếp sống, tác phong công nghiệp.
Để thực hiện tốt được tầm quan trọng và nhiệm vụ của công tác giáo dục thể chất
như trên thì chúng ta phải thực hiện công tác giảng dạy thật đảm bảo chính vì vậy mà việc
sử dụng phương pháp dạy học có hiệu quả là điều rất quan trọng ; Cho nên tôi chọn đề tài “
Một số biện pháp thực hiện hoạt động nhóm trong tiết học thể dục “ để nghiên cứu và được
áp dụng khối lớp 8 trường THCS Quang Trung – Đại Lộc – Quảng Nam .Từ Năm 2010
quy định: Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể
chất cho tầng lớp thanh thiếu niên nhi đồng. TDTT trường học bao gồm việc tiến hành
chương trình GDTC bắt buộc và tổ chức hoạt động TDTT ngoại khoá cho người học.
GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần
nâng cao dân trí đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng nhu cầu xây dựng và
bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.
Trên cơ sở đánh giá tầm quan trọng của GDTC trong trường học, chỉ thị 36-
CT/TW ngày 24-3-1994 và chỉ thị 17- CT/TW năm 2002 của Ban bí thư Trung ương
Đảng ( khoáVII và khoá IX) giao trách nhiệm cho bộ giáo dục và đào tạo và Tổng cục
TDTT ( nay là uỷ ban TDTT) thường xuyên phối hợp chỉ đạo công tác GDTC, cải tiến
chương trình giảng dạy tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đạo tạo giáo viên thể thao cho
các cấplàm cho việc TTDT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh
viên. Do đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng cho quốc gia. Tuy GDTC
trường học được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành rất mực quan tâm. Nhưng chất
lượng giờ học thể dục vẫn còn thấp, hiệu quả do giờ thể dục mang lại chưa cao, học
sinh còn coi môn thể dục là môn phụ và còn thờ ơ với môn này. Với mong muốn đánh
giá cụ thể động cơ và sự ham thích của các em đối với giờ học thể dục và các môn thể
2
thao khác, hiểu hơn về tâm tư nguyện vọng của các em đối với GDTC trường học từ
đó có thể điều chỉnh phương pháp giảng dạy
3. Cơ sở thực tiễn:
a. Thực trạng:
Trước đây khi chưa đổi mới phương pháp dạy học đối với bộ môn thể dục theo
phân phối chương trình cũ: Một tiết học chỉ có một nội dung duy nhất. Giáo viên
thường cho cả lớp cùng học một nội dung nói trên. Chính điều này đã dẫn đến nhiều
mặt hạn chế trong nội dung và phương pháp dạy học.
- Học sinh luyện tập một nội dung trong suốt thời gian dài sẽ dẫn đến nhàm chán, mệt
mỏi.
- Hoạt động của người thầy trên lớp là hoạt động chủ đạo.
- Không phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong luyện tập đối với học sinh.
quả việc luyện tập đạt kết quả cao.
4.1/Các chú ý khi phân nhóm :
Trong tình hình vận dụng đổi mới phương pháp dạy học vẫn còn nhiều khó
khăn chưa thể khắc phục ngay, để có thể áp dụng phương pháp dạy học theo nhóm
thành công và hình thức học nhóm trở thành một yếu tố tích cực trong cấu trúc của
một giờ dạy, chúng ta cần quan tâm một số yêu cầu:
a- Cán bộ quản lí giáo dục – giáo viên cần quán triệt mục tiêu, yêu cầu của phương
pháp dạy học theo nhóm hay nói cách khác là phải trả lời được câu hỏi “Tổ chức
dạy học theo nhóm để làm gì ?”.
* Nhằm thực hiện đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động sáng
tạo của học sinh, đảm bảo nguyên tắc “Dạy học thông qua cách tổ chức các hoạt động
học tập của học sinh”:
Chúng ta đều biết mỗi phương pháp dạy học đều có một lợi thế nhất định. Việc dạy
học theo nhóm nhỏ cho phép học sinh có nhiều cơ hội rèn luyện kĩ năng thực hiện
động tác. Học sinh phát huy được vai trò trách nhiệm cá nhân vừa có cơ hội để học tập
từ các bạn qua cách luyện tập hỗ trợ hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Như
vậy, tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm chính là đã tạo điều kiện cho tất cả học
sinh tham gia luyện tập một cách chủ động và tạo được một môi trường xã hội thuận
lợi để các em hình thành tính cách đồng thời phát triển kĩ năng sống của mình.
* Nhằm phát triển kĩ năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng giao tiếp cho mọi đối tượng
học sinh: ( Ví dụ : Khi cần phân tích thảo luận , tranh luận đến một kỹ thuật thực hiện
động tác nào đó thường áp dụng ở các bài ĐHĐN, bài thể dục )
Kết luận của nhóm sau khi đã thống nhất là sản phẩm của nhóm, đó là quá trình
trao đổi, trình bày ý kiến của từng thành viên trong nhóm. Khi mà mỗi thành viên
trong nhóm đều phải đưa ra ý kiến thì đó chính là các em đã nói với nhau, nghe lẫn
nhau và đáp lại lời của bạn hay nói cụ thể là việc thảo luận nhóm này đã làm cho tất cả
học sinh đều phải đưa ra được chính kiến của mình. Điều này đã góp phần rèn luyện
cho học sinh ngôn ngữ nói, cách giao tiếp, cách diễn đạt một vấn đề. Đây là điểm còn
yếu của HS tiểu học chúng ta mà hiện nay cần được điều chỉnh trong quá trình đổi
mới giáo dục phổ thông.
dõi để hướng dẫn, giúp đỡ sửa sai động tác cho các nhóm thực hiện đúng yêu cầu bài
học, tránh luyện tập tùy hứng dẫn đến nguy cơ đi chệch yêu cầu của tiết học .
5- Tổ chức luyện tập chung: trước khi cho đại diện một số em thực hiện động tác ,
giáo viên cần nêu lại kỹ thuật động tác để cả lớp tập trung lắng nghe. Phải rèn cho
học sinh có thói quen lắng nghe và khuyến khích các em đưa ra nhận xét cụ thể về
việc thực hiện động tác của bạn . Quá trình luyện tập chung nếu điều hành tốt thì sẽ
giúp học sinh rút thêm kinh nghiệm , đễ dàng phát hiện những động tác sai để điều
chỉnh:
6- Tổng kết - Nhận xét quá trình Luyện tập : Cần căn cứ vào các tiêu chí sau
- Sự tổ chức thực hiện của nhóm nhóm
- Tinh thần thái độ luyện tập của các thành viên trong nhóm.
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của nhóm .
- Kĩ năng thực hiện biểu diễn động tác trước lớp.
Cần khen ngợi những học sinh tích cực luyện tập và vận động , khuyến khích các em
chưa tích cực luyện tập
4.2/ Các biện pháp phân nhóm :
a/ Phân nhóm theo giới tính :
5
Ngay từ đầu năm học theo phân phối chương trình ở các tiết đầu có nội dung:
Biên chế tổ tập luyện, chọn cán sự và một số qui định khi học tập bộ môn, giáo viên
cần phải có kế hoạch cụ thể. Trong quá trình biên chế tổ nhóm học tập và chọn cán sự
bộ môn. Giáo viên phải có kế hoạch chia lớp thành 2 nhóm học tập, nhóm nam và
nhóm nữ, sau khi cho các em chọn cán sự bộ môn giáo viên cũng nên thông qua chức
năng, nhiệm vụ của cán sự đối với giờ học thể dục cho toàn lớp coi đây là những quy
định khi học tập bộ môn.
Muốn giờ học thể dục đạt được hiệu quả cao, vấn đề cơ bản là cách tổ chức
quản lý tốt của người giáo viên, cho nên việc phân nhóm, chọn cán sự chuyên môn và
cách tổ chức khoa học, chặt chẽ là yếu tố thành công trong một tiết dạy. Bên cạnh đó
việc bồi dưỡng huấn luyện năng lực cho cán sự chuyên môn là điều rất cần thiết. Ở
mỗi tiết dạy giáo viên nên cho cán sự cùng thực hiện các động tác mẫu cùng với mình.
bền trên địa hình tự nhiên ở các cự ly 500m – 800m
• Đánh giá hiệu quả :
*Ưu điểm : Ở lứa tuổi lớp 8 và 9 các em nam và nữ đều có sự nhận thức về cơ thể
của mình nên việc thực hiện động tác trước bạn khác giới các em rất ngại ngùng ví dụ
trong giảng dạy Nhảy xa , nhảy day , nhảy cao : ( Một số em nữ rất ngại khi thực hiện
động tác trước bạn nam nhất là khối 8, 9). Khi tách các em ra thì các em luyện tập rất
tự nhiên và tích cực hơn , đạt hiệu quả cao hơn
*Tồn tại : Nếu bị lạm dụng sẽ dẫn đến mất bình đẳng phân biệt giữa nam và nữ,
các bạn nữ không có được sự hỗ trợ của các bạn nam ở những bài tập khó hoặc động
tác khó .
b/ Phân nhóm theo nhóm sức khỏe:
Trong quá trình giảng dạy bộ môn thể dục trong nhà trường phổ thông thể lực
của học sinh luôn là vấn đề trăn trở đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn này,
việc các em có thể lực yếu kém không chỉ ảnh hưởng đến việc phát triển thể chất mà
còn ảnh hưởng đến việc học tập của các em, việc làm cấp thiết là cần có sự thay đổi
tư duy trong việc hướng dẫn tập luyện và rèn luyện thể lực cho học sinh.
Đối với học sinh có thể lực yếu, trong quá trình giảng dạy môn chạy bền trước
khi vào luyện tập tôi thường phân nhóm của lớp ra làm ba nhóm sức khỏe.
Nhóm 1: sức khỏe tốt :
Nhóm 2: sức khỏe trung bình :
Nhóm 3: sức khỏe yếu :
Thời gian của chạy bền trong một tiết là 5-6 phút. Bước vào luyện tập cho
nhóm 1 chạy trước 1 phút, sau đó cho nhóm 2 chạy theo, nhóm 3 chạy sau nhóm 2 là
1 phút. Khi đủ thời gian quy định cho các em đi bộ và làm động tác hồi tĩnh. Tôi
thường khuyến khích các em trong học tập bằng cách không đòi hỏi các em tập luyện
đạt yêu cầu như những học sinh bình thường, mà chỉ yêu cầu các em tập một cách
nghiêm túc, nhiệt tình theo tình trạng sức khỏe và thể lực của mình, và từng bước cải
thiện được thể lực cho các em. Khi kiểm tra tôi hạ yêu cầu điểm chuẩn đối với những
học sinh này. Tác dụng của việc làm này giúp các em bớt ngán sợ môn thể dục. Từ đó
việc học sinh bỏ tiết cũng giảm dần.
môn nhảy cao cho khối 8 - 9 thì ta có được thời gian để tập luyện cho những học sinh
có tâm lí sợ sệt khi nhảy qua xà. Khi đó ta hạ xà thấp xuống để những học sinh này
nhảy qua xà nhiều lần. Các em từ từ khắc phục sự sợ hãi này và tích cực tập luyện.
Đối với những học sinh có năng khiếu tốt ta có thể nâng xà cao dần lên để có điều
kiện phát hiện học sinh có năng khiếu về nhảy cao.
• Đánh giá hiệu quả:
* Ưu điểm :
Chúng ta phát huy được hết sức bật của những học sinh có năng khiếu và kích
thích được những học sinh này ham muốn tập luyện.
Chúng ta có điều kiện quan tâm được những học sinh không có năng khiếu và có
thể hình thấp để chúng ta có phương pháp hướng dẫn hợp lí hơn.
Quan trọng là những học sinh yếu về năng khiếu có được sự tự tin hơn không còn e
ngại sợ sệt trong khi tập luyện các nội dung trên.
* Tồn tại : Việc phân nhóm sẽ gặp nhiều rắc rối , khó khăn vì vậy đòi hỏi GVBM
phải cố gắn theo gỏi ở các giờ học đầu tiên để phân nhóm đối tượng chính xác .
5/ Kết quả:
- Qua nhiều năm được phân công giảng dạy bộ môn thể dục ở khối lớp 8 trường
THCS Quang Trung và áp dụng phương pháp phân nhóm. Tôi nhận thấy kết quả thực
8
tế chất lượng học tập của học sinh được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ học sinh khá,Xuất sắc
tăng lên, tỷ lệ học sinh đạt giảm và không có tỷ lệ học sinh Chưa đạt của bộ môn. So
sánh đối chiếu tỷ lệ học sinh cùng khối 8 Trong những năm học 2010-2011, 2011-
2012 đạt kết quả cụ thể sau:
.
Bên cạnh đó còn Phát hiện được những học sinh có năng khiếu nhảy cao để tập
luyện thi đấu các giải thể thao kết quả là “Hội Khoẻ Phù Đổng” cấp huyện năm học
2010 – 2011, 2011-2012 có học sinh đạt huy chương.
Khắc phục được tình trạng học sinh có tâm lí sợ sệt và ngán ngại tập luyện môn
nhảy cao. Tạo được niềm tin cho những học sinh này để tích cực tập luyện môn này.
6/ Kết luận:
mạng của Đảng, của Nhà nước XHCN.
Ứng dụng phương pháp phân nhóm vào Giảng dạy tiết thể dục tại trường
THCS là cần thiết nhưng quan trọng là GVBM phải biết phân chia nhóm như thế nào
cho hợp lý , phù hợp với đặc điểm học sinh, nội dung học tập, cơ sở vật chất và trang
thiết bị . Dựa vào kết quả đạt được cho ta thấy phương pháp phân nhóm đã cho ta phát
hiện được những học sinh có năng khiếu để có phương pháp tập luyện nâng cao thành
tích để thi đấu trong các hội thi thể thao. Khắc phục được tình trạng học sinh có tâm lí
sợ sệt, ngán ngại tập luyện có được sự tự tin và tích cực tập luyện. Nâng cao được chất
lượng môn học .
Với kinh nghiệm bản thân đề tài này đến đây có thể chưa hoàn thiện, vì vậy sẽ
không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót xin được đồng nghiệp và Ban giám khảo
đóng góp thêm để sáng kiến được hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng trong những năm tới
đạt hiệu quả.
7/Kiến nghị:
+ Đối với Phòng Giáo dục Đào tạo:
- Cần cung cấp một số trang thiết bị cần thiết để phục vụ cho bộ môn giáo dục thể
chất.
- Cần tổ chức mạng lưới nghiệp vụ để trao đổi, học tập kinh nghiệm nâng cao chuyên
môn, nghiệp vụ phục vụ cho công tác giảng dạy.
+ Đối với nhà trường:
- Cung cấp tối thiểu trang thiết bị phục vụ để giảng dạy bộ môn.
- Cần phải dự toán kinh phí để tu sửa sân bãi, mua sắm trang thiết bị kịp thời phục vụ
cho công tác giảng dạy từ đầu năm học.
8/ Phụ lục :
GIÁO ÁN MINH HOẠ:
Tuần 9 – tiết 17 – nội dung: Bài thể dục liên hoàn, chạy ngắn, chạy bn.
A. Mục tiêu: Tiếp tục luyện tập hoàn thiện kỹ thuật xuất phát thấp, chạy lao, chạy
giữa quãng.
- Học giai đoạn kỹ thuật về đích.
GV làm mẫu + cán sự bộ môn.
- Hướng dẫn cho các nhóm luyện tập.
- GV quan sát và sửa sai cho các nhóm.
- Cán sự 2 nhóm tiến hành luyện tập
cho nhóm.
- GV kiểm tra, đánh giá rút kinh
nghiệm.
- Đổi nội dung cho 2 nhóm:
+ Nam: Ôn bài TD từ 1 đến 17, học
mới, học mới từ 18 đến 25, (cán sự
điều hành)
+ Nữ: Ôn hoàn thiện kỹ thuật xuất thấp
chạy lao, giữa quãng, về đích.
+ Kết hợp thi đua giữa 2 nhóm
- GV kiểm tra đánh giá, tuyên dương,
phê bình.
- Chọn 1,2 HS giỏi ở mỗi nhóm trình
10’
x x x x x x x
x x x x x x x x
x x x x x x x x
x x x x x x x x
x
GV x
Từ hàng ngang chuyển thành vòng
tròn để khởi động và chạy đều tập
trung thành 4 hàng ngang.
Đội hình luyện tập chạy ngắn các
giai đoạn: XPT – CL – GQ – VĐ
x x x x x x
GV nêu các yêu cầu luyện tập chạy
bền.
- Tiến hành cho 2 nhóm tham gia luyện
tập chạy bền cùng cự ly 500m.
- Hít thở sâu, thả lỏng, rung đùi khi kết
thúc vòng chạy.
- GV nhận xét và rút kinh nghiệm.
C. Phần kết thúc:
Thả lỏng hồi tĩnh: Hít thở thả lỏng,
rung đùi và chân tay.
* Nhận xét đánh giá tiết học:
- Nhận xét chung, rút kinh nghiệm.
- Tuyên dương nhóm học tốt, phê bình
các nhóm chưa tốt.
* Bài tập v nhà: HS về nhà tự ôn bài
TD từ 1đến 25
- Tập hoàn thiện các giai đoạn chạy
ngắn.
- Tập chạy bền ở nhà mỗi sáng
x x x x x
x x x x x
GV x
x
x x
x x
x x GV x
x x
x x
x x
+ Chạy theo vòng tròn quanh sân
động Việt Nam.
3- Chỉ đạo ngành thể dục thể thao cải tiến quản lý, phối hợp với các ngành, các đoàn thể nhân dân,
tổ chức xã hội để hướng dẫn, tổ chức phong trào thể dục thể thao phù hợp với từng đối tượng và địa
bàn. Trước mắt, chỉ đạo tổ chức có kết quả Đại hội thể dục thể thao các cấp và Đại hội thể dục thể
thao toàn quốc lần thứ III chào mừng các ngày lịch sử lớn của đất nước trong hai năm 1994-1995.
Xây dựng hệ thống đào tạo vận động viên chuyên nghiệp bao gồm các trung tâm đào tạo vận động
viên quốc gia, các cơ sở đào tạo vận động viên ở một số tỉnh, thành phố, nghành.
Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thể dục thể thao, coi trọng chất lượng, cả về chính trị, đạo đức
và chuyên môn. Nâng cao ý thức trách nhiệm, tổ chức kỷ luật, lòng yêu nước và tự hào dân tộc
cho cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên và trọng tài; chống biểu hiện tiêu cực và những xu
hướng lệch lạc trong hoạt động thể thao.
4- Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục - Đào tạo và Ban cán sự Đảng Tổng cục Thể dục thể thao phối
hợp chỉ đạo tổng kết công tác giáo dục thể chất, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn
luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục thể thao cho trường học các cấp; tạo những điều kiện cần
thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học.
5- Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương và Ban cán sự Đảng Tổng cục
Thể dục thể thao phối hợp chỉ đạo cải tiến việc huấn luyện thể lực và phát triển thể thao trong các
lực lương vũ trang, dân quân tự vệ; phát triển một số môn thể thao kỹ thuật và ứng dụng quân sự.
Xây dựng lực lượng vận động viên đỉnh cao, đóng góp cho đội tuyển quốc gia.
6- Đảng đoàn Tổng liên đoàn lao động Việt Nam cùng với Ban cán sự Đảng Tổng cục Thể dục thể
thao chỉ đạo xây dựng và đề nghị với Chính phủ quy chế bảo đảm việc tập luyện thể dục thể thao
cho công nhân, viên chức trong các cơ quan, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế để
tăng cường sức khoẻ, nâng cao năng suất lao động và phòng chống bệnh nghề nghiệp.
7- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chủ động tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, coi
đó là một trong những nội dung sinh hoạt, rèn luyện của đoàn viên thanh niên, là một trong những
biện pháp vận động, giáo dục đoàn viên và thanh thiếu niên.
8- Các Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế, Tổng cục Thể dục thể thao phối hợp với Hội Chữ thập đỏ và các
ngành liên quan chỉ đạo phong trào thể dục - vệ sinh trong các tầng lớp nhân dân, mở rộng các
hoạt động chăm sóc và rèn luyện sức khoẻ cho mọi người.
9- Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh- truyền
điều kiện để phát triển. Thành tích của nhiều môn thể thao còn thấp so với khu vực và thế giới.
Trong hoạt động thể thao còn nhiều biểu hiện tiêu cực. Công tác quản lý chưa theo kịp nhu cầu
phát triển của thể dục thể thao.
Nguyên nhân chủ yếu của những mặt hạn chế, yếu kém kể trên chủ yếu là do nhiều cấp uỷ, Đảng
chính quyền chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư thích đáng cho công tác thể dục thể thao.
Công tác quản lý, chỉ đạo của ngành thể dục chậm được đổi mới, chưa thực hiện tốt chủ trương xã
hội hoá hoạt động thể dục thể thao nhằm phát huy tiềm năng to lớn của nhân dân. Ngành Giáo
dục – Đào tạo chưa có những giải pháp tích cực và hiệu quả để phát triển thể dục thể thao trong
trường học. Đội ngũ cán bộ thể dục thể thao, nhất là cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, huấn luyện
viên, giáo viên, còn thiếu và yếu. Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, lạc hậu.
Trong giai đoạn mới, sự nghiệp thể dục thể thao cần được tiếp tục phát triển theo những quan
điểm đã nếu trong CT 36-CT/TW và phương hướng, nhiệm vụ đã được Đại hội IX của Đảng xác
định:
“Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao, nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam. Phát
triển phong trào thể dục thể thao quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp; đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ vận động viên thể thao thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên trình độ chung trong khu
14
vực Đông Nam Á và có vị trí cao trong nhiều bộ môn. Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích nhân
dân và các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu quả các hoạt động văn hoá thể thao”.
Công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước, trước hết là góp phần nâng cao sức
khoẻ, rèn luyện ý chí, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống và nâng cao đời sống văn hoá, tinh
thần của nhân dân; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi
tệ nạn xã hội ở từng địa phương. Phấn đấu đến năm 2010 toàn quốc đạt tỷ lệ 18 – 20% dân số tập
luyện thể dục thể thao thường xuyên; 80 – 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân
thể theo quy định; giữ vị trí là một trong ba nước đứng đầu về thể thao ở khu vực Đông Nam Á,
một số môn có thứ hạng cao tại các giải thể thao Châu Á và thế giới.
Để thực hiện phương hướng, nhiệm vụ trên, các cấp uỷ đảng và chính quyền cần lãnh đạo thực
hiện tốt những việc sau:
1. Tạo cho được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính
8. Tăng cường đầu tư của nhà nước cho lĩnh vực thể dục thể thao, ưu tiên cho việc phát triển thể
dục thể thao ở trường học, ở nông thôn và miền núi.
Các địa phương cần có biện pháp tích cực nhằm huy động nguồn đóng góp, đầu tư của xã hội để
phát triển thể dục thể thao. Thực hiện nghiêm túc việc quy hoạch đất đai cho hoạt động thể dục
thể thao ở xã, phường, trường học.
15
9. Ngành Thể dục thể thao, các bộ, ngành và địa phương có liên quan cần góp phần với tinh thần
tích cực nhất việc chuẩn bị về mọi mặt để tổ chức tốt nhất SEA Ganes 22 (năm 2003) và thi đấu
đạt thành tích cao tại SEA Ganes, tăng cường công tác tuyên truyền giao dục, vận động nhân dân,
nhằm đảm bảo các mục tiêu chính trị, văn hoá, ngoại giao. Cần có kế hoạch và biện pháp bảo
quản, sử dụng có hiệu quả các công trình, cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao sau SEA
Games, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để có thể đăng cai Đại hội thể dục thể thao
Châu Á và các giải thể thao quốc tế khác.
Dưới sự chỉ đạo của Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng của Bộ, ngành, trước hết là Bộ
Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá – Thông tin, Bộ
Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Y tế, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương
Đoàn thanh niên Công sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm phối hợp và hỗ trợ ngành Thể dục thể thao
xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển sự nghiệp thể dục thể thao đến năm 2010.
Các tỉnh, thành uỷ có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra công tác thể dục thể thao với những
chỉ tiêu, biện pháp cụ thể. Cần đưa nhiệm vụ phát triển thể dục thể thao vào chương trình phát
triển kinh tế - xã hội và văn hoá của mỗi địa phương
Ban Khoa giao Trung ương, Ban Cán sự đảng Uỷ ban thể dục thể thao có trách nhiệm giúp Ban Bí
thư hướng dẫn và kiễm tra việc thực hiện Chỉ thị.
Chỉ thị này được phổ biến đến chi bộ để tổ chức thực hiện.
T/M BAN BÍ THƯ
đã ký
Phan Diễn
16
9/ Tài liệu tham khảo:
STT TÊN TÀI LIỆU TÁC GIẢ NĂM XUẤT BẢN
17
10/Mục lục:
TT Nội dung Trang
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Đặt vấn đề
Cơ sở lý luận
Cơ sở thực tiễn
Giải quyết vấn đề
Kết quả
Kết luận
Một số kiến nghị và đề xuất
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Mục lục
1
1-2
3
3-8
8-9
9-10
10
ký
19
ký
PHIẾU CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2012-2013
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD&ĐT ĐẠI LỘC
- Đề tài:
- Họ và tên tác giả:
- Đơn vị:
Điểm cụ thể:
Phần
Nhận xét
của người đánh giá xếp loại đ tài
Điểm
tối đa
Điểm
đạt
được
1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề
1
3. Cơ sở lý luận 1
4. Cơ sở thực tiễn 2
5. Nội dung nghiên cứu 9
6. Kết quả nghiên cứu 3
7. Kết luận 1
Điểm
tối đa
Điểm
đạt
được
1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề
1
3. Cơ sở lý luận 1
4. Cơ sở thực tiễn 2
5. Nội dung nghiên cứu 9
6. Kết quả nghiên cứu 3
7. Kết luận 1
8.Đề nghị
9.Phụ lục
1
10.Tài liệu tham khảo
11.Mục lục
12.Phiếu đánh giá xếp loại
1
Thể thức văn bản, chính tả 1
Tổng cộng 20đ
Căn cứ số điểm đạt được, đề tài trên được xếp loại :
Người đánh giá xếp loại đ tài
(Người thứ Hai, ký và ghi rõ họ tên)
21
Mẫu SK2
(Tờ số 2)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
22
Mẫu SK323